Búp bê song sinh xuống trái đất – truyện vừa của Milutin Djurickovic

Ngừoi dịch: Nguyễn Thị Thùy Linh

ĐÔI CHÚT VỀ NHỮNG NGƯỜI HÀNG XÓM

Những người hàng xóm của chúng tôi rất đáng yêu, nhưng lại hơi vụng về. Ở bên dưới tầng chúng tôi sống hẳn là gã đàn ông béo nhất thị trấn này. Đó là ông Nikos. Bụng ông ấy to như cái toa xe lửa gắn vào phía trước. Ông ấy cố gắng giảm cân bằng mọi cách; như chơi cờ vua, đánh bài, thay chiếc giày màu khác, tiết kiệm điện, nhưng chẳngăn thua.

Ông ấy nổi tiếng khắp vùng. Ông ấy cao lớn và rất béo, với cặp lông mày rậm và  bộ ria mép màu đen, và ông chẳng bao giờ ra ngoài mà không kèm một bánh xăng-đuých lớn hay bánh rán mứt cả. Ông bảo nặng kí thế này cũng tốt, vì ông có thể dễ dàng nhảy hơn là đi. Dù quá béo phì, ông Nikos được cả xóm quý. Ông ấy rất thích ăn. Mỗi ngày đều là một bữa tiệc hoặc ngày lễ với ông ta. Ông ấy ngấu nghiến mọi thứ trên bàn ăn bằng con mắt thèm thuồng. Ông ấy thường xuyên bị ợ hơi, lau miệng bằng ống tay áo, nhưng điều đó chẳng thể ngăn ông tiếp tục nhồi thức ăn vào bụng. Câu tục ngữ yêu thích của ông là:

Đến cả chó cũng phải nghỉ sau bữa ăn. Những gì anh có thể ăn ngày hôm nay, đừng để dành đến ngày mai. Có thực mới vực được đạo.

Dù sao đi nữa, ông ấy vẫn rất nhanh nhẹn. Ông thích đi dạo ngoài trời và hay đi câu cá. Vài người hàng xóm có lần nói, sau một bữa ăn khổng lồ, ông ấy ra hồ câu và nướng tất cả số cá bắt được, sau đó về nhà nói với vợ rằng, đó là một buổi đi câu bất thành. Sau mỗi bữa ăn, ông ấy phải ăn thêm chút bánh và nhân táo ngọt. Đôi lúc ông còn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Tất cả những sự kiện ăn uống của ông – đó đã thành một câu chuyện rồi đấy!

Còn người hàng xóm phía bên kia đường, một phụ nữ già và đáng kính, cũng nổi tiếng vì là một ca sỹ hát opera. Bà thường kểvớibà chúng tôi về sự nghiệp tầm quốc tế của mình, dù hầu hết mọi người đều biết rằng bà sang nước ngoài chỉ để chăm sóc cho đứa cháu ngoại vì con gái bà kết hôn với một người ngoại quốc. Thậm chí bà còn khoe khoang khoác lác một cách công khai về bức hình trên báo của bà để chứng minh cho sự nổi tiếng tự phong.

Tuy vậy, cha chúng tôi đã đọc những tờ báo này và xác nhận đó thực sự là ảnh của bà. Cơ mànội dungchỉ là một bài quảng cáo kể từ thời gian bà bị mất tích đâu đó, gia đình bà đã đăng báo tìm người lạc. Tôi vẫn còn nhớ sự hoảng loạn khi cả khu xóm tập trung trước cửa nhà bà, những tiếng thét rùng rợn và tiếng ú ớ phát ra từ đó. Người ta nhấn chuông, đập cửa và báo cảnh sát ngay lập tức, cam đoan rằng người hàng xóm của mình đã gặp rắc rối gì rồi. Tuy nhiên một lúc sau đó, bà nhẹ nhàng mở cửa và bình thản nói:

  • Lạy Chúa, có chuyện gì thế? Các người không thấy rằng tôi đang cố luyện giọng sao…

Chúng tôi ít quan tâm tới bà sau đó. Có thời gian, bà lui về ở ẩn, một mình thưởng thức những cung bậc của dòng nhạc cổ điển. Ông Jack sống bên cạnh đó. Ông lại là một câu chuyện khác. Ông là huyền thoại sống đích thực duy nhất của toàn bộ khu nhà. Ông khoe mẽ rằng mình là người dân có trình độ học vấn cao nhất, một chuyên gia hàng đầu. Ông được biết tới là một thợ điện tự động đáng gờm cho tới khi thị lực của ông bắt đầu suy giảm. Ông nhất quyết không đeo kính, đó là nguyên nhân của vấn đề. Ông đã sớm bị đuổi việc, bởi ngày càng nhiều khách hàng phàn nàn rằng chiếc xe hơi của họ bỗng dưng bị bốc cháy do lắp đặt kém. Ông Jack tiếp tục phân bua đó không phải lỗi của mình, nhưng vô ích.

Từ đó, ông Jack thường đi câu cá, và mỗi cuối tuần ông lại tới dòng sông đề bầu bạn với những dân chài. Ông ấy yêu thích công việc này và thậm chí còn khẳng định có một lần ông ấy nhìn thấy từ xa dân chài có thể đánh bắt cá bằng một chiếc cần câu như thế nào, câu lên thứ gì đó mà bản thân ông không có thể kéo lên được. Điều đó có thể bởi do ông còn chẳng có dụng cụ câu nào cả. Các bạn hãy tới đây, đó là những người hàng xóm của chúng tôi.

Chúng tôi sẽ chẳng thay đổi họ cho thế giới này đâu. Họ vẫn luôn dành sự tôn trọng tuyệt vời tới bà, bố và mẹ chúng tôi, và họ cũng yêu anh em tôi tha thiết, như thể chúng tôi là con cái họ vậy.

CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI ĐƯA THƯ

Người đưa thư của chúng tôi, ông Kosta, khá nổi tiếng và được chòm xóm yêu mến. Ông cao và trông lóng ngóng trong bộ đồng phục nhăn nheo và mũ lưỡi trai đội ngược, ông đi từ nhà này sang nhà khác đưa phiếu lương hưu, thư từ, bưu thiếp, bưu kiện, hóa đơn và các hàng hóa khác. Ông có thói quen uống quá chén bằng một tách cafe và liên khúc tán gẫu, như là ông thích gọi đến để làm vậy. Gia đình tôi chỉ mời ông một lần và không bao giờ tái diễn! Vì sao ư? Bởi khi ông đã quá say xỉn, ông sẽ chẳng thấy đường về nữa đâu.

Sau khi rút ra bài học từ kinh nghiệm này, chúng tôi không bao giờ mời ông vào nữa, chúng tôi gần như chỉ hé cánh cửa đủ để đưa tay ra lấy thư, rồi đóng ngay lại. Người đưa thư già Kosta chẳng thích điều này chút nào cả.

  • Đúng là cái gia đình kỳ cục! Trời đất ơi, như thể trên người ta có rận vậy! – ông nói.
  • Không đâu, nhưng chúng tôi phải làm vậy! – bà trả lời, khúc khích cười sau cánh cửa khép.

Ông Kosta không thích, hoặc ông không còn có thể làm nhiều việc nữa. Khi ông phải nghỉ hưu non, hầu hết chẳng ai buồn về điều đó cả. Có một câu chuyện được kể lại không biết bao nhiêu lần về một bức điện tínchuyển cho người hàng xóm khi người bạn ông này chúc mừng ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ.

Đưa bức điện tín, Kosta chúc mừng người hàng xóm và hết lời ca tụng.

  • Xin lỗi, ông có thể ký vào giấy xin nghỉ ốm của tôi được không? – ông hỏi chủ nhà.
  • Tôi không hiểu ý anh là gì.
  • Ơ, thế ông không phải bác sỹ đó sao?
  • Ồ, tôi là tiến sỹ ngành sư phạm. Chứ không phải là một bác sỹ, nếu ý ông là thế…
  • Thế loại tiến sỹ nào có thể ký giấy nghỉ được?! – Người đàn ông phản đối và lao ra khỏi nhà.

Tôi không biết đó là do sự lơ đễnh, tuổi tác, hay bởi quá chén mà người đàn ông đưa thư đã không chuyển thư một cách chính xác. Thời điểm trước đó, không ai nghi ngờ gì về ý thức trách nhiệm trong công việc của ông, bởi mọi thứ đều đảm bảo đúng. Tuy nhiên trong thời gian này mọi thứ bắt đầu thay đổi và xuống dốc.

Một ngày, khi hai chúng tôi đang ở trường học và bố mẹ chúng tôi vẫn đang làm việc, người đưa thư Kosta mang phiếu lương hưu cho bà tôi và lại đi tiếp. Như thường lệ, bà ký phiếu và đi mua sắm ở cửa hàng tạp hóa ngay sau đó.Ngày hôm sau, ông Kosta lại đến và đưa một khoản tiền lớn cho bà, giải thích đó là một loại quỹ lương chưa thanh toán và cả tiền tăng lương hưu. Cả nhà chúng tôi đều mừng lắm và đi mua sắm ngay. Mỗi chúng tôi đều sắm thứ gì đó: bà có tivi và dép đi trong nhà, gạc bông cho cha, đồ trang điểm và cafe cho mẹ, em trai và tôi có giày và kẹo gôm.

Chúng tôi đang thích thú về sự phong phú của đồ ăn thức uống mấy ngày này, thì đột nhiên người đưa thư Kosta xuất hiện và giận dữ hét vào cửa:

  • Này bà lão, trả tiền cho tôi đây!
  • Tiền gì cơ? – bà hỏi.
  • Tiền bà đã lấy vào mấy hôm trước…
  • Nhưng đó là lương hưu của tôi!
  • Không phải của bà đâu, bà cầm của người khác đấy…
  • Người khác ư? Nhưng chính anh đã đưa cho tôi mà…
  • Dù bà đã tiêu nó rồi, thì bà cũng phải trả lại!

Người đưa thư biện bạch rằng ông ấy đã không đeo kính vào hôm ấy và đó là lý do tại sao ông lại chuyển tiền hưu cho bà hai lần. Chúng tôi phản đối và thể hiện sự bất mãn vô ích, cha tôi phải bằng cách nào đó bù lại số tiền đã tiêu. Nhưng chưa hết. Không lâu sau, có một cuộc hỗn loạn và mâu thuẫn lớn xảy ra trong gia đình tôi, khi mẹ đọc một bức thư có chứa một đơn kiện yêu cầu cha của chúng tôi xác nhận một đứa trẻ sơ sinh nào đó là của ông ấy.Lá đơn này được ký nhận bởi một người phụ nữ nào đó trong công ty của cha và đã làm mọi thứ rối tinh lên.

  • Anh ta nên biết xấu hổ cho việc này! – bà tôi rất tức giận, hơn nữa chúng tôi lại bất ngờ có thêm thành viên trong gia đình, lại thêm chi phí bổ sung nữa.

Không hiểu hết những gì đang xảy ra, em trai và tôi cứ quẩn quanh bên mẹ và bà, luôn miệng hỏi những câu như:

  • Em ấy sẽ có tên là gì ạ?
  • Ai sẽ đưa em tới nhà trẻ?

Mẹ khóc và van chúng tôi hãy dừng lại, bởi chúng tôi chỉ xát thêm muối vào vết thương lòng của mẹ mà thôi. Mẹ đã thực sự giận giữ và thất vọng. Bà cố gắng thăng bằng lại tình trạng căng thẳng và khó chịu này, nhưng vô ích.

  • Nếu đó không phải cặp sinh đôi, thì không thể nào là con của anh ta đâu! Mẹ có thể thề rằng như vậy! – bà quả quyết nói.

Thật may là cha đã không về thẳng nhà sau giờ làm việc, cha còn lang thang ở nơi nào đó dọc con phố, nếu không chỉ có Chúa mới biết mọi việc sẽ kết thúc thế nào. Cuối cùng khi cha xuất hiện, căn nhà như chết lặng. Quá đỗi ngạc nhiên và không quen với những điều thế này, cha bâng quơ hỏi:

  • Có chuyện gì thế? Ai chết?
  • Không ai chết cả, nhưng có người được sinh ra đấy! – mẹ cáu kỉnh, nhìn xoáy vào mặt cha.
  • Ai sinh ra cơ? Tốt quá!
  • Con gái của anh…
  • Sao em không nói chứ? – cha đáp lại với một nụ cười, nhìn những điều này như một trò đùa. – Nào giờ hãy mang thứ gì cho anh ăn với…
  • Anh có nghe tôi nói gì không hả? – mẹ nhắc lại.
  • Dĩ nhiên anh nghe thấy rồi, còn em có nghe thấy anh đang đói và mệt không? – cha nói, vẫn không hiểu gì khi ngồi xuống.

Bà cắt ngang cuộc tranh luận và sự hồi hộp bằng việc đưa cho cha đơn kiện và giải thích ngắn ngọn nội dung của nó là gì. Cha đột nhiên cau mày, sắc mặt cha thay đổi và cha bắt đầu đọc một cách dữ dội. Chúng tôi đều nóng lòng chờ xem phản ứng của cha thế nào, đồ rằng cha sẽ thú nhận sự thật. Mẹ rõ ràng đang rất khó chịu, trong khi bà run rấy nói với Cha lần nữa:

  • Nói gì đi chứ! Con nghĩ sao về chuyện này?

Khi đọc xong lá thư, cha bình tĩnh ngồi xuống một cái ghế bành và thờ ơ trả lời:

  • Lão Kosta điên khùng lại làm rối mọi việc lên một lần nữa. Ông ta thật quá điên rồ! Chúng ta sẽ giải quyết mấy chuyện vớ vẩn này ngay lát nữa thôi, nhưng làm ơn cho anh ăn đậu Hà Lan đã…

Hóa ra, Cha tôi đã đúng, và người đưa thư Kosta đã chuyển lại lá thư đó cho một triệu phú. Không lâu sau vụ việc này, ông ấy đã nghỉ hưu và cuối cùng chúng tôi cũng có một người đưa thư mới và không làm bất cứ một sai sót nào.

NHỮNG KHÁM PHÁ TRIẾT HỌC CỦA CHÚNG TÔI

Ngay từ lúc còn nhỏ, em trai và tôi đã thường bàn luận và tư duy về thế giới xung quanh. Trong suốt khoảng thời gian những đứa trẻ khác lăn nghịch trên cát, chơi đuổi bắt hay trốn tìm, chúng tôi đã xử lý những bài đọc và những lý giải nghiêm túc về các vấn đề của cuộc sống.Em trai quan tâm đến khoa học tự nhiên còn tôi quan tâm đến các khía cạnh xã hội nhiều hơn. Thế nhưng chúng tôi lại có cùng một thái độ và quan điểm trong nhiều cách nhìn. Nếu buổi sáng cho thấy ngày đang tới sẽ ra sao, thì hiển nhiên chúng tôi cũng sẽ là những học giả và nhà tư tưởng trong tương lai.

Em trai tôi từng nói nó sẽ nghiên cứu thiên văn học và triết học, nhưng cha tôi lại khuyên:

  • Cái đó chẳng dùng để làm gì cả. Con chắc chắn sẽ gia nhập vào trường Vô Dụng đấy – cha từng nói vậy, cười, không hiểu thậm chí một chút nào, về sự hiếu kỳ nghiên cứu của chúng tôi.

Ngoài lịch sử và triết học, tôi còn quan tâm đến tội phạm học, và cha cũng có một lời nhận xét đặc biệt:

  • Con không thể tham gia lớp tội phạm học bởi tuổi thơ có tội của mình được!

Chúng tôi chẳng hề tức giận vì cha rõ ràng không hiểu cho những khát vọng của hai đứa. Ngược lại, chúng tôi còn tận tâm hơn cho những sáng tạo khoa học của mình. Không phải tôi muốn khoe khoang đâu, nhưng trong lĩnh vực ấy chúng tôi đã đạt được những kết quả nhất định trong một số lý thuyết triết học liên quan đến những nguyên tắc của cuộc sống và những lời khuyên cụ thể.

Theo cách giới chuyên nghiệp thường làm, chúng tôi bảo vệ các phát minh và quan điểm của mình tại các cơ quan bản quyền. Bằng cách này chúng tôi có thể tránh được sự lạm dụng và sao chép xào xáo, chuyện diễn ra thường ngày ở đất nước tôi và cả trên thế giới nữa.

Nhân đây, tôi xin kể một vài định lý cơ bản từ các lý thuyết triết học đề cập đến một số vấn đề chung trong cuộc sống hằng ngày: Nếu hôm nay bạn gầy và mỏng mảnh, ngày mai bạn vẫn sẽ như vậy mà thôi. Bất kể giới tính, tôn giáo và chủng tộc nào, một con khỉ vẫn mãi là một con khỉ. Đừng tin bất cứ người nào nói dối bạn. Trước khi đi ngủ bạn bắt buộc phải tháo giày, cả kính nữa. Con đường tới các vì sao thường gai góc và do vậy bạn không nên đi chân trần…

Cha tôi không hiểu lắm về những thành tựu của chúng tôi, và chúng tôi cũng không trách gì ông. Nhưng mẹ luôn nói rằng sẽ cho nó một cơ hội nào đó, khi mẹ được nghỉ ngơi và đang cótâm trạng tốt. Duy chỉ có bà là hiểu chúng tôi ở một mức nào đó. Bà còn tuyên bố rằng chúng tôi sẽ là những nhà khoa học đầy hứa hẹn thậm chí còn vượt xa cả triết gia Socrates.

Không giống những người khác, bà thi thoảng thể hiện sự quan tâm nồng nhiệt tới những việc chúng tôi xử lý trong lúc rảnh. Khi bà trông thấy chúng tôi ở giữa những trang viết và những cuốn sách mở, bà luôn miệng hỏi:

  • Các cháu, ổn cả chứ? Có muốn ăn hay uống gì không? Sao các cháu không đi chơi đâu đó như các bạn nhỏ khác nhỉ?
  • Hãy để chúng cháu yên đi, bà. Chúng cháu chỉ mới đang trên rìa của những khám phá khoa học vĩ đại mà sẽ đem tới lợi ích cho toàn nhân loại đấy – chúng tôi nói vậy, dù bà chắc chắn không thể hiểu được.
  • Thế nó nói về vấn đề gì vậy, bà có thể biết chứ?
  • Chúng cháu đang xét tới những vấn đề mang tính toàn cầu sau đây: tại sao nước biển có quá nhiều muối, mà lại chẳng có tí hạt tiêu nào cả? –chúng tôi trả lời bà, phác thảo những phát hiện và những sự thật không thể chối cãi.
  • Những tụi điên rồ khi còn trẻ, cuộc sống tràn đầy niềm vui – bà nói, dồn sự chú ý tới một điểm nào đó mà chỉ bà mới biết.

Bởi lý do này hay khác, chúng tôi ngày càng gần kề với quyết định cuối cùng để nghiên cứu triết học khi thời gian đã tới. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng mình có thể góp phần tạo nên một khóa học mới trong lĩnh vực khoa học này, dựa trên các giả thuyết và định lý của chúng tôi. Tuy vậy những người bạn của chúng tôi dường như không hiểu gì về nó cả, thường xuyên giễu cợt. Một số còn nói chúng tôi nên hiểu rõ đó là một công việc tồi tệ bởi nó chẳng có tác dụng gì cả.

Dĩ nhiên, chúng tôi chẳng bao giờ tức giận và thông cảm cho sự hoài nghi của họ. Dẫu sao, ngay đến cả những triết gia vĩ đại cũng từng phải đối mặt với vô vàn những phản kháng và sự dè bỉu về môi trường xã hộinơi họ sống và làm việc, vậy thì tại sao chúng tôi phải là một ngoại lệ chứ.

(còn tiếp)

NTTL

(dịch)

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết khác