Hội văn nghệ cấp huyện ở Quảng Ninh đã được thành lập và hoạt động như thế nào – Trần Nhuận Minh

Tỉnh Quảng Ninh là địa phương đầu tiên của cả nước có tổ chức Hội Văn học Nghệ thuật cấp huyện, tính từ năm 1970, với một cơ cấu tổ chức hơi đặc biệt. Tôi đã có lần báo cáo tại cuộc họp thường niên của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, tại Hà Nội, khi tôi còn là ủy viên. Nhân Kỉ niệm 50 năm thành lập Hội và Đại hội Hội Văn Nghệ tỉnh lần thứ XI, tôi xin thuật lại đôi điều để bạn đọc tham khảo và cũng xin phép được giải thích đôi điều về lai lịch và căn nguyên, để hội viên và bạn đọc hiểu tại sao lại có cơ cấu nhân sự khác thường và đến nay vẫn là một đặc điểm gây khó hiểu cho nhiều người. Tôi nghĩ nếu mình không nói thì chắc rất ít người biết, vì việc do tôi trực tiếp khởi xướng và trực tiếp thực hiện, cách đây đã  nhiều chục năm rồi.

Cuối năm 1962, khi thành phố Hải Phòng được thành lập Chi hội Văn nghệ lâm thời cấp thành phố, tôi đạp xe đến gặp nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, Thư kí lâm thời Chi hội, để học tập kinh nghiệm, rồi về thành lập Chi hội Văn nghệ Mạo Khê, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy mỏ. Vì tôi dạy học ở đây. Ông Ngô Bảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Công đoàn mỏ  được Đảng ủy giao cho làm Chi hội trưởng, ông Trần Trọng Biền, Quản đốc mỏ, tác giả truyện ngắn Chiến công của thày Bang Sứt, đã được giải Khuyến khích cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ năm 1958, làm Phó thứ nhất, phụ trách văn xuôi, tôi là Phó thứ hai, phụ trách thơ và tổ chức các cuộc sinh hoạt văn nghệ, ông Hoàng Thanh Tuân, thợ lò, tác giả kịch bản đã có tiếng ở khu mỏ Hồng Quảng lúc bấy giờ, ủy viên Ban chấp hành Công đoàn mỏ, làm Phó thường trực, kiêm Chánh Văn phòng. Kết cấu nhân sự này cũng do tôi đưa ra và Ban Thường vụ Đảng ủy mỏ Mạo Khê lúc bấy giờ phê duyệt. Văn phòng Chi hội đặt tại 1 gian, trong số 5 gian của căn nhà cấp 4, giành riêng cho Công đoàn mỏ. Tháng 1 năm 1963, trước tết Quí Mão, trong một cuộc họp toàn thể, khoảng hơn 100 hội viên, nhà thơ Trinh Đường phụ trách sáng tác của Sở Văn hóa khu mỏ Hồng Quảng, cùng ông Thế Vân, cán bộ văn hóa Công đoàn khu, đã về dự và thông báo chính thức công nhận Chi hội trong tổ chức sáng tác về đề tài công nhân do Sở Văn hóa và Công đoàn khu Hồng Quảng lãnh đạo. Trước khi thành lập, tôi đã lấy giấy giới thiệu của Công đoàn mỏ Mạo Khê về làm việc với Công đoàn tỉnh, ông Đặng Trần Nhân tiếp tôi, trụ sở ở đường Lê Thánh Tông bây giờ và Sở Văn hóa Khu mỏ, ông Vũ Khuê tiếp tôi, trụ sở lúc ấy ở bến Đoan,  sau  bị bom Mĩ phá hủy, nay xây mới thành Nhà Khách, ở sau Nhà văn hóa Việt Nhật.

Sáng ngày 19.5.1963, tại Hội trường công nhân mỏ Mạo Khê, tôi đã giới thiệu giá trị tư tưởng và nghệ thuật tập thơ Nhật kí trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho khoảng hơn 500 cán bộ, đảng viên và công nhân mỏ nghe.

Tuy thế, cứ chiều thứ bảy là tôi đạp xe lên Uông Bí, cách chỗ tôi ở,  khoảng 20 km về phía Đông, đến nhà anh Tạ Hữu Đỉnh, để chơi với các anh Tạ Hữu Đỉnh, Yên Đức, Phạm Doanh, Long Chiểu, Thủy Nguyên… đều là các cây bút, thỉnh thoảng có thơ và truyện ngắn đăng báo Văn nghệ. Tôi thấy tính chuyên nghiệp của các anh ấy cao hơn và quan điểm nghệ thuật gần với tôi hơn. Một lần, tôi ghé qua Thị ủy Uông Bí ở nơi sơ tán. Bí thư Thị ủy là ông Nguyễn Sĩ Trung, người cùng quê Nam Sách với tôi. Tôi rất quí ông, coi ông như một người anh. Trong lúc chuyện trò thân mật, sau bữa ăn trưa cùng ông, ông hỏi tôi có việc gì mà mấy cậu tụ tập ở nhà ông Đỉnh, rì rầm bàn bạc việc gì đến hai, ba giờ sáng. Công an ngồi sau nhà nghe, kiến vàng đốt sưng cả đít, mà không biết trong nhà bàn bạc những gì. Công an báo cáo với mình là có cả cậu, từ mãi Mạo Khê đến cùng tụ tập ở đây và  xin ý kiến mình có nên vào nhà, bảo các anh giải tán, vì đã quá khuya hay không, mình bảo không nên. Thực ra là mình nghĩ đến cậu. Bởi tin đó, về đến huyện Đông Triều, cậu  sẽ bị hiểu lầm về chính trị. Vậy các cậu bàn những gì mà say sưa khuya khoắt thế? Tôi kêu lên: Trời ơi! Việc gì mà các anh phải vất vả thế cho phí công. Toàn bàn về thơ thôi. Về thơ thì cũng chỉ một lúc thôi chứ? ông Trung hỏi. Không, anh làm thơ sẽ biết, không hết thơ thì không đứng lên mà về được đâu. Thơ mình, thơ bạn, thơ vừa đăng báo… đều là thơ tốt cả, mỗi tuần mới gặp nhau một lần, nói đến sáng còn chưa nguôi ấy chứ?… Sau đó, tôi mới hiểu, đất nước đang trong chiến tranh, tình hình chính trị và an ninh lại rất phức tạp, nên sự cẩn trọng của công an Uông Bí là đúng và cần thiết.

Từ đó tôi nghĩ, phải công khai hoá nhóm thơ văn này, thành một tổ sáng tác cho đàng hoàng,  trước hết cho đỡ bị nghi ngờ. Tôi báo cáo với ông Trung và được ông đồng ý, tôi đề nghị ông cử Trưởng ban Tuyên giáo làm trưởng, là ông Vũ Văn Khâm, cử Trưởng phòng văn hoá, quản lý nhà nước, làm phó, là ông Vũ Hội, còn một phó chuyên môn,  tôi đề nghị là Yên Đức. Ông bảo Yên Đức kết nạp Đoàn còn không được, thì làm phó – ngang với cấp phó phòng của thị xã thế nào được. Tôi về  nói với anh Tạ Hữu Đỉnh, anh Đỉnh bảo nên là Thủy Nguyên, cậu ấy là đảng viên, làm gì đó ở Công đoàn Công ti Xây dựng 18. Tôi báo cáo lại, ông Trung đồng ý. Trong tổ, lúc đó còn có Hoa Lư ( phê bình) Tiến Chước ( thơ) , Đinh Đức Thọ ( vẽ tranh – anh em vẫn gọi là Thọ Mượt, vì tóc anh lúc nào cũng chải rất mượt). Thế là Tổ Sáng tác chính thức được ra đời, tháng 10 năm 1967, danh chính ngôn thuận là do Thị ủy sáng lập. Nhưng thực chất chỉ có ý nghĩa tượng trưng thôi, để tổ chức biết, đây là những người “ đã được Thị ủy duyệt ”  để khỏi có điều gì nghi ngại trong tình hình chiến tranh, nếu anh em cứ luôn tụ tập với nhau, ngày cũng như đêm. Cả hai vị lãnh đạo do ông Trung cử ra cũng chưa đứng ra triệu tập một cuộc họp nào, cũng kêu bận không đến dự một cuộc họp nào, thành ra anh em cảm giác như nó không hề có. Nhưng mỗi khi có cuộc tụ tập, Thủy Nguyên hoặc tôi đều báo cho ông Khâm biết. Chỉ vậy thôi. Sau đó cũng chẳng thấy ai hỏi han gì. Là một tổ sáng tác, nhưng tôi coi đó là hạt nhân đầu tiên của tổ chức chi hội sau này.

Sau khi Hội Văn Nghệ Quảng Ninh đại hội lần thứ nhất ( ngày 25 – 27/11/1969) và sau khi kết thúc trại sáng tác 6 tháng đầu tiên của Hội, ngày 15/7/1970, cuối tháng 7 năm đó ( 1970), với tư cách là Trưởng ban Lí luận phê bình và Tổ chức Đào tạo bồi dưỡng lực lượng sáng tác của Hội vừa thành lập,  tôi đề nghị ông Ngô Lâm,  Hội trưởng, cho tái lập chính thức tổ chức này, vẫn với cơ cấu nhân sự như cũ, với tư cách là cấp dưới của Hội Văn nghệ Quảng Ninh, để anh em có chỗ mà gặp nhau, bàn bạc sáng tác, trong khi đường xa không thể về Bãi Cháy luôn được. Trụ sở của Hội lúc đó ở  nhà Chuyên gia Lâm nghiệp Đông Đức trên đồi cao Bãi Cháy. Và tôi cũng có cái cớ mà về với anh em cho vui.  Trong 1 tuần hội nghị  tại Trung Bản, năm 1967 – một dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển VHNT Quảng Ninh, anh em Uông Bí còn tổ chức “ hỏi vợ” cho tôi cơ mà.  Ông Lâm điện thoại cho ông Trung, khi tôi còn ngồi trong phòng ông Lâm, vì hai người cùng quê lại là bạn cùng hoạt động cách mạng từ  tháng 8 năm 1945, ông Trung đồng ý và ngay lúc đó, ông Lâm cử tôi ngày hôm sau, đi thực hiện. Tôi về Công ti xây dựng 18, tá túc ở nhà Phạm Doanh, được ông Giám đốc Lê Văn Sang rất ủng hộ, gọi tôi là “phái viên của Ngô Lâm”. Và tại đây, Công ti Xây dựng 18, Uông Bí, tổ chức đầu tiên của Chi hội cấp huyện của tỉnh Quảng Ninh ra đời, và lần này thì Yên Đức được thị ủy đồng ý và anh em bầu là Chi hội phó phụ trách chuyên môn. Ông Lâm về dự và phát biểu. Mọi việc đều đơn giản, như một cuộc họp thông thường, không có lễ tiết gì. Rút kinh nghiệm, lần thứ hai, tháng 9/ 1970, tổ chức tại huyện Yên Hưng, vẫn do tôi thực hiện, thì có 1 băng đỏ căng ngang đường và 1 băng đỏ căng trước phòng tổ chức đại hội là Thư viện huyện lúc đó, có cờ khẩu hiệu, tượng Bác Hồ, hoa tươi, có Lễ khai mạc chào cờ hẳn hoi. Ở đây, Phó chi hội chuyên môn, tôi đề nghị Hoàng Gia Điền. Ông Nguyễn Thi, Thường  vụ tỉnh ủy, Bí thư huyện, nguyên là Bí thư huyện ủy Nam Sách quê tôi trong kháng chiến chống Pháp, có biết  tôi, nhưng tính rất nghiêm khắc và rất kiệm lời. Nghe tôi báo cáo xong, ông chỉ nói 3 tiếng: “ Để tôi bàn” rồi gọi cậu Chánh Văn phòng đưa tôi xuống tầng dưới uống nước và ngồi chờ. Còn ông Nguyễn Văn Chanh lúc đó là Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy thì vô cùng nhiệt tình. Tôi không bao giờ quên, gương mặt hồ hởi của ông khi ông chạy từ tầng 2 xuống báo cho tôi biết: Anh Minh ơi, báo tin vui cho anh, Thường vụ đã thông qua và anh Thi đã đồng ý rồi. Tôi nhẹ cả người. Mới thấy câu thơ của cụ Nguyễn Du là tuyệt vời hay: “ Nỗi riêng như cất gánh đầy đổ đi…” Tôi bảo anh Vũ Hữu Thỉnh cứ chuẩn bị đầy đủ các thứ, chỉ khi nào Huyện ủy thông báo chính thức, mới treo băng đỏ lên đường và trước cửa phòng họp và tôi mới điện thoại báo cáo và kính mời ông Lâm về dự và quyết định các việc cùng với huyện ủy. Đến tháng 11/1970, thì tôi đi thực hiện thành lập Chi hội Văn Nghệ huyện Đông Triều, cũng tương tự như thế, nhưng nơi đây nhẹ nhõm, xuôn xẻ, chẳng có khúc mắc gì. Sau 7 năm xem xét rút kinh nghiệm, cuối năm 1977, ông Lâm mới cử ông Thanh Đạm đi thành lập tổ chức này ở thị xã Cẩm Phả, và 1 năm sau, cuối 1978, ông Lâm mới cử ông Tống Khắc Hài lo toan việc thành lập chi hội này ở thị xã Hồng Gai.  Sau này, ông Lê Hường làm Chủ tịch hội, tôi làm Phó, năm 1998, chi hội được Tỉnh ủy và UBND tỉnh cho phép nâng lên thành hội và Hội cấp huyện ra đời đầu tiên ở tỉnh Quảng Ninh, hoạt động với cơ chế đó cho đến tận bây giờ. Được sự đồng ý của Ban Thường vụ tỉnh ủy, tôi lúc đó đã là Chủ tịch Hội, năm 2000, cũng là người thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Miền Đông và thành lập Giải thưởng Văn nghệ  Miền Đông, bao gồm các huyện miền núi, biên giới và hải đảo Quảng Ninh, từ Cô Tô tới Móng Cái, rồi thành lập Chi hội Văn nghệ Dân gian Quảng Ninh, trực thuộc Hội VHNT tỉnh,  đến thời ông Nguyễn Quang Vinh, Chi hội phó của tôi lên làm Chi hội trưởng thay tôi, thì UBND tỉnh cho phép nâng cấp Chi hội  thành Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Quảng Ninh.

Năm 2002, nhạc sĩ Trần Hoàn, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương về làm việc, yêu cầu tôi giải thể các tổ chức Hội cấp huyện này. Tôi cố thuyết phục để bảo vệ. Vô cùng khó khăn. Tôi báo cáo với Bí thư tỉnh ủy Hà Văn Hiền và ông Hiền mời ông Trần Hoàn vào tỉnh ủy, tôi đi tháp tùng. Rất may được Bí thư tỉnh ủy Hà Văn Hiền ủng hộ, và nhận chịu trách nhiệm trước Trung ương, nên nó mới tồn tại đến ngày hôm nay. Một số Hội tỉnh bạn, hỏi kinh nghiệm của chúng tôi và thành lập Hội cấp huyện, đầu tiên là tỉnh Hải Dương, quê tôi. Bây giờ nhiều tỉnh khác như Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An… cũng đã có Hội cấp huyện, và điều rất vui là cơ cấu tổ chức nhân sự của các Hội này cũng vẫn như các Hội cấp huyện ở Quảng Ninh. Vì quả thực, với hoàn cảnh cụ thể của cấp huyện, chỉ có theo cơ chế ấy thì mới hoạt động được. Hầu hết các Hội này ở các tỉnh, đều ít nhiều có liên hệ với tôi. Tôi đặc biệt trân trọng Hội Văn Nghệ huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, do đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo huyện ủy làm Chủ tịch Hội, tác giả thơ Nguyễn Phúc Nghị làm Phó chủ tịch Thường trực, đã tổ chức được trại cho anh em đi sáng tác và xuất bản rất đều đặn và sang trọng tập san ( tương đương như tạp chí) có tên là Văn Nghệ Lâm Thao 3 tháng 1 số, có đánh số hẳn hoi, chất lượng thơ văn, trình bày và cả  số trang, không kém một số hội cấp tỉnh ở vùng đồng bằng miền Bắc. Ở Quảng Ninh, Hội cấp huyện hoạt động có hiệu quả hơn cả là Quảng Yên, Uông Bí, Tiên Yên, Vân Đồn, tổ chức được trại sáng tác, in được tuyển tập thơ văn, riêng huyện hội Tiên Yên và Vân Đồn, còn mời được cả Văn nghệ sĩ Trung ương về dự trại sáng tác với hội viên cấp huyện. Đặc biệt 4 huyện hội, còn thành lập được Giải thưởng VHNT cấp huyện, 5 năm xét và trao một lần, đó là Giải Võ Huy Tâm  của UBND TP Cẩm Phả, Giải TP Hạ Long của UBND TP Hạ Long, Giải Bạch Đằng Giang của UBND thị xã Quảng Yên và Giải Trần Nhân Tông của UBND TP Uông Bí. ./.

TRẦN NHUẬN MINH

 

 

 

Bài viết khác