Cuộc tái hôn thuần khiết "Bến nước thứ 13" và đôi bờ ảo thực - Bình thơ của Nguyễn Thanh Huyền

VHP: Giới thiệu đôi nét về
1- Tác giả thơ Nguyễn Huy

Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Hải Dương

Quê: Thọ Xuân, Thanh Hóa

Đã xuất bản:

-  Giữa hai đợt sóng ( thơ – NXB Thanh niên – 2004 )

-  Đi về phía mặt trời ( thơ – NXB Hội nhà văn – 2005 )...

Đọc thêm...

Bàn luận về Nguyễn Du trên một số tạp chí miền Nam giai đoạn 1954-1975 - Lê Thụy Tường Vy

Trên các tạp chí ở Miền Nam giai đoạn 1954-1975, các bài nghiên cứu và phê bình linh hoạt nhìn ngắm Nguyễn Du từ đủ mọi góc độ, có góc độ truyền thống như phê bình luân lý, trực cảm; có góc độ hiện đại như tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học… Trong các nghiên cứu về Nguyễn Du, tác phẩm là đối tượng được quan tâm nhất; công chúng đọc là đối tượng thời điểm đó còn chưa được để ý đúng mức.

Đọc thêm...

Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí (1917-1934)

PGS. TS. Nguyễn Đức Thuận

Sau cuộc chiến "bình định" bằng súng đạn (từ 1858  đến 1897), thực dân Pháp bắt đầu chuyến sang tấn công nước ta trên mặt trận văn hoá. Nam Phong tạp chí (1917-1934) (1) là sự nối tiếp của Đông Dương tạp chí (1914-1917). Chánh mật thám Đông Dương Luois Marty là "người sáng lập" ra tạp chí này đã chọn Phạm Quỳnh làm chủ bút phần Việt ngữ, và Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán ngữ.

Trong bối cảnh chính trị của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX, chưa thể làm gì để giành lại độc lập cho dân tộc, Phạm Quỳnh chủ trương xây dựng một nền quốc học, quốc văn mới, từ đó dần dần tiến tới giành tương lai tươi sáng cho đất nước. Và ông đã đành lòng cộng tác với Luois Marty với vai trò là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong. Nói đến Nam Phong tạp chí, vì vậy, ít hay nhiều cần phải nói tới sự nghiệp của Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892 tại số nhà 17, phố Hàng Trống, Hà Nội. Bút danh Th­ượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đ­ường, L­ương Ngọc. Nguyên quán họ Phạm này vốn ở làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thân phụ là Phạm Hữu Điển đỗ tú tài nho học, thân mẫu là Vũ Thị Đoan. Phạm Quỳnh mồ côi mẹ từ khi mới chín tháng tuổi, và đến năm 9 tuổi, lại mồ côi cha, sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc dạy dỗ của bà nội từ nhỏ. Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa Trư­ờng trung học Bảo hộ (Collège du Protectorat), ra làm thông ngôn tại Tr­ường Pháp quốc Viễn Đông Bác cổ Hà Nội (Ecole Francaise d Extrême-Orient). Một năm sau, năm 1909, kết duyên với cô Lê Thị Vân, sinh cùng năm 1892, nguyên quán làng Thọ Vực, huyện Văn Giang, tỉnh H­ưng Yên (2). Có lẽ, với tài năng, t­ư chất của một ngư­ời đỗ “thủ khoa” và đã có những năm tháng làm việc ở nơi viện sách Viễn Đông Bác cổ Hà Nội, đ­ược tiếp cận với bao nhiêu sách vở, tri thức Đông Tây kim cổ, Phạm Quỳnh sớm trở thành một ngư­ời có học vấn uyên bác? Trí thức Bắc hà thời đó đã suy tôn “Tràng An tứ hổ”, gồm bốn học sinh xuất sắc nhất tr­ường Thông ngôn Hà Nội là: “Vĩnh-Quỳnh-Tố-Tốn”.

Từ năm 1917 đến năm 1932, Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, phụ trách lớp dạy về Ngôn ngữ và văn ch­ương Hán Việt tại Tr­ường cao đẳng Hà Nội từ năm 1924 đến năm 1932. Ông là ngư­ời sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai trí tiến đức tại Hà Hội, Hội tr­ưởng Hội Trí tri Bắc kỳ từ năm 1925 đến 1928, Phó Hội trư­ởng Hội địa d­ư Hà Nội năm 1931 và Tổng Thư­ ký Uỷ ban Cứu trợ  Xã hội Bắc kỳ năm 1931-1932. Ngày 11 tháng 11 năm 1932, Phạm Quỳnh đ­ược Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm chức Thư­ợng thư­ kiêm Ngự tiền Văn phòng, rồi đến ngày 02 tháng 5 năm 1933 đ­ược bổ nhiệm chức Thư­ợng th­ư Bộ Quốc gia Giáo dục, kết thúc thời kỳ làm chủ bút tạp chí Nam Phong từ số 198 năm 1932. Chức vụ chủ bút Nam Phong tạp chí lúc đầu chuyển giao cho Nguyễn Trọng Thuật, rối tiếp đến Lê Văn Phúc và sau cùng  đ­ược chuyển sang tay ng­ười con rể của ông là Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng, một ngư­ời rất giỏi tiếng Pháp và am hiểu văn hoá Tây phư­ơng. Bên cạnh đó, là sự trợ giúp của các nhà Hán học nổi tiếng: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Lê Dư­, Bùi Kỷ, Nguyễn T­ường Tam... Nh­ưng cho dù là ai chủ nhiệm, quản trị và dù có cố gắng thế nào đi nữa, thì sự nghiệp của Nam Phong tạp chí cũng phải đành phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tờ tạp chí ở vào giai đoạn trư­ớc cách mạng tháng Tám, cũng là một hành trình khá dài, trí đã cùng và lực đã kiệt. Song, dù sao Nam Phong tạp chí cũng đã đi trọn con  đư­ờng lịch sử của nó. Những ngư­ời kế nhiệm  quản lý tờ tạp chí đã không đủ sức để làm đ­ược như­ sự nghiệp của Phạm Quỳnh, và nhất là, về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn: như­ cuộc cách mệnh thi ca của Phong trào thơ mới mở đầu từ tháng 3/ 1932, và trào lư­u lãng mạn của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn khởi phát từ năm 1933. Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập tr­ước tiến trình phát triển, tr­ước sự đổi mới của lịch sử văn học n­ước nhà và trở thành đối tư­ợng công kích của nhiều tờ báo, nhất là tờ Phong Hoá, một tờ báo mang tính chất là cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn, thể hiện một luồng tư­ t­ưởng mới với một sự đổi thay mới về hình thức và có sức thu hút ghê gớm trên văn đàn n­ước ta vào những năm ba m­ươi của thế kỷ tr­ước. Tháng 12 năm 1934, Nam Phong tạp chí “thoái vị”, “từ giã công chúng”. Bài “Tổng thuật sự nghiệp Nam Phong” nằm ở trang 299, mở đầu cho số tạp chí cuối cùng, số 210, do Nguyễn Hữu Tiến soạn, bằng một giọng văn tràn đầy xúc động nồng nàn, đã để lại cho độc giả một nỗi niềm bâng khuâng... Nó đ­ược tác giả bài báo ví nh­ư “bài hát giã đám của các anh em đào kép”. Trong bài viết, nhà bỉnh bút chung thuỷ với tờ tạp chí cho tới ngày vĩnh biệt độc giả này, đã ôn lại hành trình ngót m­ười tám năm hiện diện của Nam Phong tạp chí trên văn đàn Việt Nam; tư­ởng cũng có thể lấy đó làm một trong những cơ sở để nhìn nhận, đánh giá vai trò của Nam Phong, một tờ tạp chí có vị trí chủ đạo trong nền báo chí n­ước nhà trư­ớc cách mạng tháng Tám.

Qua bấy nhiêu năm tháng nhiệt tâm với sự nghiệp của tạp chí Nam Phong, những bài viết của Phạm Quỳnh nói riêng và ảnh hư­ởng của tờ tạp chí này nói chung, mai sau chắc sẽ còn nhiều ng­ười, nhiều ngành khoa học khác nhau tìm đến thẩm định, đánh giá theo những góc độ khoa học riêng của mỗi ngành và nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của mỗi ngư­ời. Ngoảnh lại, sáu mươi, bảy m­ươi năm đã trôi qua, không ít ngư­ời khen, và cũng không ít ng­ười từ những góc độ và những thời điểm nhất định của lịch sử - xã hội trước đây đã lên án Phạm Quỳnh, ông chủ bút của tạp chí Nam Phong.   Nhưng thời gian sẽ là th­ước đo những giá trị đích thực của mỗi sự việc và mỗi con  ngư­ời!

Bằng vào những bài viết của Phạm Quỳnh thuộc nhiều lĩnh vực nói chung và phần văn học nói riêng, về cơ bản chúng tôi đánh giá cao vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong trong việc xây dựng nền quốc học và quốc văn cho n­ước nhà hồi đầu thế kỷ XX... Tr­ước đây, vì nhiều lý do khác nhau, đã có những nhận định nh­ư những tảng đá nặng đè lên cuộc đời và văn nghiệp của Phạm Quỳnh. Không thể lật ng­ược lại hoàn toàn điều đó, như­ng cũng không nên quá “ám ảnh” vào những điều đó. Xét riêng về văn học, thật khách quan để nhìn nhận, những gì Phạm Quỳnh đó làm đ­ược và để lại cho đời, cứ xem vào quá khứ buổi quốc văn còn sơ khởi hồi đầu thế kỷ XX cho đến nay, đều là rất đáng quý. ảnh hư­ởng lâu dài của Văn trên Nam Phong và văn nghiệp của Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của nền văn học n­ước nhà đã có nhiều người khẳng định. Chúng tôi ghi nhận ở ông chủ bút Phạm Quỳnh, là một ng­ười tài hoa, uyên bác, một tấm lòng trải gần 18 năm khát khao “phụng sự cái chủ nghĩa bồi đắp cho nền quốc văn” đầy nhiệt thành của ông. Lịch sử văn học Việt Nam đến nay cần nhận ông về như­ những tác gia khác đầu thế kỷ XX. Đằng sau những bài viết có giá trị học thuật khá cao, mà ở vào giai đoạn bấy giờ ít có ng­ười nào có đ­ược một tri thức thâm viễn nh­ư ông, là hình ảnh của ông.

Trong bóng đêm đen tối của lịch sử dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, đặt bên những nẻo đ­ường cứu n­ước của nhiều chí sĩ cùng thời, đến nay nhìn lại, chúng ta cần ghi nhận ở ông một tinh thần dân tộc và một phần công lao không nhỏ của ông bắt nguồn từ  một tấm lòng nhiệt thành đối với nền “quốc văn”, “quốc học” của n­ước nhà, giữ gìn lấy cái tinh hoa của dân tộc giống nòi, đồng thời biết tiếp nhận cái hay của     ng­ười mà bồi bổ, gây dựng lấy cho mình một nền văn hoá mới, một nền văn học mới.

_______________________________

1. Nam Phong tạp chí, (Văn học khoa học tạp chí), Đông kinh ấn quán, Imprimerie Tonkinoise 14-16, Rue du Coton, HN, (từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934).

2. Theo: Phạm Thị Ngoạn, Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Luận án tiến sĩ, nguyên tác Pháp văn đã đăng trong tập Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương, bản dịch của Phạm Trọng Nhân, ý Việt, Sài Gòn, 1973, tr. 49.

NĐT

Nghĩ qua bóng ngày biến cải - Lê Thu Thời

Cái “Huyệt” ở mỗi truyện, cũng là “cái huyệt” trong cách nhìn, cách nghĩ, cách khám phá vào tầng sâu mang lốc xoáy, mang vệt loang của “những lần Nhà văn cùng Cuộc đời Mở mắt” (Chữ của Kim Chuông) Đó mới là vai trò thứ nhất, cũng là sứ mệnh lớn nhất của người cầm bút mà Kim Chuông đã ý thức khám phá và thắp sáng trên trang viết của mình.

Đọc thêm...

Văn học viết về chiến tranh Cách mạng là đề tài lớn - Hà Anh

 

Lý do nữa khiến văn học đề tài chiến tranh Cách mạng trở lại là trong tình hình văn chương hiện nay, con người hiện đại rất lúng túng việc tìm những câu hỏi trong cách sống, cách ứng xử thì hình như sự trở lại của văn học đề tài chiến tranh như một chiếc chìa khóa để tìm câu trả lời cho cách ứng xử hôm nay.

Đọc thêm...

Văn tế Hán Nôm và tinh thần nhân đạo dành cho tầng lớp hạ lưu - Nguyễn Đông Triều

Xã hội phong kiến phân biệt giai cấp rất nặng nề. Gia cấp thống trị tự xem mình là tầng lớp trên trốc của xã hội, có quyền cai trị tuyệt đối, được tầng lớp bị trị phục tùng, cung phụng, vì thế cũng có quyền đè đầu cưỡi cổ người dân. Tầng lớp bị trị là những người thấp cổ bé họng, luôn bị đối xử bất công nhưng vẫn phải cúi đầu cam chịu nên chịu nhiều thiệt thòi, khổ nhục.

Đọc thêm...

Những tranh luận về văn xuôi hư cấu lịch sử và sự chuyển biến của tư tưởng - Đỗ Hải Ninh

Sự xuất hiện trở lại khá rầm rộ của tiểu thuyết lịch sử nói riêng và văn xuôi hư cấu lịch sử nói chung trong văn học thời kỳ đổi mới đã tạo nên hứng thú tranh luận đa chiều, mặt khác gây ra không ít bối rối cho các nhà nghiên cứu phê bình.

Đọc thêm...

Hướng tới Đại hội Nhà văn Hà Nội: Một số vấn đề trong thơ đương đại - Lưu Khánh thơ

Tham luận của PGS.TS. Lưu Khánh Thơ *Sự chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư thế sự. Khi chiến tranh kết thúc, lịch sử sang một trang mới, thơ mới có điều kiện để phát huy hết sức mạnh tiềm tàng của chủ nghĩa hiện thực . Tuy nhiên trong thời kỳ hậu chiến xuất hiện một khuynh hướng thơ khác hẳn với khuynh hướng chủ đạo trước đây.

Đọc thêm...

Tiểu thuyết - những chân trời phía trước – Đỗ Hải Ninh

. Từ những tác phẩm giàu suy tư trăn trở và cá tính sáng tạo của năm qua, có thể nói rằng hành trình tiểu thuyết đang hướng tới những chân trời phía trước.

Đọc thêm...

Lý luận phê bình văn học Việt Nam đổi mới – Cấu trúc tam tài và thế hệ F - Phan Tuấn Anh

Mặc dù không phủ nhận những cố gắng và tâm huyết của các nhà văn giai đoạn 1975 – 1986, nhưng rõ ràng đất nước đã bước sang một thời đại mới, với những vấn đề quan thiết mới, nếu văn học vẫn vận hành theo lối cũ thì không tránh khỏi sự nhàm chán, thiếu khả năng sáng tạo.

Đọc thêm...

Người lính trong văn học thời hậu chiến - Mạnh Hà (Viện Văn học)

Người lính là một đề tài cốt lõi, giữ vị trí hàng đầu và giàu ý nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỉ XX. Sự ra đời của hình tượng người lính gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hình tượng nghệ thuật này đặc biệt nổi bật như một kiểu nhân vật của thời đại mới với sự hình thành của một mẫu người văn hóa mới - người chiến sĩ cách mạng, với kiểu tác giả mới - nhà văn chiến sĩ.

Đọc thêm...

Hai nội dung nổi bật của thơ Việt Nam thời hậu chiến - Nguyễn Hữu Quý

Có thể nói ngay rằng hiện thực cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược của nhân dân ta kéo dài suốt ba mươi năm từ tháng 12 năm 1946 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là chất liệu chủ yếu và quan trọng nhất để tạo ra dòng văn học chiến tranh cách mạng nói chung và thơ ca chiến tranh cách mạng nói riêng.

Đọc thêm...

Nhà thơ Xuân Diệu: Thơ tình hay vì yêu thật, sống thật

Đến nay dường như vẫn còn là một vấn đề quá khó đối với không ít người, khi phải trả lời câu hỏi vì sao thơ tình của Xuân Diệu hay đến mức khó ai có thể vượt qua? Người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực kể cả những người đồng thời cũng như hậu thế nhằm đi tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề, nhưng xem ra cũng chỉ là phỏng đoán.

Đọc thêm...

Motif người hóa đá/ đá hóa người trong truyền thuyết dân gian Việt Nam - Nguyễn Thị Quỳnh Hương

 

Motif người hóa đá/ đá hóa người là một trong những motif phổ biến của biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam.Tuy nhiên, bên cạnh hai motif người hóa đá, và đá hóa người, truyền thuyết dân gian Việt Nam còn xuất hiện dạng thức người hóa đá và chính đá đó lại hóa thành người. Dạng thứ ba này đã tạo ra một vòng tròn luân hồi của con người.

Đọc thêm...

Hàn Mặc Tử - một định nghĩa bằng máu về thơ - Chu Văn Sơn

 

Hàn Mặc Tử được sinh ra cho thơ. Sinh thời, Hàn đã sống bằng thơ. Bây giờ và mai sau Hàn vẫn sống bằng thơ. Bởi vì Hàn đã chết cho mỗi lời thơ. Đó là bài học về thơ đắt giá và sáng giá nhất của muôn đời.

Đọc thêm...

Phê bình dưới những thiết chế truyền thông hậu hiện đại - Phan Tuấn Anh

Phê bình văn học luôn tồn tại dưới những thiết chế (establishment), có những thiết chế nội tại (thể loại, trào lưu, ngôn ngữ…), lại có những thiết chế ngoại tại (chính trị, tôn giáo, tư tưởng…), trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ mới giới hạn sự khảo sát của mình trong những thiết chế truyền thông.

Đọc thêm...

Chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1975 -Lã Nguyên

Rất dễ nhận ra hình tượng thị giác trong văn học trước 1975, vì ở đây, hình tượng thường được kiến tạo theo nguyên tắc vẽ tranh, đầy màu sắc và đường nét. Tố Hữu thấy “Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh” (Trên đường thiên lí). Ông mời gọi “Anh hoạ sĩ làng Hồ, lại đây anh mà vẽ” (Bài ca xuân 71). Nguyễn Tuân lại hào hứng vẽ “áp-phích”. Trong Đường lên Tây Bắc, ông viết: “Bây giờ thì khác quá đi rồi. Cuộc đời có tổ chức, có trật tự, công khai có Đảng có kế hoạch, cuộc đời mới đang bén rễ đâm chồi mạnh, và nơi đây đang kết tinh nhiều giống hoa say nồng chưa nở một lần nào trên đồi lũng Thái Mèo.

Đọc thêm...

Văn học đồng tính ở Việt Nam – từ những hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận -Trần Ngọc Hiếu

Văn học đồng tính (queer literature) là gì? Là văn học được viết bởi các tác giả đồng tính? Là các tác phẩm lấy đời sống của người đồng tính làm đề tài? Là tác phẩm đề cập, khắc họa hình tượng nhân vật đồng tính? Văn học đồng tính được xác lập nhờ một lối viết đặc biệt hay đó còn là dòng văn học được hình thành bởi tưởng tượng của một cách đọc đặc biệt? Đó những câu hỏi dường như chối từ những khẳng định quả quyết.

Đọc thêm...

Tiếng nói như một thân phận và như một hành động - Trần Thiện Khanh

Kể từ 1980 trở đi, nữ hóa sáng tác và nghiên cứu văn học là một xu hướng, một hiện tượng nổi bật và có tính chất thế giới (châu Phi, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Nga,Anh…đều bùng nổ văn học nữ; giải thưởng Nobel văn học danh giá cũng về tay nhiều nhà văn nữ). Đây cũng là thời kỳ thứ ba của văn xuôi nữ hiện đại Việt Nam.

Đọc thêm...

Sự cám dỗ của những viên thuốc an thần ( Đọc thơ Dư Thị Hoàn) - Nguyễn Thanh Tâm

Xuất phát từ việc đọc lại tập thơ Lối nhỏ của nhà thơ Dư Thị Hoàn xuất bản năm 1988 – thời điểm Đổi mới đang diễn ra mạnh mẽ nhất, bài viết trước hết thâm nhập vào văn bản, tìm kiếm những thực tại khác được bộc lộ hoặc che giấu, lý giải căn nguyên của những hiện diện ấy. Từ trường hợp Lối nhỏ, tiểu luận đặt ra giả thuyết về bản sắc nữ tính của thơ nữ Việt Nam sau Đổi mới với ý nghĩa như là một bước ngoặt của lịch sử thơ nữ Việt Nam.

Đọc thêm...

Mấy suy nghĩ từ cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng - Nguyễn Đăng Mạnh

Nhưng một cây bút khi đã tạo ra được những kiệt tác, thì cuộc đời ông ta, tác phẩm của ông ta, tự chúng sẽ đặt ra biết bao vấn đề khiến ta phải suy nghĩ để khai thác những bài học kinh nghiệm, để rút ra những chân lý này khác về sáng tạo nghệ thuật. Vũ Trọng Phụng là trường hợp như vậy. Ngày nay người ta không còn phải dè dặt khi gọi ông là một thiên tài: hai mươi bảy tuổi đời mà để lại một sự nghiệp đồ sộ, trong đó có những tác phẩm có thể gọi là không tiền khoáng hậu.

Đọc thêm...

Yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong truyện thơ Nôm có nguồn gốc bản địa Việt Nam – Nguyễn Văn Hoài

So với nhóm truyện thơ Nôm được vay mượn từ văn học thông tục Trung Quốc (chủ yếu là tiểu thuyết tài tử giai nhân) thì mảng truyện thơ Nôm có nguồn gốc bản địa Việt Nam có những nét khác biệt khá rõ. Một trong những nét khác biệt đáng lưu ý đó là những yếu tố văn hóa tâm linh hiện diện trong tác phẩm. Tư tưởng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là những yếu tố tham gia mật thiết vào cốt truyện, cấu trúc tác phẩm, góp phần định hình thi pháp thể loại của mảng truyện thơ Nôm này.

Đọc thêm...

Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ (Nghĩ về Trúc Thông và cách tân thơ) - Chu Văn Sơn

Đọc Trúc Thông, ngay từ những ngày đầu, tôi đã thấy đọng lại trong mình ba ấn tượng : LỤA, TRONG và ĐẠM. Sống cùng thơ Trúc Thông ngần ấy thời gian, lắng lại sau mỗi tập, mỗi chặng vẫn là ba dáng vẻ : LỤA, TRONG và ĐẠM. Và, đến bây giờ, sự nghiệp anh đã gần như hoàn tất, phiêu du bao cuộc vào cõi thơ ấy rồi, thấy kết lại sau cùng vẫn là ba chữ : ĐẠM, LỤA và TRONG. Thơ anh đã cho tôi hay tôi đã vay anh ba chữ quý ấy ? Tôi chưa nói với anh về chúng bao giờ. Ba bí mật. Một chùm chìa khóa. Tôi giữ cho mình để mở vào cõi nghệ thuật Trúc Thông.

Đọc thêm...

Hình ảnh Bác Hồ trong thơ -Nguyễn Ngọc Phú

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Bác ơi” có hai câu thơ khắc họa rõ nét, tính cách giản dị, khiêm tốn, chí công vô tư của Bác: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng – Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Đọc thêm...

Món nộm văn hóa hiện nay dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn - Phan Huy Dũng

Thần thánh và bươm bướm là tác phẩm đạt giải C trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba (2006 – 2009) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Giải C dĩ nhiên không phải là giải cao nhưng cuốn tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn lại gây được dư luận khá sôi nổi và đã nhận được những lời khen nồng nhiệt.

Đọc thêm...

Văn học thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ - Đỗ Ngọc Yên

Dù cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc ta đã đi vào quá vãng, nhưng những ấn tượng về chiến tranh đối với nhiều thế hệ nhà văn không dễ phai mờ. Chiến tranh. Vâng! Đấy là những thời đoạn vô cùng hào hùng và khốc liệt trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến tranh đã tạo ra cho con người một cuộc sống khác, khiến bất kỳ ai đã từng trải qua sẽ chẳng thể nào quên được những thời đoạn lịch sử ấy.

Đọc thêm...

Văn học đô thị: khái niệm và đặc điểm - Nguyễn Thị Phương Thuý

Tuy nhiên, giữa bốn đối tượng văn học đô thị vừa trình bày ở trên vẫn có một điểm chung cơ bản. Dù nhìn từ góc độ đối lập với văn học cung đình, đối lập với văn học nông thôn, đối lập với văn học được xuất bản chính thống, hay ở trường hợp Việt Nam 1954-1975 là đối lập với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học đô thị vẫn là bộ phận văn học chịu chi phối sâu sắc bởi quy luật cung-cầu của thị trường.

Đọc thêm...

Cái chết như là vấn đề của truyện kể - Ju. Lotman

Mọi hành vi của con người đều có nghĩa. Điều đó nghĩa là hoạt động của con người được hiểu là có một mục đích nào đấy. Nhưng khái niệm mục đích không tránh khỏi  hàm chứa quan niệm về một kết thúc của sự kiện. Cái ý định của con người đem lại ý nghĩa và mục đích cho hành động và sự kiện  được hiểu là sự phân chia cái thực tại lỉên tục thành một số tiết đoạn ước lệ. Điều đó nhất định kéo theo khát vọng con người muốn hiểu cái gì là đối tượng quan sát của nó. Mối liên hệ giữa ý nghĩa và sự hiểu được Pushkin nhấn mạnh trong “Những câu thơ làm trong đêm mất ngủ”:là sự phân chia cái thực tại lỉên tục thành một số tiết đoạn ước lệ.

Đọc thêm...

Sức hấp dẫn của văn xuôi phi hư cấu – Huỳnh Như Phương

Trong thời đại thông tin và toàn cầu hóa, văn xuôi phi hư cấu (Non-fiction) ngày càng có vai trò to lớn và có tác động quan trọng tới độc giả không chỉ trong lĩnh vực báo chí mà cả trong lĩnh vực văn học. Có thể nói lịch sử văn học giao thoa với lịch sử báo chí là ở thể loại này.

Đọc thêm...

Nguyễn Lương Ngọc và quan niệm "Thơ lập thể" - Lê Hồ Quang

Với ba tập thơ (Từ nước - 1990, Ngày sinh lại - 1991, Lời trong lời - 1994), Nguyễn Lương Ngọc nổi lên như một gương mặt đầy cá tính của thế hệ nhà thơ Đổi mới. Đắm đuối với thơ ca, đồng thời cũng hết sức say mê Hội họa và Mỹ thuật, ông am hiểu khá rộng về các lĩnh vực nghệ thuật vốn có quan hệ chặt chẽ như Hội họa, Âm nhạc và Văn học… Đây là điều kiện tích cực giúp nhà thơ sớm hình thành một quan niệm hiện đại về thơ, về hoạt động sáng tạo.

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Sói căm lắm nhưng nhìn vẻ kiên quyết của Mềnh, hắn biết là không...
Hình ảnh
Cả bảy người cùng nắm giữ cây giáo. Đi đầu là người táo tợn nhất,...
Hình ảnh
Ngày 12/8/2018 tại hội trường Chùa Phổ Chiếu số 218 đường Miếu Hai Xã, ...
Hình ảnh
Trên giường, Thái tử mặt trắng còn hơn mấy cái gối cậu nằm trên đó, đang ...
Hình ảnh
Ở bộ tham mưu, nơi người ta đã quen di chuyển cả từng đạo quân và tính ...
Hình ảnh
Họ sống lầm lũi, thầm lặng vắng mặt trong những cuộc điểm danh ồn ào...
Hình ảnh
Trên cây lá xám xanh gân Mây xì xụp lượn xa gần chiều giăng Đứt dây... diều...
Hình ảnh
Cậu gặp được cháu ta, âu cũng là duyên trời sắp đặt. Hãy cứ gọi ta là bà...
Hình ảnh
Tối thứ sáu ngày 3/8/2018 tại phòng họp tầng 2 Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp số...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2068
mod_vvisit_counterHôm qua6276
mod_vvisit_counterTất cả10561118
Hiện có 341 khách Trực tuyến