Có phải là hai thái cực – Tham luận về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn của Ngọc Châu

Nhân việc ngày mai (25/10/2018) Hội NVHP tổ chức cuộc thảo luận về thơ Nguyễn Đình Minh, xin đăng lại bản thâm luận về thơ của hai nhà thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn của dich giả Ngọc Châu .viết trong cuộc hội thảo lần trước (năm 2011)

CÓ PHẢI LÀ HAI THÁI CỰC?

(Suy nghĩ về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn)

 

Nhân việc ngày mai (25/10/2018) Hội NVHP tổ chức cuộc thảo luận về thơ Nguyễn Đình Minh, xin đăng lại bản thâm luận về thơ của hai nhà thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn của dich giả Ngọc Châu .viết trong cuộc hội thảo lần trước (năm 2011)

 

CÓ PHẢI LÀ HAI THÁI CỰC?

 

(Suy nghĩ về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn)

Nhiều người cho rằng Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn thuộc về hai thái cực. Một cực của bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống, và một của việc cách tân, muốn “xoá nhoà ranh giới giữa văn xuôi và thi ca” như chính Mai Văn Phấn đã trả lời phỏng vấn của Tạp chí Thi Bình – tạp chí văn thơ hàng đầu Hàn Quốc – trong Festival thơ tổ chức ở xứ sở Kim chi mới đây.

 

Quen với Mai Văn Phấn từ lâu, cũng nhiều lần trao đổi với nhau về việc dịch thơ nên tôi biết anh viết lục bát rất sành điệu, các loại thơ có vần khác cũng thế, có điều không thích viết mà thôi. Nhà thơ, theo Mai Văn Phấn “phải là nhà văn hoá. Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên, và tới một hoàn cảnh “hữu duyên” nào đó, nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca. Lúc ấy tứ bài thơ vụt đến bất ngờ, tưởng như “của nhặt được”, nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó từ lâu”

 

Thơ hiện đại ít chú trọng vào nhịp điệu, tu từ, đặc biệt tránh dùng mỹ từ – cũng theo quan điểm của Mai Văn Phấn – Nhưng, những câu văn xúc tích, giản dị được đặt trong một “từ trường thơ”, có sức mạnh thôi miên gấp nhiều lần những câu mang nhịp điệu quen thuộc”.

 

Ta có cả triệu người yêu thơ và làm thơ. Người viết bài này (không dám gọi là tham luận vì tự nghĩ mình xa lạ với sân chơi trí tuệ mang tên phê bình văn học)  cũng đã bỏ thời gian la cà ở khá nhiều CLB thơ để có thể đưa ra nhận xét rất công bằng, rằng đại đa số các chiếu thơ bây giờ là của “phe” thơ ca truyền thống, với hai thể loại chính là thơ luật Đường và Lục bát. Và, các chiếu thơ này khá dị ứng với “phe” cách tân.

 

Xưa nay chuyện cách tân vốn không phải do toàn xã hội tự dưng tiến hành đồng loạt, bao giờ cũng có một số ít người đi trước, làm trước nên việc nhóm người này phải chịu đựng chê bai, dè bỉu ở những bước đầu tiên là truyện không tránh khỏi. Là nhà thơ cách tân nên Mai Văn Phấn phải chấp nhận chuyện đó nhưng anh luôn say sưa và bền bỉ “lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất – MVP”

 

Đã có nhiều bài viết về hai nhà thơ chúng ta đề cập hôm nay đăng ở trên các ấn phẩm cũng như các website văn chương. Cuộc Hội thảo tới đây sẽ lại có nhiều tham luận nữa nên tôi không bàn về chuyện thơ và con người Mai Văn Phấn như thế nào, cũng tương tự như vậy với Đồng Đức Bốn. Chỉ thêm mấy câu ngắn ngọn về nhà thơ lục bát khá nổi tiếng từ sau giai đoạn Nguyễn Bính mất đi đến nay như sau:

 

Lấy ý của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Đồng Đức Bốn thuộc vào diện “nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống. Thơ anh dị ứng với những cách tân bí hiểm trừu tượng. Sự hiện đại trong thơ Đồng Đức Bốn là ở nội lực bên trong của từng câu thơ. Thơ anh chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được “quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát“. Cũng theo nhận định của nhà văn này “cái hay trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là sự chất phác giống như ca dao, có sự ngậm ngùi của tình cảm và cả những kinh nghiệm sống chua xót của một người nhà quê trí thức lang bạt kỳ hồ chen lẫn vào“.

 

Không cần làm cuộc khảo sát cũng biết chắc chắn một điều rằng thơ Đồng Đức Bốn được nhiều người đọc và nhớ tới – ở chiếu thơ nào cũng thế – vì Hồn Việt vốn sơ khởi từ những bài ru ca được nghe từ lúc chúng ta còn nằm nôi, mà các bài ru ca ấy không giống như thơ Mai Văn Phấn.

 

Xin trở lại với vấn đề đã nêu, là việc trả lời cho câu hỏi: Đó có phải là hai thái cực? Và cũng chỉ dám trao đổi đôi điều với những người cùng yêu thơ với tư cách một người yêu thơ mà thôi.

 

Nhìn vẻ ngoài (hay hiện tượng) thì có vẻ như vậy, khá nhiều người cũng nghĩ như vậy. Ngay phông nền văn hóa của hai nhà thơ này cũng khác nhau rõ ràng. Nguyễn Huy Thiệp – người hiểu khá sâu về Đồng Đức Bốn, đã giúp việc tuyển chọn và viết lời giới thiệu cho tập thơ đầu tay của nhà thơ lục bát cho rằng “anh có thể chưa học hết phổ thông trung học, vốn liếng từ vựng chỉ quãng 600 từ” và nhận định thêm:  “Lục bát là một thể loại thuần dân tộc nhưng những đỉnh cao của nó bao giờ cũng là một hợp chất, một tích hợp. Nguồn mạch ca dao trong thơ Bốn rất thuần khiết nhưng chưa có những nhân tố lạ để tạo nên một hợp chất mới… So với những nhà thơ lục bát ngộ năng tiền nhiệm như Nguyễn Bính, như Bùi Giáng thì Đồng Đức Bốn có phần phú quý giật lùi: anh ít học hơn, chật hẹp hơn…” Trong khi đó Mai Văn Phấn có đủ phông nền cần thiết của một nhà thơ hiện đại: đủ bằng cấp, nói viết tiếng Tây như Tây, một “viên chức nhà Đoan” (giống nhà thơ Xuân Diệu trước kia) có điều kiện giao tiếp với đủ mọi loại khách thập phương, trong cũng như ngoài nước.

 

Những điểm nêu trên cũng chỉ là cách đánh giá theo bề mặt. Riêng tôi muốn chọn một góc nhìn khác cho vấn đề này, muốn tìm cội nguyên, tìm sự tiệm cận và giao thoa của hai trường phái.

 

Tìm tòi như thế liệu có phải là chuyện lập dị hay không? Không lập dị chút nào nếu thử đọc các định nghĩa trả lời cho câu hỏi “Thơ Là Gì?”.

 

Nhiều lắm, có đến hàng trăm định nghĩa, nào “Thơ là bức họa bằng những màu sắc chọn lọc; Thơ là bản nhạc dệt bằng những âm thanh tinh tế” – “Thơ, là tiếng lóng của các thiên thần và những con quỷ“, “Thơ – là hồi trống ngang ngạnh trước cánh cửa của cái chưa biết” rồi “Thơ, là một ngôi nhà lớn âm vang đủ mọi giọng nói về một cái gì điên rồ và huyền diệu” hoặc đơn giản hơn  “Thơ thường được coi như là cái gì đẹp – đẹp như Thơ”…

 

Trong vô vàn các định nghĩa tôi xin lưu ý tới một câu:” Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này.” (trích của bác Phan Ngọc – bài đã đăng ở Tạp chí Văn học, 1994)

 

Nó được gọi là quái đản vì đáng lẽ có thể thông tin dễ dàng bằng văn xuôi với nhau rằng “Con cò ngã xuống ao vì đậu lên cành nhỏ lúc đi ăn đêm”, có điều nói như vậy thì chẳng mấy chốc người ta sẽ quên, chẳng ai nhớ tới chuyện này. Bằng cách tổ chức ngôn ngữ quái đản – hơi khó thực hiện một chút – để chuyển thành “con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” thì người ta nhớ đến muôn đời!

 

Theo góc nhìn này thì cả thơ Mai Văn Phấn lẫn Đồng Đức Bốn cùng một cội nguyên, tức là đều bỏ công để tổ chức ngôn ngữ khác thường nhằm bắt người ta phải nhớ và cảm xúc. Hơn thế hai trường phái còn có nhiều điểm tiệm cận giao thoa lẫn nhau. Nói theo ngôn ngữ nghề nghiệp thì đều cùng phải tìm ý, tứ thì mới viết ra được một bài thơ.

 

Để mọi người thấy rõ hơn về điểm này tôi xin thử hoán đổi cách viết của hai nhà thơ. Đầu tiên là chọn ba bài thơ của Mai Văn Phấn, giả dụ cùng với ý tưởng đó thì một người thích làm thơ lục bát sẽ viết chúng ra sao. Lần lượt thử với từng bài:

 

Giai điệu xuân

(Nguyên thể của Mai Văn Phấn)

(Thử chuyển sang lục bát)
Nhỏ trên đá sắc

Cơ thể em đau

Thánh thót mở toang từng giọt

Trong hơi ẩm nồng nàn

Hạt nắng chảy vào em

Mùa nước về rạng rỡ

Con ong rạch đường bay

Gió lên thẳng đứng

Cây cao vươn bóng anh

Chim bồ câu ra ràng

Sương đêm côn trùng tỉnh dậy

Lũ nấm rơm mở mắt

Trùm lên non nớt xanh

Thánh thót từng giọt mở toang

Nhỏ trên đá sắc thấm ngàn nỗi đau

 

Nồng nàn ẩm, nắng chảy vào

Em rạng rỡ mùa nước sâu đang về

 

Rạch đường bay cánh ong kia

Gió thẳng đứng, cây vươn chìa bóng anh

 

Trùm lên những non nớt xanh

Mắt nấm mở, bồ câu nhanh ra ràng

Đêm sương, côn trùng hát vang.

 

Tuy một bên có vần, một bên không nhưng sau khi đọc, đọng lại trong lòng độc giả chỉ là Tứ thơ (Ý đã nằm trong tứ rồi) mà Tứ ở hai cột trái phải là hoàn toàn như nhau.

 

Với bài:

 

Gió thổi

(Nguyên thể của Mai Văn Phấn) (Thử viết theo thể lục bát)
Chúng mình hôn nhau trong hành lang hẹp

trên cỏ xanh, trong những góc tối

trên tháp chuông, bên gốc cây cổ thụ…

Bốn bề nước tràn ướt chân

lúc ấy gió thổi rất mạnh.

Con sâu đo em đu lên người anh

thì thầm gặm hết những xanh non

Con ong vẫn nhởn nhơ bay

thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm

nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía.

Hành lang hẹp mình hôn nhau

Tháp chuông, góc tối, bãi nhàu cỏ xanh

Gốc cổ thụ,  đu cổ anh

 

em – sâu đo gặm non xanh – thầm thì.

Nước tràn qua chân kể chi

 

Nhởn nhơ ong vẫn bay đi bay về

Thác đổ đều, mưa chậm ghê

Nhưng cây chỉ đổ ngọn về một phương

 

Có những tứ thơ không dễ hiểu, dễ nắm bắt như trong bài Để nhận ra anh (trích trong tập anhanhemem) nhưng nếu viết bằng lục bát vẫn cứ được:

 

Để nhận ra anh

(Nguyên thể của Mai Văn Phấn) (Thử chuyển sang thể lục bát)
Em ngủ say không biết

anh đang nhìn hạt m­ưa

bóng tối xơ xác ngoài cửa sổ

tán cây đè nặng ngực mình…

chợt thấy con đư­ờng

tự nghiêng trong đêm.

Ẩn hiện hôm qua trong hơi thở em:

một bảng tin mới quét

gánh hàng rong, đám c­ưới qua đư­ờng

buổi tan ca, vài con cá ngáp

một họa sỹ mới để râu đến chơi…

Nhữ­ng ngọn thác câm lặng đang đổ xuống rất mạnh

những đế giày chuẩn bị vỡ tung

chân tư­ờng mở cánh cửa thoát hiểm

bụi mư­a phùn hay châu chấu bay qua

cả ngôi nhà lao đi chóng mặt

sửng sốt, rã rời khi gặp bình minh…

Anh bấm số điện thoại tư­­ởng tư­­ợng

để em biết mọi điều từ trong giấc mơ.

 

Ngủ say em đâu biết rằng

Nhìn mưa, tán lá đè anh nặng người

Xác xơ cửa sổ ngoài đời

Đường tự nghiêng, giữa đêm trời tối đen…

 

Ẩn hiện trong hơi thở em:

Gánh hàng rong cạnh bảng tin phố phường

Tan ca, cá ngáp bên đường

Mới để râu, khách họa dường như quen…

 

Thác đổ mạnh mà lặng im

Sắp vỡ tung đế giày mềm đến nơi

Chân tường cửa thoát mở rồi

Châu chấu bay hay mưa rơi bụi mờ

Ngôi nhà lao đi trong mơ

Rã rời, sửng sốt ánh mờ bình minh…

 

Bấm một số phôn linh tinh

Báo em biết rõ tình hình trong mơ.

 

Giờ ta lại thử hình dung một người làm thơ cách tân, khi có những ý tưởng giống Đồng Đức Bốn thì bài thơ sẽ được thể hiện như thế nào. Xin nói trước rằng NC ít nghiên cứu về thơ cách tân nói chung (và của riêng MVP) vì thực lòng đó không phải là ‘gu” của mình nên không dám nói rằng MVP sẽ chuyển tứ thơ của ĐĐB thành như thế nào.

 

Dưới đây chỉ là một vài giả định trong chừng mực Ngọc Châu và những người không hay làm thơ cách tân có thể viết thành mà thôi, nêu ra với mục đích chính là để giải thích cho câu hỏi “Có phải là hai thái cực?”

 

Chọn thử ba bài thơ của Đồng Đức Bốn.

 

Chợ buồn

(Nguyên thể Đồng Đức Bốn) (Thử viết theo thể cách tân)
Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em.
Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày.
Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu.
Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư.
Chợ buồn bán niềm vui

Em đi mua chút ngậm ngùi

Bán cho quên chút nhớ

mưa cho nắng, đêm cho ngày.

tỉnh cho say.

Cho tình yêu cả đời này thương nhớ

Bao nhiêu xa cách

Chiều tương tư đổi lấy những vần thơ.

 

Không nói tới khía cạnh cô đọng hoặc rườm rà trong mỗi loại thơ, vì thơ có vần truyền thống đôi khi phải có những từ không thực sự cần thiết về ý tứ nhưng cần cho việc gieo vần, ta thấy tứ của hai bài như nhau, nên những gì đọng lại trong lòng người đọc là giống nhau.

 

Thử với bài thứ hai:

 

Đàn tì bà bỏ quên

(Nguyên thể Đồng Đức Bốn)

(Viết theo kiểu cách tân)

Bỏ quên thì cứ bỏ quên
Đàn tì bà đó cái tên vẫn còn.
Dây một gảy khúc chon von
Dây hai gảy khúc trăng tròn ngắm hoa.
Dây ba gảy lúc người ta
Đói cơm rách áo vẫn là của nhau
Dây tư gảy khúc buồn đau
Nhắc ai còn nhớ tới câu hẹn hò
Bốn dây thành một con đò
Chở tôi tới giữa đôi bờ Trương Chi.

Cây đàn tì bà bị bỏ quên

Cái tên không mất.

Khúc chon von dây một

Dây hai trăng tròn ngắm hoa

Đói cơm rách áo, vẫn bên nhau

gảy dây thứ ba

Dây tư

khúc buồn đau, nhắc câu hò hẹn.

Cả bốn dây làm con đò,

đi giữa đôi bờ Trương Chi.

 

Tiếp một bài nữa

 

Đi đò

(Nguyên thể Đồng Đức Bốn) (Viết theo thể cách tân)

Cầu gẫy mới phải đi đò
Thế nên gặp gió thổi cho rét lòng.
Con đò nửa mặt trăng cong
Chênh vênh trên một dòng sông lở bồi.
Mái chèo cứ nhẹ thế thôi
Không là đứt ruột gan tôi bây giờ.
Mái chèo trên sóng làm thơ
Đỡ cho cánh vạc bơ vơ xuống dòng.
Chốc nữa thế nào cũng giông
Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa.
 

Gẫy cầu, đi đò

Rét lòng gặp gió

Con đò nửa mặt trăng cong

Chênh vênh trên sông lở bồi

Nhẹ thế thôi, mái chèo ơi

Đừng làm tôi đứt ruột

Hãy làm thơ trên sóng

đỡ cho cánh vạc bơ vơ

Trời xa kia đang mưa

và dông gió đang chờ.

 

 

Khi chuyển từ thơ cách tân sang thể lục bát, khách của chiếu thơ cổ truyền dễ dàng chấp nhận vì nắm ngay được Tứ thơ. Nhưng tôi cũng không nghĩ là mình ngộ nhận khi nói rằng chuyển từ thơ lục bát sang thể cách tân thì bài viết ra không còn là thơ nữa.

 

Hai cột hai bên đều là thơ, người dễ tính còn có thể cho là thơ hay nữa. Chỉ mong hai tác giả thông cảm cho rằng đôi chỗ có thể đã hiểu không đúng ý của MVP cũng như của ĐĐB khi chuyển thể. Điều đó có thể miễn thứ vì Ngọc Châu  không phải là con giun trong bụng hai thi nhân ấy, nếu không có điều kiện hỏi thật kĩ thì làm sao biết được việc ở chỗ nào có đoạn ruột thừa?!

 

Tất nhiên có trường hợp do người chuyển kém cỏi không hiểu được ý tứ sâu xa của tác giả mà ra, mà cũng có thể do lỗi của tác giả đã không tìm được cách để cho người đọc hiểu đúng ý mình. Không ngoại trừ cả việc chính tác giả (nhất là MVP) muốn như vậy để giữ cho thơ của anh có vòng hào quang huyền bí bao che (Phật chỉ thiêng khi người ta đứng xa khấn vái, chiêm ngưỡng qua khói nhang, hoàn toàn không thiêng tí nào với anh thợ điêu khắc gỗ chuyên đẽo tượng đem bán)

 

Tạm cho rằng với khả năng của một dịch giả, Ngọc Châu đã dịch thơ Việt sang thơ Việt đúng ý tưởng và mang chất thơ của mỗi tác giả (tự người chuyển thể không thể nghĩ ra). Dù chọn cột phía nào, tứ thơ của cả hai thi nhân Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn đều hay, đều có điểm tương đồng trong việc “tổ chức ngôn ngữ quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ bởi chính hình thức tổ chức ngôn ngữ” của họ.

 

Thêm một nhận xét là các nhà thơ dù chọn phong cách viết như thế nào thì ý tưởng và cách làm việc của họ luôn luôn tiệm cận và có những điểm  giao thoa với nhau bởi đối tượng tác động của họ đều là người đọc, dù “gu” của độc giả không giống nhau chăng nữa.

 

Đến đây tôi nghĩ đã có thể đưa ra câu trả lời rằng không nên coi Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn là hai thái cực. Họ chỉ là hai nhánh của một bộ sừng hươu. Mọc ra trên cùng một cội nguồn là cái đầu của con hươu, chỉ đem lại cho Con người-Độc giả những lợi ích mà thôi. Tùy “gu” sử dụng của mỗi người mà có thể dùng vào mùa xuân để có nhung bồi bổ, dùng vào mùa thu nấu cao chữa bệnh, hoặc kiên nhẫn đợi đến mùa rụng gạc sẽ có cặp sừng hươu làm vật  trang trí cho phòng khách “model” quí tộc của mình.

 

Vậy thì nhánh bên trái chẳng có gì phải dị ứng với nhánh bên phải và ngược lại. Cả hai nhánh đều quí và cần thiết như nhau. Trong tâm thức của người làm thơ lẫn độc giả nếu xác định được điều đó thì hãy cứ say mê với công việc sáng tạo cũng như thưởng thức của chính mình. Uống quen chè thảo mộc rồi nhưng thỉnh thoảng cũng nên làm một li cà phê (pha hơi đắng) để thấy cuộc đời của chúng ta thật đa phong vị.

 

Nhân đây cũng xin nói thêm vài câu về chuyện dịch thơ nước ngoài sang tiếng Việt. Lâu nay ít thấy người dịch thơ Tây thành thơ có vần (nhất là sang thể lục bát), có lẽ do các giáo sư dạy văn chương ở nước ngoài hay khuyên du học sinh Việt Nam không nên dịch như vậy, vì làm như thế thì mọi tác giả sẽ mất đi bản sắc và trở nên giống nhau. Tôi thì cho rằng chính vì các bậc thầy ấy là người nước ngoài nên khi đọc thơ Việt Nam họ bị mê hoặc bởi vần điệu và nhạc tính của thơ Việt mà giảm mất khả năng nắm bắt tứ thơ.

 

Họ quen đọc thơ bằng bộ não là chính. Còn với người Việt chúng ta, ngoài cái đầu ra, phần nhiều thưởng thức thơ bằng trái tim và tâm hồn, tính nhạc trong thơ vô cùng quan trọng với người Việt, chắc rằng không ai có thể nhầm lẫn giữa thơ lục bát của Nguyễn Du với Nguyễn Bính, cũng như với Đồng Đức Bốn.

 

Xin được kết thúc trao đổi này cùng với niềm tin rằng nhà thơ Mai Văn Phấn sẽ vững bước đến cùng trên con đường cách tân, đạt được nhiều thành tựu mới. Cũng xin chúc các nhà thơ bảo tồn luôn bảo lưu được giá trị của thơ ca truyền thống và hy vọng rằng Thi đàn Việt Nam sẽ nhanh chóng có vài ba cây bút viết thơ lục bát xứng đáng đứng vào vị trí còn bỏ trống sau khi anh Đồng Đức Bốn phải xa đền Thơ – ngôi nhà lớn âm vang đủ mọi giọng nói về một cái gì điên rồ và huyền diệu của chúng ta.

 

Tháng 5-2011

N. C

Bài viết khác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *