Gió tươi – Truyện ngắn của Nguyễn Sơn Hà

 

Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn – chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Gió tươi” của nhà văn Nguyễn Sơn Hà in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước – NXB Hội Nhà văn 2014.

 

NHÀ VĂN NGUYỄN SƠN HÀ
(1939-2000)

HỌ VÀ TÊN KHAI SINH: NGUYỄN SƠN HÀ. SINH NGÀY 22 THÁNG 12 NĂM 1939. QUÊ QUÁN: XÃ LIÊM TUYỀN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM. MẤT NGÀY 25 THÁNG 10 NĂM 2000 TẠI THÀNH PHỐ THANH HOÁ. TỐT NGHIỆP PHỔ THÔNG CẤP 3 (1957), ĐI HỌC TRUNG CẤP KỸ THUẬT. CUỐI 1960 VỀ CÔNG TÁC TẠI MỎ THAN CỌC 6 QUẢNG NINH; TỪNG LÀ ĐỐC CÔNG CƠ ĐIỆN CỦA XÍ NGHIỆP. THEO HỌC KHOÁ 6 LỚP VIẾT VĂN TRẺ CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM. BIÊN TẬP TẠP CHÍ VĂN NGHỆ THANH HOÁ.

 

GIÓ TƯƠI

Học xong lớp sơ cấp lò, Thân được trên phân công đi phụ việc bác Hắc.

Bác Hắc mím đôi môi mỏng lại, căng mi mắt lên nhìn Thân từ đầu đến chân rất lâu. Rồi bác thở dài, chỉ cây cột lò bằng gỗ dẻ thật to:

– Thử xem.

Thân lấy hết sức mình, máu dồn đỏ ứ mặt, xốc cây gỗ lên cố rướn thẳng người đi vào lò. Bác Hắc nhẹ nhàng nâng bổng cây gỗ sến to lên vai rồi lặng lẽ theo sau. Bác nghĩ bụng: “Quái ở đâu ra cái ngữ công tử như nặn bằng bột thế này, đôi môi thì đỏ chót như con gái, bàn chân bàn tay chẳng có vết chai nào, quần áo bảo hộ là cứng như hộp”.

Ngày đầu tiên anh chàng Thân đẹp trai ấy tưởng như hớ hênh thế mà làm đúng kỹ thuật tăm tắp đến nỗi bác Hắc dù là tay thợ lão luyện cũng không bắt lỗi vào đâu được. Cuối ca, bác hừ một tiếng rồi lẳng lặng ra về.

Hôm sau, trước lúc nhận ca, bác Hắc được gọi lên phòng kỹ thuật hàng giờ. Không biết trên phổ biến những gì mà lúc về lò, đôi mắt màu tro xám căng lên, bác nói với Thân vẻ quan trọng lắm: “Công việc thì khó đấy nhưng làm được thì xứng mặt thợ lò, anh cứ theo bàn tay tôi”. Bác Hắc giơ đôi bàn tay quá cỡ, sần sùi những chai sẹo làm cho Thân vừa tin tưởng vừa gờn gợn. Thân gặng hỏi thêm mãi, bác Hắc chỉ trả lời cụt lủn:

– Tìm đường trong ruột đất.

Thân còn muốn hỏi nữa thì bác Hắc đã bổ mạnh chiếc búa chém vào cột lò; nhát búa ngọt lừ, chỉ hai nhát đã thành cái ngàm cột chống.

Cuối ca một, vào lúc hai giờ chiều, Thân lên thẳng phòng kỹ thuật để hỏi công việc cho ra nhẽ. Bác Hắc còn ở lại leo lên nóc đồi mỏ ngắm nghía địa thế như thầy địa lý. Đôi mắt bác hùm hụp, bác chẳng thấy thung lũng hoa đào trước mặt, cũng không nhìn bầu trời mùa đông. Dưới lòng đất hàng chục con sào kia, bác thấy một thành phố than lấp lánh điện mà đường phố của nó là những đường lò hình ống bương chằng chịt. Từ ngày mở thêm lò chợ 165 để tăng sản lượng than thì các lò thiếu không khí. Mỗi lần bác Hắc vào lò là thấy tức thở như bị oan ức điều gì mà không được thanh minh nên bác hay văng tục, nhưng khi ra khỏi lò là bác thở phào, ít nói. Sau cuộc họp Đảng ủy mở rộng, cuộc họp giám đốc và các bộ môn, các kỹ sư và kỹ thuật, người ta quyết định làm một lò thông gió để bảo đảm đủ gió tươi trong lò. Phòng kỹ thuật thiết kế lò gió; con gái bác Hắc là kỹ thuật trung cấp trắc địa phụ trách một tổ dẫn “đường sườn” làm tâm lò.

Chà, Nhà nước cho họ ăn để họ vẽ nhằng vẽ nhịt trên giấy. Bác Hắc nghĩ, thì họ cứ can, cứ vẽ. Còn bác, với “đôi bàn tay bóp gỗ ra nước” và đôi mắt quen nhìn sâu trong lòng đất ba chục năm nay, chẳng thèm theo thiết kế của họ, bác cũng đã nhìn thấy con đường lò gió đi thế nào rồi. Con gái bác, cô Phương, mấy hôm nay thức đêm tợn. Đôi mắt trố ra trông vừa thương vừa buồn cười. Mới ngày nào Phương còn mặc chiếc quần chéo go rộng thùng thình, dải rút dài chấm gối mà bây giờ đã lo nghĩ những điều lo nghĩ của bác.

Học xong trung cấp kỹ thuật, Phương liền cắt nghiến ngay mớ tóc dầy, đưa đầu tóc cho người ta hơ điện quấn tít rồi thì là áo sơ mi hoa đào, quần tây kiểu con trai, làm bác ngứa mắt. Bác hừ một tiếng, toan mắng thì Phương cười lúm sâu hai đồng tiền ở má, đôi mắt tròn, khuôn mặt bầu bầu như búp bê, trông dễ thương đến nỗi bác không nỡ mắng con. Phương lại thanh minh có lý nữa: “Con đã đi làm, cần phải gọn gàng, vừa khỏi xẩy ra tai nạn vừa có năng suất”. Ừ thì hiếm hoi, có một mụn con gái, bác cũng phải cưng con chứ… Bác Hắc cười ngây ngô trên đồi. Thế nào hôm nay về, cô con gái cũng túm lấy bác, lôi đến cái tờ giấy vẽ nhằng vẽ nhịt rồi chỉ đường mở lò thông gió cho bác, đố có sai. Bác gạt phắt đi, đừng có mà trứng khôn hơn vịt. Khôn ngoan thì chỉ dẫn người ngoài…

Bác Hắc vẫn đứng trên đỉnh đồi. Chẳng cần thiết kế thiết cung gì bác cũng đã hình dung ra công việc: cái lò 52 hút gió ngoài trời sẽ đưa qua lò thông gió sắp đào, sang lò cái 112, dẫn qua lò chợ mới mở đến lò cái 180, rồi dồn gió đến máy hút khí khổng lồ ở đỉnh núi, htổi ra ngoài trời. Tổ bác Khắc từ lò 52 đào đi; tổ bác từ lò 112 đào lại độ 70 thước, hai tổ sẽ gặp nhau ở giữa. Bác Khắc đi lò này thì bác Hắc tin tưởng được. Bác Khắc là thợ lò mà thời Tây, chủ mỏ cũng phải nể… Bác Hắc ngắm địa thế đến mức con lò thông gió tương lai trong lòng đất hiện lên rõ mồn một. Hằn trong óc, rồi bác mới vác búa lên vai ra về. Bác bước cùn cụt. Bác đi nhanh nhất mỏ mặc dù thân hình “thước mốt” của bác to béo nặng nề. Những cây giàng giàng, lưỡi hổ rạp mình dưới đôi ủng của bác…

Đi qua phòng kỹ thuật, bác giật mình. Thân đang ngồi với con gái bác. Tấm lưng dài học trò của Thân cúi xuống mặt bàn trải bản đồ. Cô Phương đang cười tít đôi mắt tròn, đôi má ửng lên màu dậy thì. Bác tái mặt đi: “Biết mà, cái ngữ công tử bột ấy thì cướp gái thành thần”. Bác vẫn đinh ninh con gái cưng của bác phải dành cho những chàng trai nối được cái chí của bác: Thợ lò ra thợ lò, xốc vác, kiên nghị và hơi khắc khổ.

Hai ngày tiếp sau, từ lò 112, tổ bác Hắc đã đi được mười thước. Từ khi được phổ biến kỹ nhiệm vụ ở phòng kỹ thuật, Thân lúc nào cũng kè kè tấm bản đồ và cái la bàn mượn của Phương làm bác Hắc ngứa mắt.

Lò thông gió hãy còn là lò cụt, nóng như nồi rang, người ta phải bắc ống khí nén thổi vào, lúc nào cũng phì phì như dầu tàu hỏa xả hơi. Bác Hắc xoay trần ra cuốc đất, chống cột, bắc thiu. Tấm lưng cánh phản loáng mồ hôi. Túm lông ngắn trên bộ ngực vuông như bị độ nóng của lò sấy quăn.

Lơ đi cái la bàn treo trên cột của Thân, bác Hắc vừa làm vừa chỉ dẫn cho anh phụ việc này.

– Cứ theo lớp đá trụ là đến lò 52. Anh sợ nó trệch ngang à? Kia lớp đá trắng nhờ nhờ kia, cứ theo lớp đá kẹp đó mà đi thì không thể nào trệch được. Chỉ một tuần là “bục” thôi.

Bác Hắc nói xong lại bổ những nhát cuốc chắc nịch vào đá. Đá trong lòng đất như mềm hơn ngoài trời. Tiếng đá đáp lại “chắc chắc, thịch” như nhịp đếm cho những nhát búa nhịp nhàng. Bác Hắc khoan thai và chắc nịch cuốc lò như diễn viên lão luyện trên sân khấu.

Thân cuốc còn ngượng tay: anh nhìn bác Hắc làm mà thèm.

Cái mí hùm hụp có đôi mắt màu tro xám, bác Hắc như có phép thần biến thành đôi mắt tinh sắc lạ thường khi vào lò. Đôi tai vốn đã vểnh của bác lúc vào lò như dựng ngược lên.

Thỉnh thoảng Thân lấy la bàn kiểm tra vụng đường lò. Anh vừa ngạc nhiên vừa thán phục người thợ cả; bác Hắc chẳng để ý tới mốc trắc địa của Phương cắm mà đi lò vẫn đúng hướng.

Bác Hắc cuốc, Thân tải đất, cứ mươi phút lại thay nhau. Bác Hắc đang cặm cụi cuốc bỗng dừng lại, kêu lên:

– Có mạch nước ngầm ở cửa lò gió.

– Làm gì có, cháu vừa tải đất qua đấy.

– Đó đó, có tiếng đá “bói”, tôi nói đố sai, đừng có cãi.

Hai người chạy lại đoạn lò chống hôm trước. Một mạch nước ngầm đang rỉ ra thật. Đá đang “bói”. Những hòn đá bằng củ đậu rơi xuống nền lộp cộp. Đất đá ném xuống cột lò kêu răng rắc. Không phát hiện nhanh, đá sập cửa lò gió thì thật là chôn sống hai “thầy trò”.

Bác Hắc bảo Thân chạy ra lò cái bê chèn vào. Nhanh như cắt, bác nhét những cây chèn vào chỗ đá “bói”. Động tác của bác chính xác và chắc chắn. Chẳng mấy chốc đá hết “bói”, chỉ còn nước chảy như xối trên đầu. Cột lò vẫn bị nén răng rắc. Hai thày trò mang những cây gỗ dẻ to “đánh khuôn”. Đến lúc đã vững, Thân chẳng còn giữ ý tứ, anh cởi quần áo ngoài, đánh mỗi cái quần đùi thể thao, khai rãnh cho nước chảy ra ngoài, lò nóng làm nước bốc hơi nghi ngút như miệng nồi cơm sôi. Nước da trứng gà bóc trên thân hình cao lớn của Thân quyện với mồ hôi và bụi than nổi bật lên nền lò xám. Nếu Thân không mang kè kè tấm bản đồ và cái la bàn bên mình và hay nhắc bác hướng đi như kiểu dạy khôn thì bác Hắc đã thích tấm thân cao lớn cân đối ấy rồi. Bác Hắc còn thấy không ưa cái “lễ phép quá mức thợ lò” và cách lý luận dài dòng văn tự của Thân. Đã có lần bác nói thẳng thừng:

– Này, trong lò thiếu gió đến tức thở thì đừng có dài dòng (bác chém mạnh bàn tay quá cỡ sần sùi những chai sẹo xuống không khí).

– Thế bác không tin khoa học có thể làm giảm bớt vất vả đi ư?

– Ông thày các anh vào lò hỏi bọn già này rồi dạy cho các anh chứ lạ gì. Đừng có mang cái đó ra nạt tôi. Khoa học là những đôi bàn tay thợ lò này này.

– Các thày ấy tổng kết nhiều kinh nghiệm khác ở ta, ở nước ngoài rồi dùng tính toán cô lại thành lý thuyết kỹ thuật chứ hả bác?

Bác Hắc căng mắt nhìn Thân. “Thằng cha vừa đẹp trai, vừa tán giỏi thế, chả trách con gái bác mấy hôm nay cứ lấy cớ vào kiểm tra hướng đi của lò để đến chỗ bác xoành xoạch”. Nghĩ thế, bác nói như quát vào mặt Thân:

– Đừng có dài dòng văn tự.

*

… Đến ngày thứ năm, tổ bác Hắc đã đi được nặm chục thước lò gió. Bác Hắc và Thân trở nên căng thẳng như mặt trống ếch ngày hanh bị dùi gỗ nện mạnh. Bác Hắc thấy Thân như là “mật thám” kỹ thuật theo sát bác. Thân rất sợ bác Hắc ỷ vào kinh nghiệm một cách độc đoán rồi đi sai đường. Thân quý phục tay nghề bác Hắc thật, nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ trước sự việc coi thường kỹ thuật của bác. Đường lò cụt (vì chỉ có đường vào không có đầu ra) càng vào sâu càng nóng, cái nóng ngốt nghẹn. Khí nén thổi vào lò bao nhiêu cũng không xuể. Hai thày trò xoay trần trùng trục mà cái quần đùi lúc nào cũng ướt sũng mồ hôi. Mỗi người chỉ vào cuốc có mươi phút rồi lại thay nhau ra lò ngoài nghỉ. Cái trụ đá xít vẫn còn rõ. Những rỉa đá kẹp màu trắng nhờ nhờ như mắt mẹ ghẻ thì nhỏ dần và có cơ biến mất. Thân thấy vậy, đưa la bàn cho bác Hắc và yêu cầu bác đi theo đúng hướng bản đồ. Bác Hắc trợn mắt lên:

– La bàn của anh không bằng ba chục tuổi thợ của tôi.

Thế là bác Hắc tỏ thái độ ngay. Bác lặng lẽ cuốc. Đến giờ, Thân thay cho bác ra lò ngoài nghỉ, bác Hắc không đưa cuốc cho Thân nữa. Thân giục thì bác gằn giọng:

– Mặc xác tôi.

Thân nói mãi, bác bực mình văng tục rồi nói giọng khê nồng:

– Ngữ thân hình như bột của anh vào đây thì lò nóng nó đốt cháy mất, ra mà nghỉ.

Thân bực mình đi mượn thêm cuốc chim vào làm. Không ai nghỉ nữa. Cái ngột ngạt của sự im lặng còn nóng hơn lò cụt.

Đến nửa buổi, Phương cùng mấy anh trắc địa lỉnh kỉnh vác máy kinh vĩ vào lò. Thân giật mình thấy mình trần như nhộng. Bác Hắc dúm cả mặt lại:

– Mày vào đây đã xin phép bố mày chưa?

Phương cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị như các chị bác sĩ khám bệnh thanh niên, nhưng giọng nói vẫn nghịch ngợm, hóm hỉnh:

– Công việc ở lò thì con đã xin phép giám đốc rồi ạ.

Bác Hắc liếc nhìn Thân đang chúi vào cuốc đất không dám quay lại; ngọn lửa đèn đất tối nhờ mà vẫn thấy bả vai anh chàng đỏ như phải phát. Bác không có lý đuổi Phương ra nhưng bác lấy quyền ông bố đe nẹt:

– Ngày mai mà mày còn mặc quần tây đàn ông thì ông bảo. Con gái con lứa…

Phương soi đèn pin ngắm máy kinh vĩ rất lâu rồi kết luận:

– Đường lò đi đúng hướng đấy, nhưng bắt đầu vào chỗ “phay”, bố và anh Thân phải cẩn thận. Từ ngày mai, đất đá lộn xộn, bố phải đi đúng mốc cắm của chúng con. Bác Hắc rõ ràng còn thấy con gái liếc nhìn sau lưng Thân một cái rồi mới cùng tổ trắc địa lỉnh kỉnh vác máy đi ra…

Tối hôm ấy bác Hắc đang đẽo cán búa chém bằng gỗ sến nâu, Phương đun nước chè dưới bếp thì Thân đến nhà. Thân định tới bàn với Phương về đường lò gió. Anh chào bác Hắc:

– Bác chơi ạ!

Bác Hắc ngẩng nhìn Thân từ đầu đến chân, nghĩ bụng: “Thằng cha đẹp mã thật; tay hắn cầm tấm bản đồ cứ như thày ký ngày xưa trông đến ngứa mắt”.

Thân thấy bác Hắc không trả lời, luống cuống chào lại:

– Bác chơi ạ.

– Thời gian đâu mà chơi bời, anh không thấy tôi đang làm gì hả?

– Cô Phương có nhà không ạ?

– À anh đến chơi với con gái tôi, mời anh xuống bếp, nó đang đun nước.

Thân vừa bực vừa xấu hổ, ra về thẳng.

*

Ngày thứ bảy, theo tiến trình thì hôm nay lò thông gió sẽ “bục”. Vậy mà bác Hắc và Thân vẫn lặng lẽ nện ủng trên con đường vào lò. Bác Hắc lùn đến mức như nóc “lò hang chuột” thời Tây đè dấn đôi vai u xuống, nước da xạm lấm tấm những tàn than. Thân cao lớn, cân xứng với nóc lò cái. Miệng mỏ được chống bằng cột kim loại thời nay, nước da hồng bóng quần áo bảo hộ lao động của anh vẫn sạch sẽ, sắp đến giờ giao ca, cửa lò ồn ào những tiếng chào hỏi, tranh cãi. Hai người vẫn im lặng bước. Bác Hắc thỉnh thoảng liếc đôi mắt hùm hụp mà góc cạnh sang Thân. Thân nhìn thẳng vào gáy bác với đôi mắt mở to trong suốt.

Trước cửa lò hun hút màu xám là một thung lũng đào. Hoa đào múa theo điệu nhảy của gió. Lúc để hở những con khuyên con yến như những nắm bông mịn nhuộm phẩm, lúc ngủ màu hồng nhạt lên chúng. Đáng lẽ thung lũng đào này bị lấp đá xít nhưng đoàn địa chất cho biết dưới hoa đào là vỉa than nạc nên người ta chuyển đầu đường đổ đá thải sang một thung lũng khác xa hơn.

Đến đống gỗ lò, bác Hắc định cúi xuống vác cây dẻ to nhất thì Thân đã nâng vội lên vai mình. Bác Hắc gườm gườm nhìn lên vai Thân, hừ một tiếng, rồi đành vác cây sến nhỏ hơn vào lò. Ngoài trời lạnh là thế mà trong lò nóng hầm hập. Đi đến đoạn lò cái, mồ hôi thấm áo, bác Hắc thấy gân cốt cứng ra, bác nói:

– Anh Thân, cây gỗ sến nhỏ này nó tênh tênh trên vai làm sao ấy, đổi cho tôi cây dẻ to.

– Cháu còn có đủ sức bác ạ.

Thân vẫn thấy gờn gợn cái dáng đi lùi lũi của bác Hắc. Thỉnh thoảng họ lại tránh đoàn tàu điện chở than ra cửa lò. Như những người bay trên trời được các vì sao chào hỏi, người thợ lò dưới lòng đất được những vỉa đá triệu tuổi nghiêng mình bên họ – những người đội mũ nhựa, xách đèn đất và búa chém. Đến chỗ lò thông gió, ca đêm còn đang mải cuốc, bác Hắc phải bảo họ bàn giao. Lại cái nóng nung đỏ trái tim. Bác Hắc cuốc được vài nhát thì vỉa đá kẹp dẫn đường biến mất, lò gặp “phay”. Bác ghé tai xuống đất nghe tiếng vọng. Đôi tai bác dựng ngược. Đôi mi hụp căng lên, đôi mắt bác nhìn chằm chằm vào đá như dò hỏi. Tay bác bóp nghiến một hòn đá xít đến vỡ ra. Đất vẫn lặng, đá trơ gan và mạch nước ngầm rỉ ra cửa lò. Kinh nghiệm nghề nghiệp của bác đến đây như cũng bị “phay” cắn đứt. Đôi mắt trong suốt của Thân nhìn như thấu ruột gan bác Hắc. Tính tự ái nghề nghiệp cao làm bác đứng lặng nhưng không muốn hỏi.

Thân giữ ý. Anh khéo léo nói bác Hắc ra chỗ khí nén thổi để nghỉ rồi lấy la bàn ngắm hướng. Anh say sưa cuốc, xoay trần ra vừa cuốc vừa chống lò. Đến lúc cái nóng đốt tái người anh, bác Hắc vào thay, anh giả vờ để quên la bàn rồi nói bâng quơ:

– Chà, cứ đi theo độ xiên của trụ như bác bảo, theo đúng hướng nam thì có lẽ giữa ca một lò “bục” bác nhỉ?

Bác Hắc chẳng nói chẳng rằng, nhưng bác để bụng câu “theo đúng hướng nam”. Bác lẳng lặng vào cuốc. Đến lúc yên trí là Thân đã ra ngoài, bác Hắc cúi xuống nhìn địa bàn. Bác nghĩ thầm: “Không khéo đến xấu hổ với bọn trẻ… Ừ mà lứa thanh niên bây giờ đứa nào chả thế… miễn không phải là loại dài lưng tốn vải là được…”.

Hai thày trò vẫn lần lượt thay nhau làm. Độ nóng bỗng tăng đột ngột, thán khí bốc mù, làm ngọn đèn đất lụi hẳn như sắp tắt. Giữa lúc đó, bác Hắc nghe thấy tiếng gì mơ hồ rồi tắt ngấm. Bác ghé tai vào gương lò. Lần này bác nghe rõ tiếng thình thịch cuốc đá của tổ bác Khắc đang đào đến. Bác Hắc reo rối như trẻ con. Thân không hiểu nổi một con người nghiêm nghị, khắc khổ như bác Hắc lại vừa nhẩy vừa reo. Thân chạy ghé tai vào gương lò, mắt sáng bừng khi thấy tiếng động mơ hồ lan trong lòng đất. Bác Hắc nghênh mặt, đưa cuốc chim cho Thân rồi nói như ra lệnh:

– Bổ khỏe vào, chính giữa gương ấy cho lò bên biết đích mà đào đến.

Bác Hắc lại ghé tai nghe. Bỗng nụ cười của bác tắt nửa chừng trên môi. Bác nói với Thân:

– Ta phải đào rẽ sang bên phải nửa thước mới thẳng tâm với lò kia.

Thân ngần ngừ một lúc rồi chép miệng: “Có thể trắc địa vẫn sai số nửa thước, đó là sai số cho phép”. Lần này thì bác Hắc chỉ hướng cho Thân. Cái nóng bốc khói ra đấy nhưng không cản trở nổi nhịp độ cuốc như chim mổ gấc của hai thày trò. Nửa giờ sau, bác Hắc cuốc phải sắt đến choang một cái, chồn tay. Hai cuốc chim lò trên lò dưới bập vào nhau bửa ra một lỗ hổng bằng củ đậu. Một luồng gió lạnh như khí nén từ lò dưới phụt lên, mang theo tiếng reo hò đến phá ngực. Bác Hắc và Thân vừa reo gọi vừa bổ cuốc như máy.

Lò “bục” bằng cái mũ, cái nón rồi bằng cái nong. Gió từ lò 52 lùa qua lò thông gió vừa “bục”, đến lò 112; gió lùa như cơn giông. Mọi người tỉnh hẳn lại. Bác Khắc châm điếu thuốc lá thơm đưa qua lỗ “bục” cho bạn. Bác Hắc rít một hơi đầy lồng ngực rồi đưa cho Thân. Thân đang phanh ngực hứng gió tươi từ ngoài trời thổi vào, lặng người cầm điếu thuốc lá bác Hắc đưa cho tay run run.

Thân cảm động, lần đầu tiên anh thấy bác Hắc cởi mở hết lòng, hàm răng trắng lóa làm sáng bừng lò tối. Đôi bàn tay quá cỡ vuốt vuốt cán búa chém bằng gỗ sến quý. Thân hình thấp đậm của bác vươn về trước, nhìn thẳng hướng lò, như bức tượng đồng đen…

Chắc rằng một tác phẩm thành công đối với nhà văn cũng đến như cái lò gió với bác Hắc? Bác Hắc gọi lắp bắp:

– Bác Khắc đâu, bác Khắc sang đây. Một người từ lò kia leo sang. Bác Hắc lấy mũ lò che gió giơ cao đèn đất lên soi. Bác sững người lại: Con gái bác!

Cô Phương đội mũ lò, tóc quăn viền quanh khuôn mặt bầu, cái áo sơ mi in hoa đào rườm trong quần tây gọn ghẽ.

Phương quàng dây da đeo la bàn như phóng viên nhà báo đeo máy ảnh. Bác há miệng nhìn con một lúc rồi lắp bắp:

– Mày, mày chỉ hướng cho bác Khắc ở bên kia à con?

– Con cắm mốc trắc địa thôi.

Những ngọn gió tươi từ ngoài trời vẫn tiếp tục ùa vào lò nóng. Những ngọn gió mang hương rừng, mật ngọt miền đông bắc với hương xuân hoa đào thung lũng cửa lò ùa vào lòng đất làm no căng lồng ngực – những ngọn gió đầu xuân…

Phương liếc nhanh Thân rồi đĩnh đạc lên lò chợ. Hương gió hoa đào như theo cô bay lên. Những cánh hoa đào in trên áo sơ mi của Phương như cũng tỏa hương…

Chờ cho con gái đi khỏi, bác Hắc hỏi Thân:

– Tối nay anh đến chơi với tôi chứ? Cái Phương nó cũng ở nhà đấy.

Thân đứng thẳng người, đôi má dần dật đỏ, anh nhìn bác Hắc bằng đôi mắt trong suốt:

– Hôm nọ cháu đến nhà bác định để hỏi cô Phương về đường tâm lò thông gió, bây giờ thì… lò đã “bục” rồi bác ạ.

Thân thấy bác Hắc bối rối, nhưng anh cũng cần thanh minh tiếp:

– Vấn đề kỹ thuật thôi mà.

Bác Hắc với bàn tay quá cỡ lên vai Thân bóp chặt rồi lắc:

– Thế! Cho nên cứ đến chơi, ta nói chuyện về kỹ thuật.

Cẩm Phả, tháng 12-1969

N.S.H

Bài viết khác