Cô giáo Trâm – Truyện ngắn: Vũ Thảo Ngọc

Ngày ấy cũng đã hơn hai mươi năm, câu chuyện ra đảo của Trâm đúng là một cơn ác mộng. Đang yên đang lành thì… theo chồng ra đảo. Mà cái hòn đảo ấy có gần gũi và trù phú gì cho cam. Một hòn đảo xa xôi nhất tỉnh. Gia đình, đồng nghiệp đều bảo vợ chồng Trâm – Hùng đúng là “hâm”, vì về đất liền mới khó chứ ra đảo thì rõ là chỉ có… hâm. Thời buổi người ta biết chọn việc, chọn chỗ rồi, mình lại… đâm đầu ra đảo để định cư. Chỉ có thể là hâm hâm mới thế. Nhìn trên bản đồ thì hình thù hòn đảo như cái thoi dệt vải. Nhưng ở trên đảo thì nó mênh mông lắm, chứ không phải như cái hình thù vẽ trên bản đồ. Chính vì hình cái thoi ấy mà Hùng phải thuyết phục Trâm ba năm nàng mới đồng ý theo chồng ra đảo. Hòn đảo hình thoi đó có tên hòn Mỵ. Không biết có tên từ bao giờ, chỉ biết dân chài quanh vùng này đã gọi như thế từ khi họ đặt chân lên đây. Nhưng hòn Mỵ chỉ là nơi cho ngư dân neo thuyền khi có bão gió chứ chả ai lên đảo ở cả, vì thế nó chỉ là hòn đảo do đơn vị bộ đội đóng quân nên có người còn gọi là đảo bộ đội.

Nhưng thông thường thì vẫn gọi hòn Mỵ. Cũng vì thế mà khi đã ổn định với anh chồng bộ đội là lính “đảo bộ đội” thì Trâm sinh con gái đầu lòng và đặt tên con luôn là Mỵ. Con bé Mỵ quen với sóng gió nơi hòn đảo xa xôi này nên nó cũng ngăm ngăm đen như bố nó. Cả đơn vị bộ đội đều bảo, đúng là giỏ nhà ai, quai nhà nấy. Trâm thì bật cười, sao nó giống cha nó như đúc, mặc dù Trâm có nước da trắng trẻo chứ đâu đen đúa nắng gió như Hùng.

Và cũng đã ba năm vợ chồng Trâm đến đảo, con Mỵ đã bi bô gọi bố, gọi mẹ. Đơn vị bộ đội có thêm mấy cô vợ lính bồng con theo chồng nên cái xóm nhỏ trên đảo giờ cũng vui ra trò, ríu rít tiếng chí choé của bọn trẻ con làm cho xóm đảo như rộng hơn, mênh mông hơn và ấm áp hơn. Trâm đã tốt nghiệp sư phạm, đang là cô giáo trong đất liền, mà lại là cô giáo dạy tiếng Anh. Học trò ở đảo không có thì cô giáo tiếng Anh coi như bị thất nghiệp. Ban đầu ra đảo thì chỉ có ngồi ôm con, buồn nẫu ruột. Rồi con lớn chút thì tự cuốc đất, trồng rau, chăn nuôi mấy con lợn, con gà góp cùng bếp ăn của bộ đội. Thế rồi, cũng khuây khoả khi đã gắn bó với cái góc đảo Mỵ mênh mông giữa biển trời này. Phần nữa thêm mấy cặp vợ chồng nên xóm đảo không thấy bị sự cô đơn bủa vây của nước, của gió, của nắng và của… vô vàn nỗi cô đơn khác.

Thêm người, thêm việc, các anh chồng làm nhiệm vụ rồi, các cô vợ thì tăng gia sản xuất và chăm đàn con thơ. Rồi xóm đảo đông dần khi một số ngư dân quanh vùng thấy có khu gia binh đến định cư thì cũng kéo đến lập xóm chài. Sau thì phải gọi xóm Mỵ Nam và xóm Mỵ Bắc để phân định ranh giới của dân cư xóm đảo. Trâm vì thế mà được trở lại nghề dạy học mà cô say mê. Thì biết làm sao khi mà thành phần học sinh đủ mọi lứa tuổi trên đảo, đứa mới mẫu giáo, đứa vào lớp một, con của ngư dân vừa lên đảo thì hầu như chưa đi học bao giờ, nhưng bơi lặn thì giỏi như đàn cá dưới biển. Trâm đã tập hợp được một lớp học mươi học sinh. Những gương mặt đen đúa vì gió nắng. Những đôi mắt đen láy nhìn cô đầy ngưỡng mộ. Những cái miệng răng sún cất lên ngọng nghịu khi đánh vần… Ôi, một lớp học mà Trâm chưa bao giờ hình dung nổi.

Nhưng với niềm say mê công việc nên Trâm đã biến lớp học thành một thánh đường chữ nghĩa. Chả biết từ đâu tuôn ra mà trong đầu Trâm bỗng nảy ra biết bao nhiêu câu chuyện về đảo Mỵ, núi Mỵ, huyền thoại ở đâu đó cứ nhập vào đầu cô và mỗi khi giảng xong bài toán, hay hướng dẫn giờ tập đọc, tập viết cho các em là cô Trâm lại say mê kể chuyện về đảo Mỵ. Rằng ở nơi đây từng là một vương quốc của loài hoạ mi. Chúa đảo ngày xưa đã rất yêu loài chim này và đã dụ được loài chim này từ khắp mọi miền về đây. Ngày đó hòn đảo này cũng trù phú và sầm uất lắm, chim hoạ mi bạt ngàn và hoa lá, lúa ngô đầy đảo, cá tôm thì nhiều vô kể. Đảo ngày đó cũng rất đông người ở, nhưng có một trận cuồng phong đã quét sạch mọi thứ trên đảo như một giấc mộng. Những ngư dân quanh vùng chỉ nghe ông bà xưa kể lại, chỉ biết rằng từng có một hòn đảo là vương quốc của chim hoạ mi từng hiện diện ở đây. Không ai đếm xuể những đàn hoạ mi nối đuôi nhau về đảo này. Đúng như  người xưa nói, đất lành chim đậu là thế. Vương quốc hoạ mi sẽ tồn tại mãi nếu như không có trận cuồng phong bất ngờ và dữ dội ấy…Rồi rất lâu sau, hòn đảo lại hồi sinh, có cây cỏ trồi lên, chim muông kéo về, nhưng ngư dân không dám bén mảng lên đảo ở vì rất sợ có cơn cuồng phong trở lại. Tên hòn Mỵ là do cách phát âm của người vùng này có âm vực nặng của miền biển nên đọc chệch đi mà ra, chứ thực ra nó có tên là đảo Hoạ Mi. Câu chuyện cô giáo Trâm kể với bao nhiêu huyền thoại ở đó đã bồi đắp tâm hồn cho lũ trẻ đầu tiên của làng đảo. Những câu chuyện của cô vừa dung dị vừa nhuốm màu cổ tích nên bọ trẻ thích nghe và từ đó thích đến lớp học cô Trâm hơn.

Bây giờ thì khác rồi, đảo Mỵ đã đông đúc, chim muông kéo về đầy đảo, cá tôm thì nhiều vô kể, dân làng đảo đã đông dần lên. Những đứa trẻ nghe chuyện cổ tích đảo Mỵ của cô giáo Trâm nay đã lớn, vạm vỡ như những đứa con của biển ăn sóng nói gió. Đã như đàn chim bay bốn phương trời. Có đứa ra nước ngoài học tập và làm việc. Có mấy đứa con nhà ngư dân đã học xong trở lại đảo làm lãnh đạo xã, lãnh đạo huyện. Thời gian nhanh thật. Hòn Mỵ ngày nào như cái đầu trẻ con chưa kịp mọc tóc, giờ thì không nhận ra nếu ai từng như cô Trâm đã đến bám đảo từ hơn hai mươi năm trước. Ngày hai mươi tháng mười một là ngày vui nhất của cô Trâm. Năm nào cũng thế, cô ngập tràn hạnh phúc vì học trò đủ mọi lứa tuổi thành phần đến chúc mừng. Thằng Tráp, con Nhụ, cái Đé, tên của mấy đứa giản dị là tên của các loài cá biển nơi đây, học hết cấp hai, thời đó ở đảo chưa có trường cấp ba nên ở nhà làm nghề biển, giờ cả mấy đứa ngày xưa ngọng nghịu nhất lớp ấy đều  là chủ của những sạp hàng hải sản lớn nhất nhì đảo. Và năm nào cũng thế, cái Đé luôn dẫn đầu đoàn gọi cô, giọng nó vang to từ cổng như muốn át cả tiếng sóng biển ngoài kia:

– Cô ơi, chúng em đến chúc mừng cô. Năm nay mất mùa cá tráp, cá nhụ, chỉ trúng mỗi mùa cá đé, em biếu cô cả mẹt luôn.

Cả bọn cùng đấm lưng nhau cười như pháo rang. Căn nhà cô Trâm chật tiếng cười. Vui quá thành ra lại bật khóc vì hạnh phúc mà không phải ai cũng có được. Cô Trâm vừa khóc vừa cười, mái tóc cô đã điểm bạc, năm tháng nhọc nhằn với đảo như làm cô thêm già hơn cái tuổi của mình. Nhưng nụ cười cô thì vẫn tươi như ngày nào dạy lũ trẻ làng đảo lần đầu tiên đến lớp học chữ.

Cả lớp tụ tập về nhà cô Trâm thì đứa nào cũng nhắc đến học trò tên Bá. Nhà Bá nghèo nhất đảo. Khi Bá biết đến lớp học chữ là lúc bố mẹ Bá cùng bị cơn cuồng phong của biển cướp đi mãi mãi. Cô giáo Trâm đã nâng đỡ Bá từ khi cậu chập chững đầu tiên đó. Cô đã bằng mọi cách để đưa cậu vào đất liền để được học ở trường nội trú con mồ côi của tỉnh. Rất may Bá đã nghe lời cô, năm nào cậu cũng là học sinh giỏi và đạt được nhiều thành tích học tập. Mỗi khi có niềm vui là thể nào Bá cũng viết thư về cho cô Trâm để báo cáo thành tích cho cô chú yên tâm về mình. Cô Trâm và chú Hùng cũng coi Bá như đứa con dứt ruột của mình, mỗi khi về làng đảo, Bá chỉ biết về nhà cô chú Hùng. Nỗi buồn mất cha mẹ đã không làm cho cậu nhụt chí đi mà như làm cho cậu thêm kiên cường hơn trước bão táp cuộc đời. Giờ Bá đã là sĩ quan quân đội, cậu ra trường là xin về với đảo và lấy vợ ngay ở hòn Mỵ luôn. Mỗi dịp lễ, Tết là Bá dẫn vợ con đến chúc mừng cô Trâm và chú Hùng như con cái trong nhà. Bá vẫn nói với cô Trâm và các bạn rằng, nếu không có cô Trâm thì đời cậu không thành người. Nếu không có tình yêu của cô Trâm luôn luôn truyền lửa cho lũ học trò tình yêu về hòn Mỵ thì chắc Bá đã không quay về đảo và cái chính là Bá không hề biết về hòn Mỵ sâu sắc nếu như cô Trâm không nói về nó trong những ngày học vỡ lòng ở hòn Mỵ. Bá vẫn nói với mọi người rằng, dù đi đến góc bể chân trời nào thì Bá vẫn luôn thấy hòn Mỵ cứ như lâu đài tráng lệ có một không hai mà ta không thể không quay về. Bây giờ hễ có dịp được nói về hòn Mỵ là chàng sĩ quan trẻ ấy lại nói như lên đồng những huyền thoại về hòn Mỵ, những câu chuyện của cô Trâm được thổi bùng thêm khi Bá đã biết hoá thân vào đó cùng những tri thức mà Bá tích luỹ và có lẽ, tình yêu với hòn Mỵ của một người trẻ, một người như Bá, có lẽ còn hơn cả cô giáo Trâm!

Còn cô Trâm và cả chú Hùng chỉ có ngồi ngây ra với trạng thái đầy xúc động. Chú Hùng thì luôn nhận lỗi với cô Trâm:

– Anh xin lỗi vì anh mà em phải ra đảo. Lẽ ra màu da em vẫn trắng như sữa, thì phải chịu đen sạm lại. Lẽ ra giọng em dịu dàng nhẹ nhõm thành ra nặng nề giọng của người miền biển…

Nghe chồng nói thế, cô Trâm chỉ ôn tồn nói:

– Anh không có lỗi, nếu ai cũng chọn ở đất liền thì nói làm gì, chúng mình đã trải qua cả tuổi thanh xuân ở đây, đã có một đàn học trò trưởng thành thế kia, chúng mình phải tự hào về nhau. Em tự hào về anh, em phải cảm ơn quyết định lôi em ra đảo với anh chứ.

Cả hai động viên nhau âm thầm nhưng mãnh liệt. Họ như hai trái núi đổ bóng vào nhau và đổ bóng vào những công dân trên hòn Mỵ ngày một vững chãi và sum sê hơn. Năm nay mùa biển đông vui hơn vì cái Mỵ đã cùng nhóm bạn mở tuor du lịch có tên là Homestay, một dịch vụ rất mới mà du khách khá thích thú. Nhà cô giáo Trâm lúc nào cũng đông khách nhất. Cô còn có thêm vốn tiếng Anh chuẩn nên khách nước ngoài lại càng thích thú được lưu trú ở nhà cô. Câu chuyện cô kể ngày xưa giờ thành lời dẫn tuor cho các cháu làm du lịch khiến du khách đều rất thích thú. Cô Trâm như trẻ ra vài tuổi. Hạnh phúc mỉm cười với vợ chồng cô không phải ở nhà cao cửa rộng, xe ô tô đời mới, mà ở ngay chính ngôi nhà bình dị trên hòn Mỵ với tiếng cười không ngớt của du khách, của học trò cũ về thăm cô.

Ngày mai và ngày mai nữa, hòn đảo chắc sẽ còn nhiều khách về thăm và còn nhiều niềm vui tràn vào ngôi nhà cô nữa. Hòn Mỵ giờ như bông hoa vạn sắc màu giữa biển khơi, chỉ khoảng hơn giờ đồng hồ đi tàu cao tốc là từ đất liền sẽ cập bến hòn Mỵ. Nhiều lúc cô Trâm nghĩ tới ai đó nói mình hâm hâm thuở đôi mươi khi lựa chọn ra đảo lập nghiệp, bất giác cô lại bật cười. Mắt cô ngân ngấn giọt nước mắt hạnh phúc. Hòn Mỵ trong mắt cô như hòn ngọc trai lung linh của biển trời Đông Bắc, vật báu mà ông trời ban tặng, như chỉ dành cho riêng cô.

V.T.N

.

.

.

.

 

Bài viết khác