Hương Cảng lạnh lẽo: Truyện ngắn của Bão Vũ

Chiếc xe tay han rỉ như mớ sắt vụn chạy lạch xạch trên mặt đường rải đá. Trên xe, Dương Đình Mại thu mình trong tấm áo bông chần cũ. Khí lạnh như băng khối trong vắt đúc liền với cảnh vật bất động của con phố cổ vắng tanh làm những ngọn đèn đường như sáng hơn, ánh đèn màu trong các nhà hàng rực rỡ hơn. Người ta chúi cả vào các sòng bạc, tiệm nhảy để tránh rét. Mùa đông Hương Cảng giá lạnh hơn nhiều lần cái rét đại hàn ở quê nhà. Ông Mại đã đến đất này vài lần vào mùa đông, nhưng chưa gặp giá rét ghê gớm như năm nay. Tấm áo trên mình mỏng quá. Dương Đình Mại run lên cầm cập nhớ những chiếc áo ngự hàn trong chiếc tủ gỗ lim lớn ở nhà mình. Các loại áo len, áo bông chần dày, áo dạ Mông Tự, áo da lót nỉ của Mỹ, có cả chiếc áo lông cáo nữa. Chiếc áo lông cáo xám ấy, ông mua chính ở Hương Cảng này trong một chuyến buôn, dường như ngay ở Hà Nội cũng không mấy ai có chiếc áo như thế. Rồi còn các loại mũ ấm, khăn phu-la, găng tay, giày, bít tất… Ông nhớ ánh lửa trong cái lò sưởi ốp đá cẩm thạch xây theo kiểu Tây ở phòng khách, và hơi nóng rực của chiếc hỏa lò cổ bằng đồng ông mua ở Thượng Hải, thứ dùng trong nội cung của các hoàng đế Trung Hoa. Ông nhớ những chăn êm đệm ấm và cả cô nàng hầu mũm mĩm. Dương Đình Mại mỉm cười thú vị. Bỏ đằng sau những ấm áp tiện nghi để co ro trong tấm áo bông mỏng sờn giữa trời rét cắt da nơi đất khách như một kẻ tha phương cầu thực, vậy mà ông ta mỉm cười sung sướng như một người đang rất hạnh phúc.
Dương Đình Mại phải khoác lên mình chiếc áo bông tã của kẻ khốn cùng mạt hạng để bảo vệ cái túi bí mật giữa lần bông chần và lớp vải lót chiếc áo đang khoác có khoản tiền rất lớn, thừa để ông có thể ngồi trong chiếc xe hơi thượng hạng ấm áp và quấn mình trong những chiếc áo lông bọc da đắt tiền khiến những kẻ giàu sang ở xứ này phải ghen tị.
– Đây là khách sạn Hoàng Hương, thưa tiên sinh. – Gã phu xe thở hồng hộc, miệng phả khói như một con ngựa. Ông Mại có thể hiểu được những tiếng Hán đơn giản ấy. Ông lập cập xuống xe khòng lưng như một kẻ ốm yếu khốn khổ, lập cập móc những đồng tiền lẻ nhàu nát run rẩy đưa cho gã phu xe. Ông làm thế để trọn vẹn một vai diễn là kẻ nghèo khổ, cho an toàn ở cái nới đầy dãy những quân trộm cướp. Hàm răng ông cũng lập cập, không sao nói nổi câu “hảo lớ” để cám ơn và chào gã phu xe. Dương Đình Mại đứng trước khách sạn Hoàng Hương cúi xuống nắn bóp cặp đầu gối tê dại một lúc rồi đẩy hai cánh cửa gỗ sơn đỏ lồng kính, bước vào gian tiền sảnh. Một khách sạn tồi tàn với những đồ gỗ cũ kỹ ám khói bụi. Sau quầy giao dịch là một lão già gầy quắt đeo kính, mặc áo bông xanh, cái đầu nhỏ tí đội chiếc mũ vải thêu hình cái đấu, kiểu mũ từ thời nhà Thanh. Lão già nở nụ cười cầu tài, thả ra tràng Hán ngữ. Một câu chào và hỏi xem khách cần gì. Ông Mại chỉ hiểu mỗi câu nỉ hảo. “ Tôi là người Việt” – Ông Mại chỉ vào ngực mình nói một câu bảo bối trong số vài câu tiếng Hoa học thuộc lòng dùng cho những cuộc mua bán. Lão già tươi cười bảo, lão là chủ khách sạn, piết lói thành thạo tiếng Annam vì đã ở bên đó ba năm. – Lão giơ ba ngón tay phụ họa cho cách lói tiếng Anlam thành thạo của mình. Ông Mại hỏi:
– Có ông khách người Việt, trông cao lớn đi cùng với một phụ nữ trẻ cũng người Việt đến ở đây không?
– Ồ có, có mà… – Lão già sốt sắng. – Ông khách Annam có dáng của bậc quý nhân. Người đàn bà đi cùng thì đẹp lắm. Họ thuê phòng trên tầng ba. Nhưng bây giờ ra ngoài, chưa về.
Dương Đình Mại ngồi xuống chiếc ghế tựa cao. Chiếc ghế gỗ cứng lạnh như đá, khiến ông phải đứng ngay dậy. Lão chủ khách sạn là kẻ hay chuyện, nhiều lời.
– Ông khách người Việt trông có quý tướng, người Đông phương mà cao lớn đường bệ như người Tây. Cô gái đẹp như một đại mỹ nhân, luôn đi bên cạnh chăm sóc ông ấy. Trông ông ta có vẻ là người sa cơ lỡ vận nhưng lại rất hào phóng, luôn nhắc cô gái không lấy lại tiền lẻ khi thanh toán.
Dương Đình Mại mỉm cười. Chuyện đúng như ông dự liệu. Ông đã cố ý chậm một tuần lễ mới đến đây, đúng lúc người ta cần một cứu tinh. Dương Đình Mại nhớ lại lúc bảo vợ mở két lấy tiền cho mình. Món tiền lớn đến nỗi bà vợ sửng sốt, tưởng nghe lầm, rồi bà cau có, – Lần trước, ông đi hầu bài Hoàng thượng hơn tháng, tiêu hết khoản tiền bán cái đồn điền ở Lạng Sơn. Bây giờ lại lấy thêm tiền nữa thì chỉ còn cách bán cái hãng nước mắm ở Hải Phòng đi. Ông Mại cau mặt. Đàn bà biết gì. Chuyến này tôi buôn lớn. Bà vợ lầu bầu: Buôn gì vào lúc thời thế nhộn nhạo đảo điên. Đến buôn thóc lúa là thức dùng hàng ngày mà còn bị cướp, bị tịch thu. Cứ thủ ít tiền vàng rồi về cái trại ở quê ngoại cày cấy, giữ lấy thân, là chắc hơn cả. Bà đặt gói tiền lên bàn, rồi quay mặt đi, bật khóc. Khoản tiền lớn quá, bà xót của. Dương Đình Mại mủi lòng. Tôi đã tính rồi. Thủ vàng mà yên à ? Tháng trước lão Chánh Hàm bị cướp đến tận giường kề dao vào cổ bắt nộp hết vàng bạc. Rồi xót của, đi báo quan phải lo lót tốn thêm. Sau, bọn kia biết, quay lại cắt cổ cả hai bố con. Đấy. Dương Đình Mại này đã có cách rồi. Không những giữ được của cải, mạng sống mà còn vinh hiển giàu sang hơn mấy mươi lần bây giờ.
Chính vì mục đích vinh hiển giàu sang ấy mà bây giờ Dương Đình Mại chịu rét run cầm cập trong cái khách sạn tồi tàn, ở nơi đầy rẫy những trộm cướp và bọn cờ bạc bịp này. Lão chủ khách sạn vẫn luôn miệng:
– Ông khách ấy như là người cao sang bị thất thế. Ba hôm nay chưa đưa tiền ăn. Chắc hết tiền. Nghĩ cũng ái ngại. Nhưng, không trả tiền thì cũng đành phải xử sự như luật định. Kinh doanh mà. Người Việt các ông kinh doanh không thạo bằng người Hán chúng tôi. Người Việt chỉ… – Lão già không tìm được câu chữ, phải huơ hai tay trên đầu theo một thế võ loạn đả hay biểu thị sự quấy đảo gì đó. Dương Đình Mại bật cười. Lão Chiệc này nếu biết ta đang buôn mặt hàng gì thì lão sẽ phải ngả cả mũ lẫn nón phủ phục dưới chân ta. Ông Mại lật mấy tờ báo cũ trên quầy nhìn lướt.
– Quý khách người Việt đã về rồi. – Lão già hấp háy nhìn qua những ô kính cửa cáu bẩn, mỉm cười, không giấu vẻ giễu cợt. Dương Đình Mại vội ra mở cửa cúi rạp trước người đàn ông cao lớn đang bước vào tiền sảnh cùng với cô gái trẻ đẹp đi bên bám vào cánh tay ông ta.
– Kính chúc hoàng thượng khang an… Xin chào cô.
Người đàn ông nhìn Dương Đình Mại, mắt ánh lên mừng rỡ nhưng nụ cười thì buồn thiu:
– Thôi mà. Chừ ta đã là một phế đế, ông dùng nghi thức vua tôi làm chi, kẻo ông chủ nợ kia lại nghĩ chúng ta là những kẻ lừa đảo đang diễn comédie của Molière (*) về một trò bịp bợm.
– Với thần, hoàng thượng mãi mãi là hoàng đế. Còn lão già keo bẩn kia… – Ông Mại trở lại quầy giao dịch, lật nhanh một tờ báo cũ nhàu nát trong tập báo trước mặt lão chủ khách sạn, chỉ vào tấm ảnh Phế đế nước Nam đang bắt tay một vị thượng quan của chính phủ Trung Hoa:
– Nhìn cho rõ, đây là hoàng đế nước Việt, ngài gặp hạn như vua Phổ Nghi của các người nên mới đến tá túc ở cái quán trọ bẩn thỉu này. Đừng vì thế mà xem thường, rồi sau lại ân hận. Còn khoản tiền nợ, ta sẽ trả không thiếu một cắc, lại thưởng thêm, nếu lão biết lễ phép.
Lão già sửng sốt nhìn bức ảnh trên tờ báo bị dầu mỡ loang một góc, rồi nhìn ông khách người Việt đang ở trọ quán của lão. Vị Phế đế xua tay:
– Thôi, thôi mà… nói thế mần chi, ông Mại. Ta lên phòng trên, hỉ.
Họ bước lên chiếc cầu thang gỗ đen sỉn, để lão chủ khách sạn đứng há hốc miệng bên quầy giao dịch.
Căn phòng ngủ tồi tàn ở tầng áp mái. Nét mặt tươi đẹp của cô gái nổi bật trong khung cảnh âm u, như làm căn phòng sáng lên. Phế đế cũng nhận thấy thế. Ông nói với Dương Đình Mại, mắt vẫn đăm đắm nhìn cô gái: – Cô Lý đi cùng ta từ Hà Nội đến đây. Nếu không có cô ấy thì ta đã chết vì giá lạnh.
– Thưa, các ông Lưu Đắc Trương, Lưu Bá Đạc có hay đến đây hầu hoàng thượng không ạ ? – Ông Mại hỏi, thăm dò về những đối thủ của mình. Vị Phế đế cười nhạt:
– Khi ở Trùng Khánh, họ chăm đến với ta lắm. Còn bây giờ thì… cũng như những kẻ từng thân cận với ta, họ đã biết ta sẽ mãi là một thứ dân, chả sơ múi gì nữa.
– Hai ông họ Lưu ấy khá giả hơn thần nhiều mà lại tệ như vậy. Thế còn Mai Văn Hám, ông ta có đến chu tất cho hoàng thượng không ạ ?
Vị phế đế lắc đầu. Căn phòng không có lò sưởi, lạnh lẽo. Cô Lý ngồi nép bên cạnh phế đế, để nguyên áo khoác, đôi chân vẫn khẽ run. Dương Đình Mại nhìn lướt nhanh đôi chân ấy. Ông đã quá quen thuộc đôi chân đẹp sau lớp vải quần bằng dạ mỏng kia. Phố Khâm Thiên… Đàn trống sênh phách… ánh đèn dầu lạc hư ảo với làn khói Phù Dung tiên tử. Những cuộc hát thâu đêm, gối chăn nhàu nhĩ… Cô Ba đó ơi… Gió lạnh cái đêm đông trường… Nửa chăn nửa chiếu… nửa giường cô để chờ ai… Và những tiệm Dancing Mondial, Tabarin… Đèn màu nháy giật. Nhạc xập xình. Cái eo thon, cặp giò gợi tình kia. Điệu valse da diết với bản One day … Còn nhớ khi xưa đôi ta thề nguyền cùng nhau dưới ánh trăng thâu… Có nhớ câu em khuyên rằng, đường đời đừng có quên nhau?…
– Thần biết bệ hạ đang gặp khó nơi đất khách này, nên vội thu xếp sang hầu…
Phế đế cười buồn, ngắt lời Dương Đình Mại:
– Chẳng cần đến sự thông minh của ông mới nhận ra được điều ấy. Người ngoài còn biết về ta hơn thế. Vừa rồi, đi ngoài đường lạnh quá, chúng ta tạt vào một tiệm nhảy. Tiệm nhỏ, xoàng thôi, vậy mà khi ta vừa bỏ áo khoác ngoài tìm đến một bàn ở góc khuất thì dàn nhạc vội dừng bản nhạc đang chơi, rồi trang trọng cử bản Valse Royale – Vũ điệu Nghênh giá mà trong các vũ hội cung đình Tây phương vẫn tấu lên khi có nhà vua đến dự. Gã chủ tiệm nhảy cúi rạp đầu nói lời kính mừng bằng tiếng Pháp khiến ta cảm động vô cùng, nhưng ngay sau đấy chợt hiểu ra rằng, gã ấy thừa biết ta đã là một phế đế, vì mấy ngày nay báo chí loan tin và ảnh về cuộc công cán của ta ở Hương Cảng này chỉ với cương vị cố vấn. Gã muốn nhắc ta rằng dù thế nào cũng vẫn phải hào phóng hư một hoàng đế. Nhưng túi ta không một xu. Mọi chi tiêu đều bằng tiền bán nữ trang của cô Lý. Chúng ta vẫn đứng lên gượng nhảy cho hết điệu valse nghênh giá. Khi ra về cô Lý đã phải trả một số tiền lớn cho chai rượu sâm-panh Pháp và điệu nhảy Nghênh giá. Lại còn khoản puốcboa cho dàn nhạc nữa chứ.
Cái giọng nói Huế nguyên chất cao sang, âm vang rồi tắt trong những góc khuất của căn phòng ám khói. Phế đế nhìn ánh sáng mờ từ cái chao đèn bằng lụa thêu treo trên tường… Cái tiệm nhảy tồi tàn ấy… Lý ơi, ta buồn quá. Hãy nhảy Valse- slow cho ta tựa đầu vào vai em một lúc để giấu những giọt nước mắt tủi nhục… mà sao dàn nhạc chơi bài Valse Royale lại đong đưa réo rắt như giễu cợt.
Lại nhớ đêm giao thừa ở Hà Nội. Cũng rất lạnh làm ta hồi tưởng những mùa đông ở Pháp. Ta đã kêu lên với Lý: “ Buồn quá Lý ơi…” Lý đưa ta đi dạo quanh hồ Gươm cho khuây khỏa. Người đi đón giao thừa hái lộc đông như kiến, nhưng chẳng ai biết ta là ai, dù ta không cần giả trang như một hoàng đế vi hành đêm giao thừa xem thần dân của mình đón xuân. Ta đã là một thường dân, còn ai cần biết ta nữa. Cố đô Thăng Long… Những triều đại huy hoàng rồi tàn lụi. Đền Ngọc Sơn. Cầu Thê Húc. Trấn Ba Đình. Tháp Bút. Đứng dưới chân tượng vua Lê, ta nhớ đến câu thơ: Hưng vong biết chửa người thiên cổ? Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà… Ta nhờ Lý đốt cho thẻ hương. Ta hướng về phương Nam bái vọng… Ta khóc cho cơ nghiệp các tiên vương đã tiêu tan vì ta, một kẻ có thừa những kiến thức làm vua học được ở phương Tây mà không chăn nổi đám dân khốn khổ ở cái xứ Annam nghèo hèn của mình. Ta đã nói với Lý hôm sửa soạn hành trang ra phi trường: “Nếu các người không cần có một ông vua nữa thì ta ra đi cho các người hả lòng. Nhưng, để rồi xem bọn cu-li pooc-tê (bốc vác), phu mỏ than cùng với đám thợ cày, thợ cấy, và lũ buôn thúng bán mẹt sẽ cai quản đất nước này ra sao”.
Ba người ngồi im lặng. Những bóng người trên vách gỗ bất động như những hình vẽ. Rồi Dương Đình Mại rụt rè lấy trong áo ra gói tiền lớn kính cẩn đặt trước mặt Phế đế :
– Thần có chút… lòng thành. Xin bệ hạ và cô Lý dọn đến một khách sạn tốt hơn. Bệ hạ không nên kham khổ. Đất Hương Cảng này có những sòng bạc trứ danh, bệ hạ nên đến những nơi ấy tiêu khiển.
Phế đế không để ý gói tiền, ngài khẽ lắc đầu, rầu rĩ :
– Ta lại thấy thích cái khách sạn này. Mà phòng ngủ này có vẻ rộng hơn căn phòng của ta trong trường Lycée Condoreet ở Paris trước kia. Ta sẽ không quên lòng trung nghĩa của ông. Chỉ tiếc ta không giữ được cơ nghiệp để có thể đền đáp những người như ông. Với ta, giữ được mạng sống là may lắm rồi. Xưa, vua Lu-y XVI và vợ đã phải lên máy chém của quân cách mạng.
Dương Đình Mại lấy giọng chân thành khuyên Phế đế :
– Chuyện thăng trầm là lẽ tự nhiên. Nhưng thần vẫn tin sẽ có ngày hoàng thượng tái ngự ngai vàng. Vì người Tây vẫn ủng hộ ngài.
– Ta cũng mong thế. Mà thôi, muộn rồi, ông về đi, mai đến đây ăn cơm trưa với ta. Cô Lý tiễn ông Mại, tiện thể xuống thanh toán nợ khách sạn.
Hai người xuống cầu thang. Đến nơi khuất ánh đèn, như không kìm nổi, Dương Đình Mại kéo cô Lý đến sau chậu cây cảnh, run rẩy ôm xiết lấy thân hình ấm mềm của cô vũ nữ ngày xưa từng là của ông. “Tôi lạnh quá Lý ơi. Lạnh từ trong lạnh ra…” Lý hốt hoảng gỡ tay người tình cũ, nghiêm giọng:
– Ông cố quên chuyện giăng gió của chúng ta trước kia. Bây giờ là việc làm ăn hệ trọng, sinh tử. Em biết ông sang đây cũng vì việc lớn ấy. Cũng như em đã bỏ ông đốc-tờ đi theo hoàng thượng vì có chủ ý như ông. Bây giờ, em với ông nếu có còn chút tình cũ thì hãy ủng hộ cho nhau.
Dương Đình Mại thở dài, ông nói với Lý như trách móc mà vẫn lưu luyến, rằng ông đành chịu thua vị phế đế đào hoa. Nhưng rồi đây Lý sẽ là thứ phi… là Bắc cung nương nương gì đấy. Lý trẻ đẹp, sẽ được sủng ái hơn cả chính cung Hoàng hậu. Khi ấy Lý có thể quên những người từng đàn ca với Lý ở xóm Khâm Thiên, quên hết cả những kẻ từng quay cuồng với Lý trên sàn nhảy. Nhưng xin hãy nhớ đến Mại này. Lý hãy nhắc hoàng thượng hộ một tiếng nếu chẳng may ngài quên tôi… Những lời thống thiết như ca cải lương làm cô vũ nữ cảm động. Cô nói với ông Mại :
– Em quyết thay đổi số phận. Em là một con bé nhà quê lên tỉnh làm kỹ nữ, sau là gái nhảy, được ông thương yêu cưu mang mấy năm, rồi được một ông đốc-tờ cưới làm vợ. Tuy cũng là hơn người nhưng chưa mãn nguyện. Em có số quý nhân, sẽ làm phi tần của bậc đế vương nên đã lọt vào mắt hoàng thượng khi ngài ra Bắc làm cố vấn cho chính phủ lâm thời. Em đã tình nguyện đi theo hoàng thượng dù gian nan nguy hiểm. Bây giờ, nếu còn thương em thì xin ông giúp em thực hiện ước nguyện.
Họ chia tay nhau với nỗi an ủi là hai người cùng có một hy vọng lớn lao như nhau. Trưa hôm sau, Phế đế và cô Lý chờ Dương Đình Mại đến ăn cơm, nhưng mãi không thấy ông ta đến. Những ngày sau, họ cũng không gặp lại ông Mại nữa. Lý bồn chồn, không hiểu tại sao. Ông Mại đâu phải là một nghĩa sĩ xuất hiện lúc nguy cấp để cứu giá rồi biến mất, không cần ban ơ
Việc thương thuyết giữa phái đoàn của Phế đế với phía Pháp về chủ quyền của nước Việt không có kết quả. Tiền phụ cấp của chính phủ lâm thời cho chuyến công du đối với Phế đế chẳng thấm vào đâu. Khoản tiền lớn của Dương Đình Mại đã tiêu tán hết trong các sòng bạc, đem lại cho phế đế tiếng thơm về một vị hoàng đế hào hoa, một đệ nhất tài tử môn mạt chược.
Ba năm sau, Phế đế được người Pháp ủng hộ lên làm quốc trưởng. Chính phủ mà ông từng làm cố vấn đã rút lên chiến khu. Quốc trưởng thành lập một nội các mới.
Bà vợ Dương Đình Mại bặt tin chồng mấy năm nay, ngỡ phu quân của mình là bậc đại trượng phu có chí lớn nên xem nhẹ chuyện thê nhi. Bà vội sai thằng con trai dò tìm trên báo về nội các mới của quốc trưởng. Hơn mười Bộ được thành lập với một danh sách dài những Thủ tướng, Tổng trưởng, Thứ trưởng, Quốc vụ khanh, Tổng Giám đốc Nha… – Con xem thủ tướng hay phó thủ tướng có phải là cậu nhà mình không ? – Thằng con lầu bầu: Mợ chỉ mơ hão. Quốc trưởng kiêm luôn chức đó rồi. Phó cũng không là cậu. – Thế Tổng trưởng Bộ Kinh tế Kế hoạch? Cậu mày giỏi trù liệu kế sách lắm. – Không phải cậu. Là một ông họ Trần. – Xem Bộ Nội vụ ấy. Cậu mày rất tài việc sắp đặt bố trí. – Thưa mợ, đó là ông Vũ Ngọc Trản ạ (Thằng con khúc khích cười) – Thế thì Tổng trưởng Tài chính phải là cậu. Kinh doanh tiền bạc không ai bằng cậu mày. – A, cậu đổi tên là Tấn Tài rồi, vì ông này cũng họ Dương. ( Thằng con đùa cợt bà mẹ ham hố) . – Nếu thế, chắc chắn là Bộ Thương mại rồi, vì cậu mày là nhà buôn có tài. – Nhưng Bộ Thương mại lại do một ông họ Hoàng đảm trách. Bộ Nông nghiệp cũng không có tên Dương Đình Mại dù ông ta cũng là một điền chủ nổi tiếng. Bà Mại ôm mặt òa khóc, xót xa như khi đưa tiền để chồng đi buôn chuyến lớn lao cuối cùng ấy.
Cô Lý đã là thứ phi, tuy vẫn còn vương vấn với người tình cũ nhưng không biết ông Mại ở đâu để tiến cử. Có lần, Lý khẽ nhắc Quốc trưởng về cái người đã vượt qua gió tuyết băng giá đem tiền đến cứu nguy cho ngài nơi đất khách. Quốc trưởng thần người ngẫm nghĩ. Mại nào nhỉ ? Hồi ấy có nhiều người chu cấp cho ta, nhớ sao hết được. Những kẻ ấy, bây chừ ở nơi mô ? Mà nhớ đến họ làm chi. Họ là bọn chăn Rồng, những kẻ buôn vua. Thời nào mà chả có. Rất nhiều, như loài ký sinh trùng, lăng xăng quanh các bậc đế vương.
Cái đêm Hương Cảng giá lạnh ấy, từ khách sạn Hoàng Hương ra, ông Mại gọi một chiếc xe tay. Gã phu xe lực lưỡng, râu quai nón kéo chiếc xe lao băng băng đến nỗi gió vù vù bên tai ông Mại. Chiếc xe chạy về phía bến cảng vắng vẻ. Hầy à, sao cái nị lại đi lối này? Gã phu xe cười hiền lành: Lối lày gần hơn à, lại tránh hớng gió Pắc, lể tiên sinh lỡ lạnh mà !…
Sáng hôm sau, phu quét đường thấy một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, phương phi, rõ là có quý tướng, bị lột trần nằm trong đống rác, cặp mắt dại đờ mở trừng trừng nhìn lên trời. Không ai biết đó là Dương Đình Mại, một doanh nhân cự phách của Annam. Cô Lý không biết chuyện bi đát đó để tìm đến rỏ lên thi thể người tình bất hạnh của mình những giọt nước mắt thương xót. Nhưng lúc gần sáng, trời đổi gió Nam đem theo mưa, một cơn mưa lớn chỉ rơi trong phạm vi khu cảng. Toàn thân người đàn ông nằm trong đống rác đẫm ướt nước mắt của trời. Cơn mây mưa ấy bay đến từ phương Nam. Như trong bài thơ về cái chết của một người tha hương.
… Chỉ có đám mây đen từ quê nhà bay tới…
Nhận ra anh và khóc thương anh… ( ** )

__________________________________________________
(*) Hài kịch của Mô-li-e. ( Vị Phế đế học ở Pháp từ nhỏ ).
(**) Truyện này được viết theo một số sử liệu về vị vua cuối cùng của triều Nguyễn .

Bài viết khác