Thơ chống Mỹ - Một diễn ngôn thời đại - Đỗ Ngọc Yên

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã chắp cánh cho một thời kỳ thơ ca nở rộ. Và, chính nền thi ca ấy đã nâng tầm vóc cao hơn và xa hơn, cũng như khắc họa một cách sâu sắc hơn cuộc chiến ấy và đã trở thành diễn ngôn của thời đại.

Đọc thêm...

Ký ức lương thiện - Bùi Việt Thắng

Trong số 143 tác giả có đến 94 người (chiếm khoảng 70 phần trăm) từng tham gia quân đội, công an, thanh niên xung phong, có hai tác giả là liệt sĩ ; có một tác giả là liệt sĩ - Anh hùng LLVT (Chu Cẩm Phong). Trong số tác giả có mặt trong tuyển tập có ba nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật và 12 nhà văn được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật

Đọc thêm...

Một giai đoạn đặc sắc trong dòng chảy của văn chương yêu nước Việt Nam - Lê Thành Nghị

Như vậy, có thể thấy, hơn mười năm văn học giai đoạn chống Mĩ là một lát cắt đặc sắc của dòng văn chương yêu nước Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm. Việc nhìn lại và nhận chân giá trị những gì văn học giai đoạn chống Mĩ của chúng ta đã đạt được một cách khách quan, khoa học sẽ mang ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển văn học

Đọc thêm...

Về hình tượng người lính trong văn học mấy năm gần đây - Nguyễn Đức Thuận

PGS. TS Nguyễn Đức Thuận

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc luôn phải đương đầu với nhiều chiến tranh xâm lược. Nhìn tổng quát, xuyên suốt lịch sử 4000 năm của dân tộc ta, về cơ bản, là lịch sử chiến tranh vệ quốc. Vì lẽ đó mà người lính luôn là hình tượng trung tâm, chủ đạo của sáng tác văn học - nghệ thuật trong các thời kỳ lịch sử, từ trung đại đến hiện đại.

Mặc dù chiến tranh đã đi qua, trang sử vàng oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc đã khép lại, nhưng nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta thì vẫn còn đó! Không ở đâu và chẳng khi nào cho phép chúng ta không cảnh giác, nắm chắc tay súng để gìn giữ từng tấc đất thiêng liêng nơi biên giới và biển khơi, hải đảo của Tổ quốc. Vậy nên, đối với đất nước ta, khái niệm “thời bình” cũng chỉ là mang tính tương đối.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, đời sống xã hội có nhiều thay đổi. Công chúng bạn đọc tiếp nhận văn học cũng thay đổi và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn cũng từng bước thay đổi. Những quan niệm nghệ thuật mới về con người, trong đó có hình tượng người lính cũng đã có sự nhìn nhận khác trước, đa chiều hơn, trung thực hơn, không phiến diện một chiều như trước nữa. Nếu như trước năm 1975, hình tượng người lính được các nhà văn khắc họa mang “tính sử thi và cảm hứng lãng mạn”, thì sau 1975, các nhà văn tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của hình tượng người chiến sĩ. Đó là những suy nghĩ của họ sau khi cuộc chiến đã đi qua, là những sự hy sinh mất mát trong chiến tranh, những dằn vặt, trăn trở khi người lính buông súng trở về tái hòa nhập với cuộc sống đời thường, tình yêu và hạnh phúc của họ, giá trị và thước đo những giá trị cuộc sống như thế nào v.v… Những nhân vật trong nhiều truyện ngắn, nhiều cuốn tiểu thuyết sau chiến tranh, nhất là từ sau thời kỳ “đổi mới” (1986), chủ yếu là kiểu hình tượng mang tính thế sự, đời tư thay cho kiểu hình tượng người lính mang tính sử thi trong văn học trước đây.

Các nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có đặc điểm phần nhiều họ đều là những người trực tiếp cầm súng, hoặc chí ít cũng là những người đã từng lăn lộn ở chiến trường như một người chiến sĩ, có vốn sống phong phú của đời sống bộ đội. Tuy nhiên, cái “quán tính” trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn lớp trước vẫn ít nhiều có ảnh hưởng đến họ. Các nhà văn trưởng thành trong thời kỳ “đổi mới”, tuy không được trực tiếp tham gia cuộc chiến, nhưng họ được kế thừa dư âm chiến thắng hào hùng của dân tộc, và ánh hào quang của lịch sử kháng chiến vẫn còn đó, lung linh. Họ có cái nhìn mới, đổi khác, nhất là được thụ hưởng tinh thần Nghị quyết của Trung ương Đảng khóa VI, “đổi mới tư duy” trong sáng tạo nghệ thuật, không bị gò bó vào trong những giới hạn mà trước đây được coi là những “vấn đề nhạy cảm” của chính trị, của đời sống xã hội,…Ngay cả những hình thức thể hiện trong sáng tác nghệ thuật cũng không còn có giới hạn trong những khuôn mẫu, trong những khái niệm lý luận xưa cũ. Trước đây, khi viết về người lính, các nhà thơ, nhà văn đều phản ánh những phẩm chất anh hùng, biết chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng cao cả vì tự do độc lập của Tổ quốc của người chiến sĩ:

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình,

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc!

(Thanh Thảo - Những người đi tới biển)

Họ vào mặt trận, dù nơi ấy là đạn bom ác liệt và biết rằng có thể phải hy sinh, nhưng họ vẫn cảm thấy vui như đi trẩy hội:

Đường ra trận mùa này đẹp lắm!

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây.

(Phạm Tiến Duật - Trường Sơn đông, Trường Sơn tây)

Người lính thời ấy là những con người “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” (Tố Hữu). Các nhân vật trong tiểu thuyết Vùng trời của Hữu Mai, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, và nhiều truyện ngắn khác đều có chung những phẩm chất anh hùng của thời đại, của dân tộc. Tuy nhiên, hình tượng người lính trong văn học giai đoạn này, cái chung biểu hiện nhiều, cái riêng lại biểu hiện ít, mà nếu có thì những suy nghĩ, tâm trạng riêng tư ấy của họ cũng nằm trong tình cảm lớn của dân tộc.

Tuy nhiên, hình tượng người lính thời “hậu chiến” hôm nay dưới ngòi bút của các nhà văn, nhìn tổng quát, vẫn có cái như trước, nhưng cũng đã có nhiều điểm khác trước. Vẫn như trước là ở phẩm chất yêu nước, phẩm chất anh hùng, không ngại hy sinh, gian khổ, quyết chiến đấu để giữ vững độc lập tự do cho Tổ quốc. Điều này đã trở thành cốt cách, bản lĩnh Việt Nam, tinh thần và phẩm chất của người Việt Nam. Dòng máu Lạc Hồng của dân tộc từ nghìn xưa vẫn thấm đẫm trong từng huyết mạch của những người lính thời bình hôm nay. Phẩm chất đó đã trở thành truyền thống mang tính “đặc trưng” của dân tộc Việt. Nhưng điều khác trước là ở chỗ, người lính thời bình hiện lên trong các tác phẩm văn học hôm nay là những người có đời sống nội tâm phong phú, đa dạng và đa chiều hơn. Nếu như người lính thời chiến được các nhà văn thể hiện gần như trong một không gian phẳng, và hầu như tất cả đều được quy vào bốn phẩm chất cơ bản là: yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm, có phẩm chất lạc quan cách mạng – rất dễ nhận diện, thì hình tượng những người lính thời bình đã khác trước rất nhiều. Chẳng hạn, truyện ngắn Tướng về hưu (1986) của Nguyễn Huy Thiệp cho thấy, nhân vật ông Thuấn sau khi hoàn thành “việc lớn” (tham gia chiến đấu giải phóng đất nước), được về hưu với hàm thiếu tướng, lại đã trở thành người rất khó hòa nhập được với cuộc sống gia đình và làng xóm. Con người trong chiến tranh mọi hành động và suy nghĩ đều đồng quy vào cuộc sống lớn của dân tộc. Nay về sống với mọi người, trong đó có con trai, con dâu, họ hàng làng xóm mà sao ông thấy họ có những suy nghĩ và hành động “khác thường” mà trước đây, thời còn trong quân ngũ ông Thuấn không hề nghĩ tới. Hoặc như tiểu thuyết Thân phận tình yêu (sau đổi tên là Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh, tác giả cũng nhận diện lại hình tượng người lính “hâu chiến” qua nhân vật Kiên, với những suy nghĩ và hành động khác với những người lính thời trước. Mặt trái của chiến tranh, những tác động tiêu cực và những di chứng của chiến tranh được khai thác từ nhiều phía. Số phận cá nhân, đời sống thế sự được thể hiện rõ nét trong các sáng tác của Chu Lai. Không chỉ có tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh mà các tác phẩm khác, như Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thời xa vắng của Lê Lựu…cũng có những nét tương đồng khi các nhà văn nhìn vào chiều sâu nội tâm của nhân vật người lính. Những éo le, bi kịch của chiến tranh đã để lại những vết thương trong tâm hồn, tình cảm của nhiều người lính “hậu chiến”. Hình tượng người lính đến đây đã chuyển từ khuynh hướng sử thi sang cảm hứng nhân văn, với những nhức nhối về thân phận con người. Trước 1975, hình tượng người lính là những người giầu chất lý tưởng, hầu như không có những mâu thuẫn xung đột nội tâm. Sau chiến tranh, hình tượng người lính được nhìn nhận lại với nhiều điểm mới, mà rõ nét nhất là sự “vênh lệch” giữa phẩm chất người lính, người anh hùng thời chiến trước đây với những ứng xử của họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ riêng tư. Sự xung đột giữa “ánh sáng và bóng tối”, giữa “rồng phượng lẫn rắn rết”, giữa “thiên thần và quỷ sứ”… trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng và nhiều nhà văn khác là có thật! Những người lính trước đây được khắc họa là những người “làm chủ hoàn cảnh”, có khả năng khắc phục mọi trở ngại để đạt được mục tiêu, lý tưởng, thì, nói một cách khái quát, người lính sau chiến tranh chịu sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh, tác động đến số phận và tính cách của con người họ. Đó chính là tinh thần nhân văn, nhân bản trong các sáng tác của các nhà văn viết về người lính sau chiến tranh, người lính thời bình. Đó cũng là sự nhìn nhận đúng về con người và khả năng của con người. Tập truyện ký Đảo chìm của Trần Đăng Khoa khắc họa hình ảnh người lính trên đảo Sinh Tồn của quần đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc được coi là minh chứng. Đó là những người lính trẻ có tri thức, năng động, dũng cảm đối mặt với những khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống ở nơi đầu sóng ngọn gió. Những người lính ấy mang vẻ đẹp cao cả, dung dị, đời thường mà vẫn rất đáng yêu.

Điều gì đã làm nên sự khác biệt khi viết về hình tượng những người lính hôm nay? Nhìn nhận nguồn gốc sâu xa, phải nói tới đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI. Tinh thần đổi mới toàn diện, triệt để, nhận thức lại hiện thực, nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, đã tạo nên một không khí dân chủ trong sáng tác văn học nghệ thuật nói chung và viết về hình tượng người lính, nói riêng. Quan niệm về con người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn cũng thay đổi. Tinh thần nhân văn, nhân bản chính là cái gốc chi phối sự phản ánh của các nhà văn khi xây dựng hình tượng người lính hôm nay.

Nếu coi văn học là tấm gương phản chiếu lịch sử và thời đại, mà trung tâm của mỗi thời đại và đời sống xã hội là những con người, thì với hai cuộc kháng chiến vĩ đại và vẻ vang của dân tộc, hình tượng người lính cũng đã đi vào văn học như một hình tượng trung tâm, chủ đạo. Tuy nhiên, dường như văn học vẫn còn “mắc nợ” với đề tài và hình tượng người lính. Có lẽ chưa có những tác phẩm văn học nào xây dựng được những hình tượng người lính thật sự đúng như họ đã mặt có trong các cuộc chiến hào hùng và khốc liệt của dân tộc. Đó phải là những con người vừa cao cả, anh hùng, thật hoành tráng, song lại cũng “rất người”, rất đời thường, với những phức tạp của đời sống nội tâm như vốn có. Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng các nhà văn của văn học đương đại hôm nay vẫn đang ấp ủ để có những tác phẩm xứng tầm với thời đại mới. Chẳng hạn, đó là những chiến sĩ ở đảo Trường Sa, những chiến sĩ ở nơi biên cương của Tổ quốc. Hãy viết nhiều hơn nữa về những người lính trẻ hôm nay, vừa mang tính sử thi nhưng cũng vừa có tính nhân văn, nhân bản là điều chúng ta đang mong đợi.

N.Đ.T

 

 

Viết về người lính hôm nay - Những thách thức không nhỏ -Nguyễn Hữu Quý

Trong chiến tranh, người lính là đối tượng sáng tác chính của các nhà văn. Điều này được chứng minh qua văn học hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta. Thành tựu và hạn chế của văn học kháng chiến với hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là nhân vật trung tâm đã được nhiều nhà lý luận phê bình nghiên cứu, công bố.

Đọc thêm...

Không gian tiên tri và cuộc phiêu lưu chất liệu - TS. Lê Thị Thanh Tâm

Trong bài Thế giới trong giọt sương của Nhật Chiêu, Ngân Hoa ghi lại chia sẻ của ông về ý tưởng sáng tạo hình tượng giọt sương: « bản thân giọt sương là một hình ảnh nhiều ý nghĩa thường được nhắc đến trong văn học Đông cũng như Tây. Giọt sương là một chiếc gương con có thể phản ánh được thế giới.

Đọc thêm...

Vũ Quần Phương với bài thơ "Áo đỏ" - Nguyễn Đức Thuận

PGS. TS Nguyễn Đức Thuận

Kể từ khi ra đời đến nay, đã hơn bốn mươi năm trôi qua, bài thơ Áo đỏ (1973) của nhà thơ Vũ Quần Phương vẫn chiếm được niềm yêu của nhiều thế hệ thanh niên, nhất là các bạn thanh niên, sinh viên các trường đại học. Thể theo nguyện vọng sinh viên của khoa, tôi đã mời tác giả của bài thơ này về Khoa Ngữ văn Trường Đại học Hải Phòng giao lưu Thơ. Cùng đi hôm ấy có nhà thơ Trần Đăng Khoa.

Vẫn biết bài thơ Áo đỏ đã được nhiều người thuộc lòng, ghi chép vào sổ tay và cũng đã có rất nhiều trang bình luận, phân tích bài thơ đăng in trên sách báo. Nhưng có lẽ cái “duyên” của bài thơ này dường như vẫn còn dài và nó còn có sức lôi kéo người đọc, người nghe thêm mãi nữa…Đây là niềm hạnh phúc và là phần thưởng cao quý đối với lao động nghệ thuật của một nhà thơ! Với Áo đỏ, nhà thơ Vũ Quần Phương đã có được điều đó.

Vẫn chất giọng trầm nặng của người dân xứ biển Hải Hậu - Nam Định quê hương của ông, (dù ông đã xa quê, sống ở Hà Nội khá lâu rồi!), ông đọc chầm chậm, nhỏ nhẹ bài thơ này. Có lẽ, trở lại với chiều sâu từ trong cảm xúc khi rung cảm để sáng tạo bài thơ và cả từ sự đồng cảm nhận của người nghe nữa, nên ai nấy đều vỡ òa niềm vui sau khi nghe ông đọc hết câu cuối của bài thơ:

Áo đỏ em đi giữa phố đông,

Cây xanh như cũng ánh theo hồng.

Em đi lửa cháy trong bao mắt,

Anh đứng thành tro em biết không?

Bài thơ này được tác giả viết theo thể thơ bốn câu (tứ tuyệt), mỗi câu bảy tiếng, mô phỏng luật trắc, vần bằng, ít nhiều có sắc thái cổ thi, trang trọng, nhưng cũng rất…hiện đại. Tứ tuyệt là thể thơ khó làm. Thơ tứ tuyệt chứa đựng “năng lượng trí tuệ” cao, cấu tứ chặt chẽ và nhất là phải giàu chất hình tượng thơ. Do có tính chặt chẽ trong kết cấu, tính hàm xúc của ngôn từ, tính hàm ngôn trong ý tứ của tổng thể toàn bài thơ, “ý tại, ngôn ngoại” như vậy… nên tự nó đã đặt ra yêu cầu nghiêm nhặt đối với người sáng tác. Bài thơ này đã thể hiện sự hài hòa giữa vẻ đẹp của hình thức thơ mang dáng dấp của thơ cổ điển với nội dung thơ mang hơi thở của cuộc sống hiện đại.

Theo nhà thơ Vũ Quần Phương kể, bài thơ Áo đỏ vụt đến trong một lần nhà thơ đang ngồi đợi cắt tóc ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Bấy giờ, sau trận bom rải thảm của B.52 Mỹ ném xuống con phố này vào tháng 12 năm 1972, cả phố bị tan hoang đổ nát. Đầu năm 1973, dân phố về sửa lại nhà để ở, mái nhà toàn lợp tạm bằng vật liệu “giấy dầu”, trông ảm đạm lắm! Bỗng từ xa, có một cô gái mặc áo đỏ đạp xe đi qua. Sự xuất hiện “bất ngờ” của cô gái áo đỏ ấy làm nhiều người rất vui và dõi ánh mắt nhìn theo. Cả con phố lúc ấy như “bừng sáng”! Có người đang đạp xe qua còn ngoái lại nhìn cô gái cùng với màu áo đỏ tươi rực rỡ ấy…

Câu mở đầu bài thơ (đối với “tứ tuyệt” thường được gọi là câu khai), dường như chỉ là “tả” sự xuất hiện của cô gái đạp xe trên con phố. Nếu bình thường, không biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ như trên thì có lẽ…cũng chẳng mấy ai để ý gì. Nhưng mới ở vào thời kỳ sau chiến tranh tàn phá, đất nước còn nhiều khó khăn về vật chất, các cô gái “diện” lắm cũng chỉ mặc đến chiếc áo màu lòng tôm hay áo màu xanh thôi. Sự xuất hiện của cô gái mặc áo đỏ trong cái không gian trưa ấy quả là đã đem đến một sự khác lạ!

Áo đỏ em đi giữa phố đông

Thế nên, câu thơ này cho thấy dù đi giữa phố đông nhưng cái màu áo đỏ của em vẫn nổi lên như một tâm điểm, có sức thu hút ánh mắt bao người. Đằng sau câu thơ mở đầu này không dừng ở sự “tả” nữa, mà dường như ẩn trong câu thơ còn có thêm một chút ngạc nhiên đến… ngỡ ngàng của người trong phố. Màu áo đỏ không phải ngẫu nhiên xuất hiện ngay ở vị trí mở đầu dòng thơ, mà có lẽ nó đã thể hiện rõ cái hình ảnh đầu tiên tạo nên ấn tượng mạnh nhất đến với cảm nhận của nhà thơ chính là cái màu áo đỏ tươi rực rỡ ấy. Đúng rồi! chiến tranh giờ đây đã đi qua, không khí của hòa bình đã đến. Cuộc sống đã đổi thay. Tín hiệu yên bình đã hiện lên trong sắc màu áo đỏ. Sự xuất hiện bất ngờ của cô gái đã đem đến cho con phố này một niềm vui. Mà không chỉ là niềm vui đến với mỗi con người. Thiên nhiên nơi đây cũng bừng lên sắc hồng theo bóng áo đỏ của người con gái ấy! Câu thơ tiếp theo (câu thừa) ý thơ mở rộng ra đến không gian. Cây xanh cũng ánh lên cái sắc hồng từ màu áo đỏ tươi của cô gái, tạo nên một khung cảnh đẹp rực rỡ, sống động:

Cây xanh như cũng ánh theo hồng

Sắc áo đỏ của cô gái ánh lên đã nhuộm hồng cho cây xanh bên đường. Màu đỏ của áo và màu hồng của cây xanh tuy cùng nằm chung một gam màu, nhưng mức độ đậm nhạt thì có khác nhau. Cây xanh chỉ phơn phớt sắc hồng từ màu áo đỏ. Tác giả cảm nhận thật chính xác và tinh tế! Thiên nhiên, không gian nơi đây như đang được thay màu áo mới: màu đỏ, màu hồng rực rỡ, ấm áp xua đi cái màu đen ảm đạm, xám lạnh của những mái nhà lợp “giấy dầu” trên con phố tan hoang. Hai dòng thơ với ba tính từ chỉ màu sắc: đỏ, xanh, hồng trải đều từ đầu dòng thơ thứ nhất đến đầu dòng thơ thứ hai rồi đến cuối dòng thơ thứ hai, tạo nên một sự hài hòa đến tuyệt vời của sắc màu trong không gian. Không rõ nhà thơ có chủ ý “sắp đặt” các sắc màu hài hòa đến như thế không, hay chỉ là một sự ngẫu nhiên của ngôn từ “ùa” vào thơ? Thực ra, trong sáng tạo thơ, khi nhà thơ đã đạt đến độ chín giữa hiện thực và cảm xúc thì tự nó đã làm cho tác giả “quên chữ…quên câu” (tên một tập thơ của tác giả Vũ Quần Phương). Người ta đã từng nói đến sự dụng công đến diệu kỳ của thi sĩ Tản Đà trong bốn dòng thơ đầu của bài thơ Thề non nước, khi ông đặt các từ nonnước ở các vị trí đầu dòng thơ, rồi giữa dòng thơ và ở cuối dòng thơ!.

Cái màu áo đỏ như lửa của cô gái ấy có sức lan tỏa đến mãnh liệt làm sao! Từ một ngọn lửa đỏ áo em, giờ đây đã nhân lên thành những ngọn lửa trong ánh mắt của bao người:

Em đi lửa cháy trong bao mắt

Dòng thơ thứ ba, trong cấu trúc của thơ tứ tuyệt là câu chuyển. Ở câu thơ này, ý thơ cũng  đã chuyển sang hướng mới, mức độ cao hơn. Màu áo đỏ rực rỡ kia đã tạo nên thành màu lửa, cháy trong ánh mắt nhìn theo của bao người trong phố. Cái màu áo đỏ ấy đã mang đến nơi đây bao nhiêu niềm vui, niềm hy vọng của cuộc sống mới đang dần hồi sinh…

Nhà thơ Vũ Quần Phương bộc lộ, ban đầu ông chỉ muốn mượn màu áo đỏ và hình ảnh cô gái kia để nói về cuộc sống đã đổi thay sau chiến tranh, không có ý định làm một bài thơ tình. Và nếu quả như vậy thì đến đây, có thể nói ý thơ của toàn bài đã làm tròn “nhiệm vụ” của nó. Nhưng, vẫn theo nhà thơ, chẳng biết chữ nghĩa nó dẫn dắt thế nào mà sang câu cuối, nhà thơ đã “thi tình hóa” cái ý ban đầu:

Anh đứng thành tro, em biết không?

Câu kết (câu hợp) trong thơ tứ tuyệt có chức năng “đóng” lại tứ thơ, khép lại nội dung toàn bài. Tuy nhiên, với những thi nhân “cao tay”, câu kết thường tạo dư ba, “đóng” mà vẫn “mở”. Đọc dòng kết bài thơ Áo đỏ của Vũ Quần Phương nhiều người cũng có cảm giác đến… ngỡ ngàng, như khi tác giả nhìn thấy màu áo đỏ của cô gái trên đường phố Khâm Thiên! “Ngỡ ngàng” bởi cái hình ảnh đứng thành tro của nhà thơ trước cái màu áo đỏ rực rỡ như lửa đã nhuộm hồng cây xanh, nhuộm đỏ ánh mắt bao người và ánh mắt anh!

Cái “tôi” nghệ sĩ của nhà thơ Vũ Quần Phương thật táo bạo và mãnh liệt và… đa tình! Nhà thơ sững sờ đứng nhìn theo bóng áo đỏ với bao luyến tiếc, để rồi cảm thấy như toàn thân mình tan biến, bùng cháy… đến thành tro. Nhưng ngẫm cho kỹ, câu thơ thể hiện cảm xúc mãnh liệt là vậy mà vẫn có một mức độ tỉnh táo nhất định của người viết. Câu hỏi: em biết không? kết thúc bài thơ chính đã cho thấy điều này. Điều thú vị là ở dòng thơ 3 và 4 có một tiểu đối giữa hai dòng: Em đi lửa cháy…/ Anh đứng thành tro… Em đi đến đâu, ánh mắt của “thiên hạ” cháy theo đến đấy. Còn anh, ánh mắt chạm vào em, anh thành bất động, cứ đứng nguyên mà cháy, cháy không thấy lửa thành tro toàn thân! Trong một lần  trò chuyện với người viết bài này, nhà thơ bộc lộ ý nghĩ của mình như sau: “Cái mẽ ngoài nguyên vẹn thế mà đụng vào thành bụi cả rồi. Ý thơ hài hước, ca ngợi cô gái, nhưng lại kèm cái “nháy mắt” với xung quanh. Sắc thái hóm hỉnh ấy nghĩ cũng cần cho tư thế của anh con trai. Anh dùng những lời có cánh nhưng cũng biết cái sự “xa xỉ” của mình. Cô gái có thể nhận ra điều đó mà không giận. Vì ý thơ lại dựa trên một chân lý cao cả là ý thức dám trả giá cho hạnh phúc. Cái sự “tán tỉnh” xưa nay cần có nghiêm, có nghỉ là vậy. Toàn nghiêm coi là thật cả thì thành ra nói xạo. Mà toàn nghỉ thì thành tán dông dài…”.

Nhìn lại tổng thể toàn bài thơ, đến đây ta nhận thấy, bài thơ có cấu trúc lôgic bên trong và lôgic bên ngoài rất chặt chẽ. Về logic bên trong, màu đỏ dễ gợi liên tưởng đến màu lửa cháy. Hình tượng trong bài thơ Áo đỏ vận động theo cấu trúc lôgic bên trong này. Còn các động từ diễn tả tác động mãnh liệt của màu áo đỏ của cô gái lại phát triển theo một lôgic bên ngoài hợp lý, từ thấp lên cao: màu áo đỏ ấy ban đầu ánh vào cây xanh, rồi tiếp đến cháy trong bao mắt người nhìn theo và cuối cùng là đã làm toàn thân anh biến thành tro bụi! Tương tự, chủ từ tương ứng cũng tác động theo một lôgic diễn tiến từ xa đến gần. Bắt đầu từ xa là thiên nhiên (cây xanh), rồi đến người ta (bao mắt) và chủ thể gần nhất là anh. Với một bố cục hợp lý và lôgic như thế, bài thơ Áo đỏ có một ý vị riêng.

Không chỉ Áo đỏ mà nhiều bài thơ ngắn của Vũ Quần Phương tiếp nối gần đây cũng vẫn phong cách ấy: thấm đậm chất trí tuệ, có cấu tứ chặt chẽ và tư tưởng nghệ thuật của tác giả đều chủ yếu bộc lộ qua hình tượng thơ. Bài “Cửa bể”:

Đến đây gần biển xa nguồn

Con sông chảy chậm, nỗi buồn tan lâu.

và bài : “Qua Phan Rí”:

Găng tây mọc với xương rồng

Giữa vùng cát cháy, giữa vùng nắng phơi

Muốn mang chút bóng che người

Phải thành gai nhọn xé trời mà lên!

là những bài thơ như thế!

Người ta cũng đã từng nói đến tính triết lý trong thơ Vũ Quần Phương. Điều đó đúng cả đối với bài thơ tình này của tác giả. Bài thơ Áo đỏ cùng với nhiều bài thơ khác sau này đều thể hiện phong cách nhất quán đó của nhà thơ. Ẩn trong 28 chữ của bài thơ này là một “thông điệp” đầy chất suy nghĩ của Vũ Quần Phương. Tác giả cho rằng: bài thơ này đã nói lên một điều muôn thuở trong tình yêu là: đã đến với tình yêu thì phải mãnh liệt, phải “dám chết” đến mức cháy… thành tro! Nữ sĩ Xuân Hương trước đây trong bài thơ Mời trầu cũng đã chả thể hiện một khát vọng cháy bỏng cho một tình yêu đích thực “Có phải duyên nhau thì thắm lại” đấy thôi!

Có một chủ đề “kép” trong bài thơ Áo đỏ này của Vũ Quần Phương. Niềm vui về một sự đổi thay của cuộc sống sau chiến tranh và một tình yêu cháy bỏng! Và tất cả đều cháy lên mãnh liệt trong bài thơ này của tác giả!

 

Hải Phòng, tháng 7/ 2014

N.Đ.T

Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống VHVN - Dương Thị Huyền

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt, nhất là khi nền văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất rõ nét từ nền văn hóa truyền thống thì “nguyên lý tính Mẫu” trong mỗi thời kỳ văn học được biểu hiện thông qua việc thể hiện hình tượng người phụ nữ với vai trò không thể thay thế được họ trong đời sống hàng ngày...

Đọc thêm...

Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng trong Văn học dân gian người Việt

Trong VHDG con người không chỉ thể hiện thái độ ngưỡng mộ đối với lực lượng và sức mạnh siêu nhiên huyền bí đó mà còn thể hiện cả khát vọng muốn vươn lên khám phá bí ẩn của siêu nhiên, tự nhiên và chinh phục thế giới đó.

Đọc thêm...

“Cây chuối”, bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi và lời bình Xuân Diệu

Đã có hàng trăm ý kiến xung quanh cách hiểu bài thơ này, nhưng đến nay vẫn chưa có hồi kết. Nhân ngày xuân, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu lại bài thơ “Ba tiêu” và kèm theo là lời bình của cố nhà thơ Xuân Diệu, để giúp bạn đọc thấy được sự tuyệt vời của thi phẩm và có một điểm tựa, trước khi tìm ra những tầng nghĩa hàm súc tuyệt vời hơn từ bài thơ này.

Đọc thêm...

Vài nét về văn xuôi mạng Việt Nam - Trần Thị Hồng Hoa

Văn học mạng Việt Nam bao gồm các bài đăng ở nhiều lĩnh vực như thơ ca, văn xuôi, lí luận phê bình và dịch thuật. Nhưng chúng tôi nhận thấy, các tác phẩm văn xuôi trên mạng (bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, các thể loại kí như tản văn, tạp văn, bút kí, chân dung văn học…) có nhiều giá trị và nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ phía độc giả so với các lĩnh vực còn lại.

Đọc thêm...

Chủ nghĩa siêu thực, phong trào cách tân văn học quan trọng trong thế kỷ XX - Trần Hoàng Hoàng

Các nhà văn siêu thực xây dựng tác phẩm hoàn toàn dựa trên những thủ pháp như: Sự tương tự, cái nghịch lý, sự bất ngờ, sự thống nhất những cái không thể thống nhất được; qua đó, xuất hiện một bầu không khí nghệ thuật đặc biệt có tính huyền ảo, phi lý...

Đọc thêm...

Những bất cập và thái quá trong nghiên cứu văn học hiện nay - Nguyễn Thị Tịnh Thy

Đời sống văn học không thể thiếu phê bình, nghiên cứu. Nếu xem “tác phẩm văn học như là quá trình”(1) thì phê bình và nghiên cứu là một khâu quan trọng trong chuỗi quá trình đó.

Đọc thêm...

Nhà văn đạt giải Noben văn học bàn về thơ

Bài thơ là thứ bất khả giải, không phải thứ bất khả thụ.   
Bài thơ là ngôn ngữ nhịp điệu – không phải một thứ ngôn ngữ có nhịp điệu (giống như bài hát) hay đơn thuần chỉ là nhịp điệu của lời (một đặc điểm chung cho mọi ngôn ngữ, bao hàm cả văn xuôi).

Đọc thêm...

Dòng chảy kì ảo trong tiến trình văn học Việt Nam - Bùi Thanh Truyền

Trong văn học, kì ảo là nguyên tắc dụng ngôn theo lối ẩn dụ: lấy cái siêu, cái ảo để nói cái thường, cái thực, là một phương cách sáng tạo, một kiểu tư duy, nghiền ngẫm hiện thực của nghệ sĩ.

Đọc thêm...

Tiểu thuyết về chiến tranh viết sau năm 1975 - Tôn Phương Lan

Năm 1975 là năm khép lại một thời kỳ lịch sử vinh quang của dân tộc, cũng là năm mở ra một thời kỳ mới cho sáng tác văn học trong yêu cầu tái tạo lại thời kỳ lịch sử này.

Đọc thêm...

Sức hấp dẫn của văn xuôi phi hư cấu - Huỳnh Như Phương

Trong văn bản phi hư cấu, người trần thuật luôn là người chứng kiến câu chuyện được kể lại. Đó không phải là câu chuyện được tưởng tượng mà là những sự kiện, biến cố có thật

Đọc thêm...

Từ nhân vật truyền thuyết đến nhân vật trong thần phả

Từ nhân vật truyền thuyết đến nhân vật trong thần phả là một quá trình sáng tạo, hoà đồng chuyển hoá giữa văn học dân gian và văn học viết.

Đọc thêm...

Toàn cảnh thi pháp học - Trần Đình Sử

Thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong ngành nghiên cứu văn học thế kỉ XX, tuy có cội nguồn xa xưa nhưng đã được cải tạo triệt để, mang nội dung mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử.

Đọc thêm...

Tiếp cận bản chất trò chơi của văn học - Trần Ngọc Hiếu

Tiếp cận bản chất trò chơi của văn học (Những gợi mở từ công trình Homo Ludens của Johan Huizinga) của tác giả Trần Ngọc Hiếu đã in lần đầu trên tạp chí Nghiên cứu văn học 11-2011, từ trang 16-27. Bản đăng dưới đây là  bản đầy đủ.

Đọc thêm...

Thơ đương đại với xu hướng đi vào vùng mờ tâm linh - Nguyễn Thanh Toàn

 

Xu hướng tìm về tâm linh là sự hình thành dựa trên những yếu tố cơ bản đã nêu. Thêm vào nữa là thời điểm, hoàn cảnh để cái tâm thức được giãi bày. Từ việc tổng hòa các “khâu” các “phần” và cả điều kiện thực tại thì vấn đề tâm linh được tìm đến như một như cầu, một xu hướng tất yếu. Và nó phát triển là nhờ vào quy luật vận hành ấy.

Đọc thêm...

Thơ tự do - từ Nguyễn Đình Thi đến các xu hướng cách tân sau 1975 - Dương Thị Thuý Hằng

Có thể nói, kể từ sự khẳng định một cách rõ ràng của Nguyễn Đình Thi về vị trí của thơ tự do trên cả hai phương diện lập ngôn và thực hành ở thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, thơ tự do đã có sự phát triển liên tục và phổ biến trong đời sống thơ ca Việt Nam.

Đọc thêm...

Thuyết tạo dựng Chúa và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Trần Thị Phương Phương

Bởi vậy, có thể là điều lạ đối với nhiều người khi nói về mối liên hệ không phải đối kháng, phủ định, mà là kế thừa, cải biến giữa chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với tôn giáo – một hiện tượng mang tính duy tâm chủ nghĩa, ở nơi nó được sinh ra là nước Nga và ở tác gia được xem là cha đẻ của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là Maxim Gorky.

Đọc thêm...

Xin chào Thơ, giữa con đường - Nguyễn Thị Thanh Xuân

Bằng thơ, các nhà cách tân trẻ như muốn nói chúng ta: Không thể như cũ được nữa. Chúng tôi muốn thay đổi. Và trước hết là thay đổi thơ ca, từ quan niệm nghệ thuật đến cách viết. Chúng tôi muốn tự do.

Đọc thêm...

Về một vài khái niệm của chủ nghĩa Hậu hiện đại - PGS.TS. Lê Nguyên Cẩn

Một điều quan trọng nữa là lát cắt này sẽ xác lập các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trước hết là khái niệm đại tự sự: “Nói một cách thật đơn giản “hậu hiện đại” là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự”

Đọc thêm...

Quá trình sưu tầm và nhận thức lý luận đối với sử thi ở Việt Nam - GS TS Nguyễn Xuân Kính

Sưu tầm và nhận thức lý luận là hai công việc có tác động lẫn nhau. Công tác sưu tầm sẽ đạt được kết quả tốt nếu có sự soi đường của nhận thức lý luận, sự hiểu biết về lý luận.

Đọc thêm...

“Bậc hiền triết – con chó xồm” hay kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp - Bài của GS.TS. Lê Huy Bắc

Điều này góp phần giải thích tại sao các nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp đa phần ăn nói lỗ mãng, cay nghiệt với cuộc đời nhưng sau hết, tác phẩm của ông luôn toát lên cái nhìn độ lượng, cảm thông, tin tưởng vào cuộc đời. Có lẽ, hơn ai hết, Nguyễn Huy Thiệp thấm thía sâu sắc lẽ đời về triết lí con chó xồm bậc hiền triết kia.

Đọc thêm...

Nhìn lại văn học Việt Nam 15 năm qua - Nguyễn Hữu Quý

Trong 15 năm qua, trình độ cảm thụ văn chương của người viết, người đọc tăng lên. Hình như người ta đã vượt qua được những ngộ nhận, ấu trĩ trong nhận thức về sáng tạo văn học trước đây để làm ra những tác phẩm gần với đời hơn.

 

Đọc thêm...

Một số phương diện nghệ thuật của thơ haiku và lục bát, ngũ ngôn tứ tuyệt, ghazal từ góc nhìn so sánh - TS. Nguyễn Thị Mai Liên

Trước hết phải khẳng định rằng trong văn chương không hề có thể loại nào là quý tộc, bác học, thể loại nào là bình dân, ít học. Tuyệt tác văn chương có thể là một tiểu thuyết trường thiên, cũng có thể là một bài thơ ngắn vẻn vẹn 17 âm tiết.

Đọc thêm...

Vấn đề của mọi nhà văn là viết ra những câu chuyện có thể tin được - G.G. Marquéz

García Márquez chia sẻ nhiều câu chuyện về hành trình đến với nghề viết văn, mối liên hệ giữa công việc của một tác giả sáng tác hư cấu với công việc của một ký giả mà ông vẫn luôn theo đuổi

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Đàn bà ngạo nghễ như nắng tuôn trào bình minh long lanh giọt lệ để mưa nguồn...
Hình ảnh
Ngoài khói bụi thì những tiếng ồn từ các động cơ  phát ra đến đình tai, ...
Hình ảnh
Về nhé chiều mưa cho lênh loang kí ức màu xưa cũ tình thênh thang đã mấy mùa...
Hình ảnh
Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi...
Hình ảnh
  Nhìn thấy nó và hai em bên bà Lợp, cậu mừng quá, nói như mếu: -  Ối đây...
Hình ảnh
Mềnh muốn tranh cãi gì đó với Sói nhưng lại thôi. Chỉ lặng lẽ đội...
Hình ảnh
Chủ quán có ba cô con gái. Ba cô thấy ngỗng thì thắc mắc không hiểu là chim...
Hình ảnh
Nàng tới hết nhà này sang nhà khác, nhưng khi nghe tiếng chuông reo trong đêm...
Hình ảnh
Sáng 15/7 tại Làng Văn hóa Vân Tra, CLB Thơ Lục bát Hải Phòng đã tổ chức buổi...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2791
mod_vvisit_counterHôm qua6439
mod_vvisit_counterTất cả10407956
Hiện có 178 khách Trực tuyến