Thi pháp thơ Hàn Mặc Tử qua "Mùa xuân chín" -Phạm Ngọc Thái

 

“Mùa xuân chín ” được rút ra từ trong thơ điên của Hàn Mặc Tử (đề mục Hương Thơm). Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có nhận xét bao quát về mảng Hương Thơm này như sau: “Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói”.

Đọc thêm...

Thơ Tân hình thức Việt: kể sao hết được… (Đỗ Quyên )

Ở Thơ Tân hình thức Việt và thơ phụ âm Việt đều có các giò ngôn-ngữ-phong-lan như thế! Nhìn vào thơ Đặng Thân, Vĩnh Phúc càng thấy thuyết thi pháp Jakobson “thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh” cực kỳ cao cường. Các hoa-ngôn-ngữ biểu lộ khác nhau. Tân hình thức Việt là một dòng-hoa-tươi-dại chảy từ sông suối thượng nguồn đổ về xuôi.

Đọc thêm...

Chiến tranh, xã hội tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954 – 1975 - Huỳnh Như Phương

Với khoảng cách 40 năm, người đọc đã có đủ độ bình tâm và khách quan để nhìn nhận và đánh giá những mặt tích cực và những mặt tiêu cực của các hiện tượng văn hóa, văn học giai đoạn ấy.

Đọc thêm...

Tình dục trong tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”

Dưới góc nhìn của nhà văn, yếu tố tình dục là nghệ thuật đích thực, ẩn chứa vẻ đẹp của tình yêu, sự thánh thiện, cao cả của tâm hồn. Hay nói cách khác, đằng sau những cuộc hòa điệu giữa thể xác và tâm hồn ấy, tình người, giá trị cuộc sống thăng hoa. Gấm ra đi nhưng tình yêu của Gấm thì mãi mãi bất diệt: Bởi trong đời người, mấy ai được hạnh phúc khi lìa bỏ cõi đời? Mấy ai đã sống hạnh phúc, chết bình an? Hoàn toàn hiến dâng thể xác và linh hồn cho người mình tuyệt đối yêu thương và ngưỡng mộ cũng là một thứ hạnh phúc không phải ai cũng được cơ may trải nghiệm”

Đọc thêm...

Kiến tạo một nền Lí luận – Phê bình tương lai – PGSTS Đỗ Ngọc Thống

Như  thế  trên cả hai bình diện: Tạo nguồn cho sự xuất hiện các nhà  lí  luận-phê bình và quan trọng hơn là tạo ra một công chúng đọc lí tưởng, đều có vai trò hết sức to lớn và quyết định của nhà trường.

Đọc thêm...

Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi - Khuất Bình Nguyên

Việt Phương yêu quý cuộc đời như yêu quý Phật. Như yêu quý bản thân ông. Như vợ ông. Như một lời hứa tất cả vì tình yêu cuộc sống. Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở. Cuộc đời, thân như hơi thở ta ơi. Ta vui lắm những niềm vui cởi mở. Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi.

Đọc thêm...

Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm và văn bản thơ Nôm

Trung Tân quán bi ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm có đoạn: “Mùa thu năm Nhâm Dần, tôi bỏ việc quan về nghỉ ở làng, bèn mời các vị cao niên trong làng cùng đi dạo ở bến Trung Tân, trong xa phía đông là biển; nhìn phía tây là kênh; ngắm phía nam là dòng Liêm Khê, nào là Trung Am, Bích Động trước sau kế tiếp; cúi nhìn phía bắc là Tuyết Giang, nào chợ Hàn, đò Nhật ôm bên tả hữu. Một con đường lớn chạy ngang ở giữa, ngựa xe tấp nập, chẳng biết là dài đến mấy ngàn dặm vậy"

Đọc thêm...

Thế giới thơ lục bát biến thể của Bùi Giáng - Mai Bá Ẩn

Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng...Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ “Mưa nguồn”.  Tác phẩm của ông viết rất đa dạng, từ thơ cho đến tiểu thuyết dịch, kịch (dịch), khảo cứu, phê bình văn học, triết học. Riêng về thể loại Lục bát, Bùi Giáng đã tạo cho những câu thơ của riêng mình một thứ vía hồn rất đặc trưng không thể trộn lẫn.

Đọc thêm...

Cái chết như là vấn đề của truyện kể - Ju. Lotman

Nhưng văn hoá hoàn toàn đắm chìm trong không gian của con người, để cho nó giới hạn, và giản đơn là tước bỏ cái chết như là một sự giả tạo. Khái niệm cái chết (kết thúc) không thể giải quyết bằng cách phủ định giản đơn, bởi vì ở đây có sự đan xen, giao nhau của các cấu trúc vũ trụ và cấu trúc con người

Đọc thêm...

Đặc điểm sáng tác của truyện thơ Thái Lan - Đào Thị Diễm Trang

Truyền thống say mê văn chương của cung đình Thái Lan bắt đầu từ thời có chữ viết (thế kỷ XIII) cho đến thời hưng vượng và hậu chiến. Ramkhamhaeng là vị vua đã có công sáng lập bảng chữ cái bằng tiếng Thái và bản thân ông cũng là người đặt nền móng cho văn học viết Thái Lan với thể loại văn bia

Đọc thêm...

Mã và giải mã trong văn học - Trần Đình Sử

Thời gian gần đây các sách nói về mã, giải mã trong văn học xuất hiện nhiều. Song thế nào là mã và giải mã thì chưa nêu rõ. Phê bình văn học hay dạy học văn ở trường trung học cũng đòi hỏi giải mã. Các giáo viên cũng nên làm quen với vấn đề này. Mã là vấn đề vừa quen, vừa lạ. Trong bài này tôi xin nêu một vài điểm then chốt để bạn đọc tham khảo.

Đọc thêm...

Bánh chưng của thi ca Việt Nam - Khuất Bình Nguyên

Lục bát như là một đặc trưng sáng tạo của văn hóa Việt Nam, tinh thần Việt Nam. Trên con đường giao hòa tiếp nhận những giá trị khác của các nền văn minh, người Việt đã vận dụng thể thơ nước ngoài như thơ Đường luật của người Tàu hay sonnet có nguồn gốc ở Ý… để làm thơ theo tiếng của mình.

Đọc thêm...

Thiền và thơ Haiku - Daisetz T. Suzuki

Thời hiện đại đã tạo ra một bề mặt thực tế trần trụi, một “thực tại khách quan” có khuynh hướng làm khô héo tâm hồn chúng ta. Nơi nào không có sự nhạy cảm mong manh, không còn niềm duy cảm chủ quan, nơi đó thơ ca sẽ bị lụi tàn; nơi nào sa mạc mở ra mênh mông, nơi đó cây cỏ xanh tươi không thể nảy chồi.

Đọc thêm...

Văn học hiện thực XHCN như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật - Lã Nguyên

Là hiện tượng văn hoá - lịch sử, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tất yếu phải trải qua các giai đoạn phát triển: hình thành - quy phạm hoá - giải quy phạm, để rồi cuối cùng bị lãng quên trong “kho lưu trữ các sự kiện giao tiếp bằng lời nói”. Mỗi giai đoạn như vậy ứng với một vị thế nhất định của chủ thể phát ngôn trong giao tiếp nghệ thuật.

Đọc thêm...

Đôi nét về thơ ca những năm đầu sau cách mạng tháng Tám năm 1945* – Võ Vĩnh Khuyến

Vượt lên những hạn chế khó tránh khỏi, thơ ca những năm đầu Cách mạng tháng 8 đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, trân trọng: Là tiếng nói ngợi ca Tổ quốc - Đất nước độc lập, tự do, là nét vẽ tươi màu, đa sắc về cuộc sống mới sinh sôi, nẩy nở, đang tái tạo, phục sinh trong hồn dân tộc, là tiếng lòng thành kính, ngưỡng mộ đối với lãnh tụ kính yêu.

Đọc thêm...

Ảnh hưởng qua lại giữa Truyện Kiều và thơ ca dân gian Việt Nam – Vũ Ngọc Phan

Nguyễn Du  đã học tập được của nhân dân ngôn ngữ và  nghệ thuật biểu. hiện những cảm nghĩ ấy. Nguyễn Du đã biết lọc lấy những phần ưu tú nhất trong ngôn ngữ của nhân dân, đặc biệt là ngôn ngữ văn học của nhân dân, để sáng tạo nên ngôn ngữ Truyện Kiều.

Đọc thêm...

Nhìn lại mối quan hệ giữa "văn" và "đạo" -Trần Nho Thìn

Giới nghiên cứu văn học Việt Nam bấy nay hầu như đều giải thích khái niệm đạo (trong mệnh đề văn dĩ tải đạo) là đạo đức, cụ thể hơn là đạo đức theo quan điểm Nho giáo. Cách hiểu này đã vô tình thu hẹp nội dung triết học của khái niệm đạo, đồng thời không cho thấy được những đặc trưng có tính lịch sử của quan niệm văn học thời cổ,

Đọc thêm...

Vai trò ảnh hưởng của Nam Phong tạp chí và Phạm Quỳnh trong việc đưa thể loại kịch Pháp nhập tịch vào Việt Nam - Nguyễn Đức Thuận.

 

Chủ nhật, ngày 25 tháng 4 năm 1920, sau hơn một tháng miệt mài tập luyện, với tất cả những khó khăn về sự phiên dịch kịch bản, lựa chọn diễn viên, bài trí sân khấu, diễn xuất, đạo cụ...Hội Khai trí Tiến Đức đã cho trình diễn ra mắt vở hài kịch “Bệnh tưởng” (Le malade imaginaire) của Moliére do Nguyễn Văn Vĩnh dịch,

Đọc thêm...

Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Sau 1986, xã hội Việt Nam có những biến đổi rõ nét theo quy luật của một nền kinh tế thị trường. Nhiều giá trị truyền thống dần mai một kéo theo sự gia tăng của những cái phi lí trong một thời kì mới. Cái phi lí của đời sống nhanh chóng được “chấp nhận” như một sự thật tất yếu.

Đọc thêm...

Những nỗ lực cách tân của văn xuôi Việt Nam đương đại - Hương Mai

Có thể nói về cái thực thông qua cái ảo, nói cái hữu lí thông qua cái phi lí, cùng với đó là các thủ pháp đa dạng, giàu hiệu quả: kì ảo, huyễn tưởng, huyền thoại, giễu nhại, trào lộng. Sự đa thanh trong giọng điệu, những chuyển đổi cơ bản trong nghệ thuật trần thuật đã thực sự tạo được những hiệu quả nghệ thuật tích cực.

Đọc thêm...

Đi tìm năng lượng chữ trong “ Xa xăm gõ cửa” - Nguyễn Minh Khiêm

Trục cảm hứng thi ca và bút pháp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bình Phương hơn hai mươi năm là một đường thẳng, không có lối rẽ. Mặc dù “ Xa xăm gõ cửa” có sáu phần rất rõ ràng, nhưng đó không phải là sáu giai đoạn chuyển mình của tác giả.

Đọc thêm...

Vài nét đặc sắc qua so sánh hai nhân vật Thị Nở* và Thảo** - Bùi Tuấn Ninh

Với những cách tân nghệ thuật của mình, hai nhà văn đã đem đến cho người đọc những xúc cảm thẩm mĩ vừa quen thuộc nhưng cũng đầy mới lạ, hấp dẫn để rồi khi gập trang sách lại, mỗi chúng ta vẫn thấy vấn vương trong lòng.

Đọc thêm...

Cảm nhận về văn học thiếu nhi Việt Nam đầu thế kỷ XXI - Lã Thị Bắc Lý

Có thể nói, trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, văn học thiếu nhi Việt Nam đã ghi những thành tựu đáng kể, khẳng định vị trí của mình trong nền văn học dân tộc thời kì hội nhập. Sự đa dạng trong phong cách, trong giọng điệu làm nên sức hấp dẫn của văn học thiếu nhi giai đoạn này.

Đọc thêm...

Nhìn lướt từ một thể văn ngắn - Hoài Nam

Thời gian gần đây, cứ tạm tính từ đầu thế kỷ XXI đến nay, nhìn vào đời sống văn chương Việt Nam theo giác độ thể loại, có thể thấy loại sách “tản văn” (có người còn gọi bằng một vài cái tên khác như “tạp văn” hoặc “tạp bút”, “ngẫu bút”) xuất hiện ngày một dày đặc

Đọc thêm...

Ba khuynh hướng vận động của thơ VN đương đại - Nguyễn Thanh Tâm

Văn học đương đại là một thực thể chưa hoàn thành. Điều đó lý giải cho sự dang dở của bất kỳ mô tả nào. Mặt khác, khi nhìn về một đối tượng như thơ Việt Nam sau 1975, tính đa dạng, phong phú của đối tượng, sự nở rộ của sáng tác đã khiến cho cái nhìn mang tính chủ quan xuất phát từ khả năng bao quát của tác giả

Đọc thêm...

Cảm hứng về Điện Biên trong thơ Việt Nam - Nguyễn Công Lý

Với chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, trang sử Việt đã ghi thêm những địa danh lịch sử mới: Điện Biên,  sánh cùng những địa danh sáng ngời chiến công của cha ông thuở xưa Tất cả sẽ mãi mãi bất tử trong trang sử vệ quốc oai hùng của dân tộc, mãi mãi bất tử trong tâm thức và mãi mãi là niềm tự hào của con dân Việt Nam

Đọc thêm...

Nghĩ về sáng tạo và tiếp nhận văn học hiện nay - Hồ Thể Hà

Hơn lúc nào hết, trước mắt và lâu dài, những người làm công tác văn học nghệ thuật phải cùng nhau tìm một lối thoát và lối mở cho văn chương với một khát vọng thành thực, một tri thức và tinh thần học thuật cao để đưa văn học Việt Nam nhanh chóng hội nhập với văn học thế giới, vừa hiện đại, vừa đậm bản sắc dân tộc, vừa nhân văn chủ nghĩa, rút gần khoảng cách xa lạ với những gì mà văn chương nhân loại đang hướng đến và theo đuổi trong thời đại ngày nay

Đọc thêm...

Thơ chống Mỹ - Một diễn ngôn thời đại - Đỗ Ngọc Yên

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã chắp cánh cho một thời kỳ thơ ca nở rộ. Và, chính nền thi ca ấy đã nâng tầm vóc cao hơn và xa hơn, cũng như khắc họa một cách sâu sắc hơn cuộc chiến ấy và đã trở thành diễn ngôn của thời đại.

Đọc thêm...

Một giai đoạn đặc sắc trong dòng chảy của văn chương yêu nước Việt Nam - Lê Thành Nghị

Như vậy, có thể thấy, hơn mười năm văn học giai đoạn chống Mĩ là một lát cắt đặc sắc của dòng văn chương yêu nước Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm. Việc nhìn lại và nhận chân giá trị những gì văn học giai đoạn chống Mĩ của chúng ta đã đạt được một cách khách quan, khoa học sẽ mang ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển văn học

Đọc thêm...

Về hình tượng người lính trong văn học mấy năm gần đây - Nguyễn Đức Thuận

PGS. TS Nguyễn Đức Thuận

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc luôn phải đương đầu với nhiều chiến tranh xâm lược. Nhìn tổng quát, xuyên suốt lịch sử 4000 năm của dân tộc ta, về cơ bản, là lịch sử chiến tranh vệ quốc. Vì lẽ đó mà người lính luôn là hình tượng trung tâm, chủ đạo của sáng tác văn học - nghệ thuật trong các thời kỳ lịch sử, từ trung đại đến hiện đại.

Mặc dù chiến tranh đã đi qua, trang sử vàng oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc đã khép lại, nhưng nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta thì vẫn còn đó! Không ở đâu và chẳng khi nào cho phép chúng ta không cảnh giác, nắm chắc tay súng để gìn giữ từng tấc đất thiêng liêng nơi biên giới và biển khơi, hải đảo của Tổ quốc. Vậy nên, đối với đất nước ta, khái niệm “thời bình” cũng chỉ là mang tính tương đối.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, đời sống xã hội có nhiều thay đổi. Công chúng bạn đọc tiếp nhận văn học cũng thay đổi và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn cũng từng bước thay đổi. Những quan niệm nghệ thuật mới về con người, trong đó có hình tượng người lính cũng đã có sự nhìn nhận khác trước, đa chiều hơn, trung thực hơn, không phiến diện một chiều như trước nữa. Nếu như trước năm 1975, hình tượng người lính được các nhà văn khắc họa mang “tính sử thi và cảm hứng lãng mạn”, thì sau 1975, các nhà văn tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của hình tượng người chiến sĩ. Đó là những suy nghĩ của họ sau khi cuộc chiến đã đi qua, là những sự hy sinh mất mát trong chiến tranh, những dằn vặt, trăn trở khi người lính buông súng trở về tái hòa nhập với cuộc sống đời thường, tình yêu và hạnh phúc của họ, giá trị và thước đo những giá trị cuộc sống như thế nào v.v… Những nhân vật trong nhiều truyện ngắn, nhiều cuốn tiểu thuyết sau chiến tranh, nhất là từ sau thời kỳ “đổi mới” (1986), chủ yếu là kiểu hình tượng mang tính thế sự, đời tư thay cho kiểu hình tượng người lính mang tính sử thi trong văn học trước đây.

Các nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có đặc điểm phần nhiều họ đều là những người trực tiếp cầm súng, hoặc chí ít cũng là những người đã từng lăn lộn ở chiến trường như một người chiến sĩ, có vốn sống phong phú của đời sống bộ đội. Tuy nhiên, cái “quán tính” trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn lớp trước vẫn ít nhiều có ảnh hưởng đến họ. Các nhà văn trưởng thành trong thời kỳ “đổi mới”, tuy không được trực tiếp tham gia cuộc chiến, nhưng họ được kế thừa dư âm chiến thắng hào hùng của dân tộc, và ánh hào quang của lịch sử kháng chiến vẫn còn đó, lung linh. Họ có cái nhìn mới, đổi khác, nhất là được thụ hưởng tinh thần Nghị quyết của Trung ương Đảng khóa VI, “đổi mới tư duy” trong sáng tạo nghệ thuật, không bị gò bó vào trong những giới hạn mà trước đây được coi là những “vấn đề nhạy cảm” của chính trị, của đời sống xã hội,…Ngay cả những hình thức thể hiện trong sáng tác nghệ thuật cũng không còn có giới hạn trong những khuôn mẫu, trong những khái niệm lý luận xưa cũ. Trước đây, khi viết về người lính, các nhà thơ, nhà văn đều phản ánh những phẩm chất anh hùng, biết chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng cao cả vì tự do độc lập của Tổ quốc của người chiến sĩ:

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình,

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc!

(Thanh Thảo - Những người đi tới biển)

Họ vào mặt trận, dù nơi ấy là đạn bom ác liệt và biết rằng có thể phải hy sinh, nhưng họ vẫn cảm thấy vui như đi trẩy hội:

Đường ra trận mùa này đẹp lắm!

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây.

(Phạm Tiến Duật - Trường Sơn đông, Trường Sơn tây)

Người lính thời ấy là những con người “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” (Tố Hữu). Các nhân vật trong tiểu thuyết Vùng trời của Hữu Mai, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, và nhiều truyện ngắn khác đều có chung những phẩm chất anh hùng của thời đại, của dân tộc. Tuy nhiên, hình tượng người lính trong văn học giai đoạn này, cái chung biểu hiện nhiều, cái riêng lại biểu hiện ít, mà nếu có thì những suy nghĩ, tâm trạng riêng tư ấy của họ cũng nằm trong tình cảm lớn của dân tộc.

Tuy nhiên, hình tượng người lính thời “hậu chiến” hôm nay dưới ngòi bút của các nhà văn, nhìn tổng quát, vẫn có cái như trước, nhưng cũng đã có nhiều điểm khác trước. Vẫn như trước là ở phẩm chất yêu nước, phẩm chất anh hùng, không ngại hy sinh, gian khổ, quyết chiến đấu để giữ vững độc lập tự do cho Tổ quốc. Điều này đã trở thành cốt cách, bản lĩnh Việt Nam, tinh thần và phẩm chất của người Việt Nam. Dòng máu Lạc Hồng của dân tộc từ nghìn xưa vẫn thấm đẫm trong từng huyết mạch của những người lính thời bình hôm nay. Phẩm chất đó đã trở thành truyền thống mang tính “đặc trưng” của dân tộc Việt. Nhưng điều khác trước là ở chỗ, người lính thời bình hiện lên trong các tác phẩm văn học hôm nay là những người có đời sống nội tâm phong phú, đa dạng và đa chiều hơn. Nếu như người lính thời chiến được các nhà văn thể hiện gần như trong một không gian phẳng, và hầu như tất cả đều được quy vào bốn phẩm chất cơ bản là: yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm, có phẩm chất lạc quan cách mạng – rất dễ nhận diện, thì hình tượng những người lính thời bình đã khác trước rất nhiều. Chẳng hạn, truyện ngắn Tướng về hưu (1986) của Nguyễn Huy Thiệp cho thấy, nhân vật ông Thuấn sau khi hoàn thành “việc lớn” (tham gia chiến đấu giải phóng đất nước), được về hưu với hàm thiếu tướng, lại đã trở thành người rất khó hòa nhập được với cuộc sống gia đình và làng xóm. Con người trong chiến tranh mọi hành động và suy nghĩ đều đồng quy vào cuộc sống lớn của dân tộc. Nay về sống với mọi người, trong đó có con trai, con dâu, họ hàng làng xóm mà sao ông thấy họ có những suy nghĩ và hành động “khác thường” mà trước đây, thời còn trong quân ngũ ông Thuấn không hề nghĩ tới. Hoặc như tiểu thuyết Thân phận tình yêu (sau đổi tên là Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh, tác giả cũng nhận diện lại hình tượng người lính “hâu chiến” qua nhân vật Kiên, với những suy nghĩ và hành động khác với những người lính thời trước. Mặt trái của chiến tranh, những tác động tiêu cực và những di chứng của chiến tranh được khai thác từ nhiều phía. Số phận cá nhân, đời sống thế sự được thể hiện rõ nét trong các sáng tác của Chu Lai. Không chỉ có tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh mà các tác phẩm khác, như Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thời xa vắng của Lê Lựu…cũng có những nét tương đồng khi các nhà văn nhìn vào chiều sâu nội tâm của nhân vật người lính. Những éo le, bi kịch của chiến tranh đã để lại những vết thương trong tâm hồn, tình cảm của nhiều người lính “hậu chiến”. Hình tượng người lính đến đây đã chuyển từ khuynh hướng sử thi sang cảm hứng nhân văn, với những nhức nhối về thân phận con người. Trước 1975, hình tượng người lính là những người giầu chất lý tưởng, hầu như không có những mâu thuẫn xung đột nội tâm. Sau chiến tranh, hình tượng người lính được nhìn nhận lại với nhiều điểm mới, mà rõ nét nhất là sự “vênh lệch” giữa phẩm chất người lính, người anh hùng thời chiến trước đây với những ứng xử của họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ riêng tư. Sự xung đột giữa “ánh sáng và bóng tối”, giữa “rồng phượng lẫn rắn rết”, giữa “thiên thần và quỷ sứ”… trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng và nhiều nhà văn khác là có thật! Những người lính trước đây được khắc họa là những người “làm chủ hoàn cảnh”, có khả năng khắc phục mọi trở ngại để đạt được mục tiêu, lý tưởng, thì, nói một cách khái quát, người lính sau chiến tranh chịu sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh, tác động đến số phận và tính cách của con người họ. Đó chính là tinh thần nhân văn, nhân bản trong các sáng tác của các nhà văn viết về người lính sau chiến tranh, người lính thời bình. Đó cũng là sự nhìn nhận đúng về con người và khả năng của con người. Tập truyện ký Đảo chìm của Trần Đăng Khoa khắc họa hình ảnh người lính trên đảo Sinh Tồn của quần đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc được coi là minh chứng. Đó là những người lính trẻ có tri thức, năng động, dũng cảm đối mặt với những khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống ở nơi đầu sóng ngọn gió. Những người lính ấy mang vẻ đẹp cao cả, dung dị, đời thường mà vẫn rất đáng yêu.

Điều gì đã làm nên sự khác biệt khi viết về hình tượng những người lính hôm nay? Nhìn nhận nguồn gốc sâu xa, phải nói tới đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI. Tinh thần đổi mới toàn diện, triệt để, nhận thức lại hiện thực, nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, đã tạo nên một không khí dân chủ trong sáng tác văn học nghệ thuật nói chung và viết về hình tượng người lính, nói riêng. Quan niệm về con người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn cũng thay đổi. Tinh thần nhân văn, nhân bản chính là cái gốc chi phối sự phản ánh của các nhà văn khi xây dựng hình tượng người lính hôm nay.

Nếu coi văn học là tấm gương phản chiếu lịch sử và thời đại, mà trung tâm của mỗi thời đại và đời sống xã hội là những con người, thì với hai cuộc kháng chiến vĩ đại và vẻ vang của dân tộc, hình tượng người lính cũng đã đi vào văn học như một hình tượng trung tâm, chủ đạo. Tuy nhiên, dường như văn học vẫn còn “mắc nợ” với đề tài và hình tượng người lính. Có lẽ chưa có những tác phẩm văn học nào xây dựng được những hình tượng người lính thật sự đúng như họ đã mặt có trong các cuộc chiến hào hùng và khốc liệt của dân tộc. Đó phải là những con người vừa cao cả, anh hùng, thật hoành tráng, song lại cũng “rất người”, rất đời thường, với những phức tạp của đời sống nội tâm như vốn có. Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng các nhà văn của văn học đương đại hôm nay vẫn đang ấp ủ để có những tác phẩm xứng tầm với thời đại mới. Chẳng hạn, đó là những chiến sĩ ở đảo Trường Sa, những chiến sĩ ở nơi biên cương của Tổ quốc. Hãy viết nhiều hơn nữa về những người lính trẻ hôm nay, vừa mang tính sử thi nhưng cũng vừa có tính nhân văn, nhân bản là điều chúng ta đang mong đợi.

N.Đ.T

 

 

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Vanhaiphong.com: Huyền Minh gắn bó với mảnh đất Hà Giang và những vần thơ chị...
Hình ảnh
Nhà Xuất bản Hải Phòng vừa cho ra mắt độc giả tập thơ “Nhịp cầu Đất...
Hình ảnh
Chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; Mời các bạn xem phim "Bài...
Hình ảnh
Rực rỡ gương nghề soi chẳng hết Tràn trề biển chữ học nào vơi Về hưu dạ...
Hình ảnh
(Minh họa của Lê Bá Hạnh)Với tôi cái học được trong đời có giá trị nhất...
Hình ảnh
                  Trải nghiệm cuộc đời và trau giồi cảm xúc để những...
Hình ảnh
- Xin người hãy nghe lão già này, tâu hoàng thượng: Ở bọn Thiên Chúa giáo có...
Hình ảnh
Hoàn Nguyễn viết về Thị Mầu cũng lên tiếng bảo vệ quyền được yêu của...
Hình ảnh
Trân trả lời, giọng khàn khàn. Anh bỗng cảm thấy một cái gì đó, gần như ...
Hình ảnh
Sinh năm 1976 tại Phú Thọ Hiện vừa kinh doanh vừa viết văn tại Lào Cai Hội...
Hình ảnh
Những người đang nhậu đều ngửng lên trố mắt nhìn cô phục vụ. - Ông ta là...
Hình ảnh
Yêu nhau chớ dở dang lòng Vàng thu lần lữa nửa vòng về thôi Lá phong sắp sửa...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1623
mod_vvisit_counterHôm qua8862
mod_vvisit_counterTất cả8812476
Hiện có 160 khách Trực tuyến