Gió thổi từ “Thung lũng gọi hồn”: Bút ký của Lý Tá Mẩy

Gần 40 năm, tính từ ngày “tiếng súng đã vang khắp bầu trời biên giới” phía Bắc Tổ quốc 17 tháng 2 năm 1979, những cựu binh của mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) nói riêng và cả tuyến biên giới phía Bắc nói chung đã già theo năm tháng. Mắt họ đã mờ, chân họ đã chậm theo vòng xoáy mưu sinh. Nhưng, với gần 2000 liệt sỹ nằm lại tại chiến trường này, họ vĩnh viễn không thêm tuổi, vẫn mãi mãi mười tám, đôi mươi. Họ gắn bó với đất thiêng biên giới, trong tiếng gió u u thốc lên từ cái thung lũng hun hút dưới chân điểm cao 468 ở lưng chừng núi Nậm Ngặt, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên. Cái thung lũng đã từng là một trong những trận địa ác liệt và giờ đây, nó được đồng đội các anh gọi là “Thung lũng gọi hồn”. Những linh hồn trai trẻ, những giọt máu đào, những mảnh vụn thịt da trai tráng… đã hòa tan trong đất đai sông núi làm nên địa danh “Thung lũng gọi hồn” ấy. Gió cứ u u, u u thổi. Lau cứ phơ phất, phơ phất vẫy… Và các anh nằm lại đó, giữ đất, giữ đường biên. Giữ và nhắc cho người đời sau bài học về tinh thần cảnh giác, về lòng yêu nước không hạn định của người Việt Nam nơi biên cương Tổ quốc.
Đã có cả một khoảng thời gian dài, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc ít được nhắc đến. Bởi thế, 39 năm qua, nhiều người không hình dung được cuộc chiến ấy đã diễn ra gian khổ và khốc liệt ra sao, thậm chí có bạn trẻ còn không biết địa danh Vị Xuyên nằm ở tỉnh nào trên bản đồ đất nước. Nhưng với những người lính đã từng chiến đấu trên khắp các điểm cao của mặt trận biên giới phía Bắc ngày ấy và cả những người Việt yêu nước chân chính, cuộc chiến tranh chống quân bành trướng Trung Quốc là cuộc chiến không bao giờ phai, quên, dù phải chờ đến hơn 30 năm sau, (vào chừng năm 2011), lần đầu tiên, tại cuộc gặp mặt Ban liên lạc Cựu chiến binh mặt trận Vị Xuyên, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, người trực tiếp chỉ huy chiến dịch khi đó công bố những con số đầy ám ảnh. Trong các trận tham chiến chống lại sự xâm lấn lãnh thổ Việt Nam của quân Trung Quốc, để bảo vệ biên giới Vị Xuyên đã có hơn 4.000 chiến sĩ hy sinh, hơn 9.000 thương, bệnh binh thuộc 9 sư đoàn chủ lực cùng nhiều đơn vị bộ đội của ta trực tiếp chiến đấu. Xót xa hơn khi hiện vẫn còn hơn 2.000 liệt sĩ nằm rải rác khắp chiến trường Vị Xuyên chưa quy tập được hài cốt. Trong các nghĩa trang, còn đó những dãy mộ liệt sỹ chưa tìm được tên. Các anh vẫn nằm đâu đó trên chiến trường này, nơi những vách đá dựng đứng, những hang sâu thăm thẳm, bên những bụi cây, ngọn cỏ; xương thịt các anh đã hòa tan trong đất mẹ tạo nên sắc xanh hun hút của “Thung lũng gọi hồn” nơi mảnh đất vùng biên viễn.
Con đường mòn quanh co với vô vàn khúc cua tay áo không cản được đôi chân của những nghệ sỹ trẻ đến với điểm cao 468, nơi đặt Bia tưởng niệm các chiến sỹ hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên giữa cái lạnh tê tái của mùa đông biên giới. Các cao điểm 1509, 1100, 772, 685, Đồi Đài, Cô Ích, Bốn Hầm… đã từng diễn ra những trận đánh vô cùng quyết liệt để bảo vệ biên giới của bộ đội Việt Nam với quân bành trướng Trung Quốc cứ nhấp nhô như sống lưng khủng long dọc dãy núi đá vôi trước mặt chúng tôi.
Lịch sử như một cuốn phim quay chậm. Ngược về gần 40 năm trước, ngày 17 tháng 2 năm 1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt tấn công vào 6 tỉnh phía Bắc, xâm lấn biên giới Việt Nam, có nơi, chúng lấn vào sâu trong đất liền tới 50km bằng chiến thuật “biển người, thọc sâu phá hoại”. Thành phố Lào Cai, Cao Bằng, một phần thành phố Lạng Sơn (khi đó những thành phố này là thị xã) của ta bị quân Trung Quốc san phẳng. Lửa bùng cháy trên những bản làng. Máu của đồng bào ta đã đổ. Nhiều lâm, nông trường, đồn biên phòng (ngày đó gọi là công an vũ trang) bị chúng tàn sát. Trước tình thế đó, quân, dân ta đã kiên cường đánh trả. Cuộc chiến chống lại bè lũ bành trướng xâm lược diễn ra với vô vàn trận chiến ác liệt. Bằng nghệ thuật “chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều”, lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào các dân tộc 6 tỉnh biên giới đã đánh bật quân Trung Quốc. Ngày 18/3/1979, chúng buộc phải rút quân. Tuyên bố rút là một chuyện, thực chất quân Trung Quốc vẫn duy trì lực lượng đánh phá biên giới Việt Nam. Cuộc chiến giữ đường biên, giữ đất đai cương thổ của quân dân ta vẫn tiếp diễn suốt 10 năm sau đó, đặc biệt dữ dội từ tháng 4/1984 đến tháng 5/1989. Mười năm trời, súng nổ không ngừng dọc biên giới phía Bắc. Trung Quốc huy động bộ binh, pháo binh, lần lượt đưa hơn 50 vạn quân của 8 trong 10 đại quân khu, một lực lượng binh, hoả lực lớn gồm 4 tập đoàn quân, 4 quân đoàn độc lập thuộc 8 đại quân khu của Côn Minh, Thành Đô, Nam Kinh liên tục tấn công chiếm một số điểm cao ở vùng núi Hà Giang, Tuyên Quang, lấn chiếm biên giới nước ta. Ác liệt nhất tại mặt trận Thanh Thuỷ, Vị Xuyên, Hà Giang với âm mưu vẽ lại đường biên giới của Trung Quốc kéo sang tận phía bắc suối Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam. “Lịch sử quân sự Việt Nam” còn biên rất rõ “Những trận chiến ác liệt trên mặt trận Vị Xuyên là một phần cuộc chiến tranh phá hoại, một dạng chiến tranh đặc biệt cả về phương thức tác chiến, vũ khí sử dụng, thời gian và không gian của quân Trung Quốc. Vừa dùng máy bay, thám báo, biệt kích luồn sâu sang đất Việt Nam nắm tình hình, vừa kết hợp bắn cấp tập pháo cối, chế áp các điểm cao, các trục đường giao thông, Trung Quốc xua lực lượng bộ binh tấn công lấn chiếm đất ta. Cách đánh của chúng không theo quy luật, không kể ngày đêm, tập trung mật độ lớn với mức độ huỷ diệt vào những khu vực trọng điểm như đồi Đài, Cô Ích, cao điểm 685, Cót Ép, khu 4 hầm. Số lượng đạn, pháo cối Trung Quốc bắn sang trận địa Việt Nam mỗi ngày trung bình từ 10.000 đến 20.000 quả. Có ngày (7/1/1987), chúng bắn tới trên 65.000 quả. Chỉ trong khoảng thời gian hơn 5 năm (1984-1989), lượng đạn pháo Trung Quốc bắn vào Hà Tuyên đến trên 2 triệu quả, trong đó 60% là đạn cối, tập trung vào hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ của huyện Vị Xuyên chỉ với khoảng diện tích 20 km²”. Với mỗi người Việt Nam, những con số này không tồn tại một cách vô hồn trong những trang “Lịch sử quân sự” bởi nó là những con số nhắc nhớ về cái giá của hòa bình; là câu trả lời của người dân Việt Nam với quân bành trước Trung Quốc khi đó, rằng Trung Quốc đã lầm! Đạn pháo, biển người, mưu sâu kế hiểm không chỉ nhận sự chống trả quyết liệt từ một lực lượng lớn gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ của Việt Nam mà còn phải đối đầu với sức mạnh của truyền thống giữ nước kiên cường của quân dân Đại Việt. Chính những lúc vận nước rơi vào thế hiểm, lời dặn của cha ông xưa như lời nhắn nhủ của Hoàng đế Trần Nhân Tông “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác” lại vang vọng trong trái tim những người dân Việt. Cuối tháng 6/1984, Việt Nam quyết định phản công. Dọc 6 tỉnh biên giới phía Bắc, quân ta bố trí lực lượng khoảng 30 vạn người. Mặt trận Vị Xuyên – Thanh Thuỷ được xác định là vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc lấn chiếm biên giới phía Bắc. Với lực lượng ta, trong 5 năm (1984-1989), riêng hướng trọng điểm Vị Xuyên thường xuyên có 3 trung đoàn bộ binh và 2 đến 3 sư đoàn quân chủ lực. Mặt trận Vị Xuyên trở thành tên gọi chung cho cả chiến trường bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Tỉnh Hà Tuyên khi đó chia làm hai tuyến, tuyến trước là vùng chiến sự trong phạm vi tấn công lấn chiếm của Trung Quốc, trong tầm phá hoại của pháo binh, còn tuyến sau là những vùng tương đối ổn định phục vụ tuyến trước.
Đồi tưởng niệm 468 hôm nay không chỉ đón đoàn văn nghệ sỹ trẻ của Hải Dương. Quanh làn khói hương trầm nghi ngút, những cựu chiến binh một thời của trận địa này cồn cào nhớ về đồng đội. Bằng chất giọng trầm, khan, ngay bên Bia tưởng niệm các liệt sỹ hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên, một bác cựu chiến binh Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 trầm ngâm: “Ác liệt lắm. Giờ thì cây cối xanh thế kia, chứ ngày đó, chỉ thấy bột đá. Pháo của quân Trung Quốc nã xuống, pháo của ta phản kích lại. Đá bị băm nát rồi vụn nhừ, tơi ra thành bột. Có ngày, bột đá ngập tới ngang ống chân. Chiến sự diễn ra ác liệt nhất là từ tháng 10/1984 đến tháng 3/1985. Thời gian này, quân ta và phía Trung Quốc giành giật nhau quyết liệt cao điểm 685 và bình độ 300 – 400. Tháng 10/1984, ta bắt đầu tiến hành vây đánh lấn dũi, đào hào, đào công sự kiên cố, kết hợp tổ chức nhiều đợt tiến công – phòng ngự, vừa đánh vừa giữ để giành lại các vị trí bị Trung Quốc lấn chiếm. Nhiều vị trí, hai bên đóng quân chỉ cách nhau 20-30m nhưng giành giật từng tấc đất, mỏm đá hàng tháng trời. Bộ đội chúng tôi ngày ngủ, đêm xuống lại bí mật đào hào từ dốc công binh, cửa hang làng Lò, lấn sang phải là bình độ 300 – 400, sang trái lấn lên cao điểm 685, tạo thế cài răng lược, nhằm hạn chế tối đa hỏa lực của quân Trung Quốc và giảm thương vong cho anh em. Ta giành lại các điểm cao từ quân Trung Quốc rất khó khăn do địa hình bất lợi. Nhưng giành lại được chốt đã khổ, giữ chốt còn gian khổ gấp nhiều lần. Có những điểm quân ta phản kích lấy lại được điểm cao nhưng lại không giữ được vì hỏa lực đối phương mạnh. Đỉnh điểm đầu năm 1985, một ngày quân Trung Quốc bắn 30.000 quả đạn đại bác vào Vị Xuyên ở chiều rộng khoảng 5 km, chiều sâu 3 km. So sánh lượng đạn pháo ấy không kém hỏa lực Mỹ đánh vào thị xã Quảng Trị năm 1972, chỉ thiếu nước, chúng chưa cho không quân rải bom thôi. Chính thượng tướng Nguyễn Hữu An khi đó đã lên tận mặt trận để động viên tinh thần chiến sỹ và trực tiếp chỉ huy trận địa. Để tiến chắc, giữ vững, ta đã chủ trương không phản công đồng loạt mà chọn một điểm để đánh với mục tiêu giành lại và giữ vững chốt….”. Chỉ bấy nhiêu lời trong câu chuyện ngắn ngủi với người cựu chiến binh nhưng tôi hiểu, sự gian khổ, hy sinh của những người lính Vị Xuyên trong các trận chiến đấu giữ biên giới ngày ấy chắc chẳng con chữ nào bây giờ miêu tả hết.
Gió vẫn ồ ồ thốc lên từ “Thung lũng gọi hồn”. Trong đôi mắt của các cựu chiến binh đang vời vợi tới những điểm cao trên dãy núi đá nhấp nhô một thời đã từng là chiến trường ác liệt chắc chắn còn ám ảnh hình ảnh bao đồng đội với những trận đánh không khoan nhượng với quân bành trướng. Và như để minh chứng cho những gì gió đang thổn thức kể, chúng tôi dừng chân cạnh một gốc cây xù xì, bên một người cựu binh mà ống tay áo rỗng đang để gió vờn phơ phất. “Bác bị thương trong trận đánh nào hả bác?”. Chầm chậm đưa ánh nhìn rời đỉnh núi mờ xa, ông không nhìn vào tôi mà quay nhìn ngôi sao trên đài tưởng niệm. “Ngày 12/7/1984 cô ạ. Cái ngày không bao giờ nhạt trong tâm trí của chiến sỹ Sư đoàn 356 mặt trận Vị Xuyên – ngày diễn ra trận chiến khốc liệt nhất tại mặt trận biên giới Hà Giang. Trận đánh ấy của chúng tôi mang bí danh MB84. Suốt một ngày quần nhau với quân bành trướng dưới những cơn mưa đạn pháo chúng trút xuống, đơn vị tôi không lấy lại ngay được các điểm cao như kế hoạch. Đạn vơi, cả trận địa khét lẹt bởi khói thuốc súng trộn bột đá, chúng tôi được lệnh lui về phòng ngự, củng cố lực lượng, chờ thời cơ phản công để giành lại điểm cao. Chỉ riêng ngày đó, cái ngày 12 tháng 7 năm 1984 ấy, 600 chiến sĩ Sư đoàn 356 của tôi hy sinh. 12/7/1984 trở thành ngày giỗ trận của Sư đoàn 356 và cũng là ngày cánh tay của tôi nằm lại nơi này”. Mắt tôi bỗng cay không phải vì khói hương đang nghi ngút. Mắt tôi cay dường như vì gió vẫn thốc tháo ngược lên từ dưới “Thung lũng gọi hồn”.
Nhưng không chỉ có trận đánh đó, cũng như trong cuộc chiến 10 năm giữ biên cương, tại mặt trận Vị Xuyên không chỉ có trận đánh ngày 12/7/1984. Người cựu đại đội trưởng Đại đội 5, Sư đoàn 356 vừa vân vi nhớ, vừa rơm rớm nước mắt “Trận đánh giành cao điểm 685 cũng ác liệt không kém. Sau nhiều ngày đánh lấn dũi và tổ chức các đợt tiến công, ta lấy lại được cao điểm 685. Quân Trung Quốc tổ chức tấn công để lấn chiếm lại. Khi đó là những ngày giáp Tết âm lịch Ất Sửu (1985). Trận đánh giữ vững điểm E5 của cao điểm 685 bắt đầu từ ngày 12/1/1985 diễn ra trong thế giằng co ác liệt giữa ta và địch. Đến ngày 18/1/1985, cả đại đội tôi chỉ còn chưa đầy 20 người, chiến đấu với một tiểu đoàn quân Trung Quốc. Chúng cứ dừng tấn công bằng bộ binh thì pháo binh của chúng lại nã liên hồi kỳ trận xuống trận địa. Việc tiếp tế của bộ đội ta khó khăn vô cùng. Có lúc hậu cần không tiếp tế kịp. Thiếu cả cơm nắm, rau xanh, nước uống, bộ đội ta đành nhịn đói, nhịn khát ngồi trong công sự. Giữa tiếng pháo địch gầm rít, cánh lính chúng tôi ngồi kể cho nhau nghe về gia đình, về những lần đón Tết ở quê, rồi còn đố nhau xem cái Tết đầu tiên này ở mặt trận sẽ thế nào. Khi ấy tôi thấy Nguyễn Viết Ninh, trung đội trưởng bộ binh, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356 người dân tộc Mường quê xã Minh Hòa, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ lúi húi khắc gì đó lên báng súng. Hí hoáy một hồi, chàng trai người Mường lấy kem đánh răng bôi lên, rồi hồ hởi vỗ vỗ báng súng “Quân Trung Quốc dù đông nhưng đất của ta, ta quyết tâm giữ”. Dòng chữ màu trắng đục “Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử” nổi rõ lên trên báng súng của Trung đội trưởng Nguyễn Viết Ninh khi đó.
Trong lời kể của người đồng đội, trong trận đánh giữ điểm cao ấy, Trung đội trưởng Nguyễn Viết Ninh bị thương đến ba lần. Hai lần đầu, anh bị thương vào tay trái rồi vào bụng nhưng vẫn không rời trận địa. Đến đợt cuối cùng, khi quân Trung Quốc dùng nhiều loại pháo bắn phá ác liệt và cho bộ binh đông gấp nhiều lần lực lượng ta để mở đợt tiến công mới, anh Ninh bị thêm một vết thương ở chân nhưng vẫn chỉ huy đồng đội chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Khi đó, Đại đội trưởng Thái Khắc Ba sốt ruột, bảo Ninh lên cáng cứu thương để anh em đưa về tuyến sau nhưng Ninh không chịu. Đến cuối ngày, Nguyễn Viết Ninh bị thương vào đầu rồi hy sinh. Trận đó, ta giữ vững được điểm E5 thuộc cao điểm 685.
Lời thề “Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử”, khắc trên báng súng của liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh trở thành lời thề, cũng như câu nói bất hủ của anh hùng Lê Đình Chinh ngày ấy “Em xác định rằng trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc sẽ có mất mát, cái đó khó mà tránh khỏi. Nhưng em đã sẵn sàng” trở thành phương châm sống và chiến đấu của người lính Vị Xuyên trong những ngày gìn giữ biên cương phía Bắc.
Đau thương nào rồi cũng sẽ đi qua. Để có thanh bình hôm nay, dân tộc ta đã trả giá bằng rất nhiều máu xương của những binh đoàn trai trẻ. Biên giới giờ đây đã yên bình, nhưng cuộc chiến Vị Xuyên để lại cho chúng ta bài học lớn về bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ nhất là trong tình hình hiện nay. Đó chính là bài học về tinh thần cảnh giác. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu, chúng ta vẫn phải luôn luôn cảnh giác, phải luôn hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực bành trướng phương Bắc đối với chủ quyền, lãnh thổ Việt Nam. Chúng ta không kích động hằn thù dân tộc và vẫn giữ vững nền hữu nghị giữa hai nước, ghi nhớ những sự giúp đỡ tốt đẹp trong kháng chiến, nhưng càng không được phép quên những lần Trung Quốc động binh xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Chiến tranh biên giới 1979 và những sự kiện Hoàng Sa 1974, Gạc Ma 1988… là bài học xương máu nhắc nhở chúng ta hàng ngày, hàng giờ về chủ quyền dân tộc.
Gió vẫn ồ ồ thốc lên từ “Thung lũng gọi hồn”. Hơn 2000 liệt sỹ tuổi đôi mươi vẫn gửi linh hồn tại thung lũng ấy. Các anh mãi trẻ, như lời ca trầm ấm lẫn tiếng ghi ta của đồng đội các anh đang quây quần nơi đây “Đồng đội ơi, ta về với nhau… như năm xưa, ta vừa mới bên nhau, mười tám đôi mươi trời xanh biếc trên đầu”.
Gió vẫn thổi và trời vẫn xanh. Tổ quốc và nhân dân không bao giờ quên các anh, cũng không bao giờ quên những ngày đạn lửa để giữ gìn biên cương Tổ quốc.

Bài viết khác