Mạc Đăng Dung – tiểu thuyết của Lưu Văn Khuê – Kì 20

Đăng Dung nín lặng hồi lâu rồi nói:

– Chúng ta vất vả ở đây cũng là vì triều đình, mấy kẻ ở Bộ Hộ không biết sao? Phạm Gia Mô đã lường trước chuyện này, nay quả nhiên không sai….(Tiếp kì 20)

Đăng Dung nín lặng hồi lâu rồi nói:

– Chúng ta vất vả ở đây cũng là vì triều đình, mấy kẻ ở Bộ Hộ không biết sao? Phạm Gia Mô đã lường trước chuyện này, nay quả nhiên không sai. .(Tiếp kì 20)

Xong xuôi, chọn ngày tốt, Mạc Đăng Dung cất quân chia làm ba ngả lên đường. Đăng Dung đích thân dẫn một cánh quân, sai Đinh Mông làm tiên phong, Lê Bá Ly làm Tán lý quân vụ, tiến đánh thành Xương Giang. Mạc Đốc, Nguyễn Kính đánh Thái Nguyên, sau đó theo lối Võ Nhai sang hội quân cùng Đăng Dung ở Cần Trạm để cùng tới Chi Lăng. Mạc Quốc Trinh, Mạc Đĩnh Khoa đánh Lục Nam, Lục Ngạn, sau đó theo đường tiểu mạch tới Hữu Lũng rồi cũng hội quân cùng đánh Chi Lăng. Mạc ích Trưng  đôn đốc quân lương.

Bị thua ở Đông Triều, Trần Cảo chạy lên mạn Bắc, chiếm mấy huyện ở Bắc Giang, sau đó đánh sang Thái Nguyên và tiến lên Lạng Sơn. Triều đình lúc này đang rối ren, hết Trần Chân lại Lê Do, Trịnh Tuy, Nguyễn Kính làm phản nên Trần Cảo lập cung điện ở Lạng Nguyên mặc sức tung hoành suốt 5 năm trời. Sau đó Cảo học theo vua Nhân Tông đời Trần, truyền ngôi cho con là Trần Thăng rồi cạo đầu làm sư, cùng với sư cũ của chùa Quỳnh Lâm là Công Uẩn lên núi đi tu, không ai biết tu ở chùa nào, từ đấy hoàn toàn mất tăm mất tích. Trần Thăng còn có tên là Cung, là con trưởng của Trần Cảo sau khi lên ngôi, cùng đám tay chân cũ của Cảo là Công Chinh, Thọ Sơn, Đình Tá lại càng hoành hành hơn trước, chẳng bao lâu đã có trong tay hàng vạn binh mã, chiếm cả một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở.

Hơn một tháng trời, dọc đường quân triều đình đi qua, nơi nào địch chủ tâm kháng cự mới tiêu diệt còn thì dùng lời lẽ quy hàng những kẻ làm phản và phủ dụ dân chúng; quan lại trước đây chỉ những kẻ thông đồng làm phản mới bắt giết, còn những ai không cố ý, chỉ vì sợ hãi mà theo thì dùng lại. Do vậy ba đạo quân chẳng mấy chốc đã gặp nhau ở Hữu Lũng.

Nói chuyện với Đăng Dung, Mạc Đốc khen Nguyễn Kính:

– Không có Nguyễn tướng quân chưa chắc hôm nay em tới được đây.  Đường toàn đường núi rậm rạp, tướng quân đi trước mở đường. Tới Thái Nguyên, Thân Anh Kiệt và Nông Văn Toàn cố thủ trong thành không chịu ra đánh. Nguyễn tướng quân bảo làm cho mình một chiếc xe cao ngang mặt thành, rồi cùng mười dũng sĩ chỉ mang mã tấu và mộc lên xe; người bên dưới đẩy xe tới sát tường thành, giặc bắn tên, Nguyễn tướng quân và các dũng sĩ lấy mộc đỡ được hết rồi tất cả nhảy lên thành quyết chiến, mười một người chống lại trăm người và xuống mở cổng thành cho đại quân tràn vào.

Nguyễn Kính nói:

– Tôi vốn có tội với triều đình, được Tiết chế tướng quân xin với nhà vua tha mạng, lại thu nạp làm tướng dưới trướng, ơn ấy không sao kể xiết, một chút công lao thì đáng kể gì. Mạc Đốc tướng quân mới thực sự là dũng tướng khó ai bì nổi.

Đăng Dung bảo:

– Ta được Nguyễn tướng quân thật như Lưu Bị ngày trước được Triệu Tử Long vậy. Cánh quân của ta đánh thành Xương Giang nếu không có tướng quân Đinh Mông cũng chưa chắc xong nổi bởi Xương Giang ngày trước giặc Minh đóng nên củng cố thành quách vững chắc lắm. Đinh tướng quân bắc thang trèo lên thành, dùng dây xích đeo truỳ quăng đâu trúng đó, giặc cách xa đến hơn mười bước chân vẫn chết như thường, khi quay xích thành vòng tròn quanh mình thì không một kẻ nào dám gần, bao nhiêu tên bắn tới đều bị dây xích đánh văng đi hết. Thật ta chưa thấy một ai giỏi đến thế.

Hành quân tới Chi Lăng thì trời đã tối, Đăng Dung cho quân hạ trại trên cánh đồng ruộng bậc thang. Mùa này khô cạn nên ruộng để không, lác đác mới có nơi trồng ngô. Lúc ấy đã gần cuối thu, dưới xuôi còn chưa lạnh nhưng ở đây đêm đến sương xuống rất buốt, nhiều người rét không ngủ được phải trở dậy đốt lửa sưởi, sáng ra thấy cành cây ngọn cỏ phủ một lớp trắng mới biết là sương muối.

Đầu giờ tị hôm sau quân triều đình đến cửa ải thúc trống khiêu chiến. Quân Trần Thăng đóng kín cửa ải nhất định không ra, quân triều đình đến gần thì chúng bắn tên xuống dày như lông nhím và còn chọc tức rằng: “Đây rừng tre rừng vầu bạt ngàn, tên của chúng ta vô số, bắn hàng chục năm không hết nhá! Tên lại đem ngâm nước đái lâu ngày, kẻ nào trúng phải chỉ có thối thịt mà chết!”. Chúng nói không sai, nhiều người bị tên dù chỉ bị nhẹ và đã được rịt thuốc, chỗ bị thương vẫn sưng đỏ lên rồi mưng mủ. Bị thương ở tay còn chịu được, bị ở lưng ở ngực ở bụng và nhất là ở đầu có người sau đó khoảng chục ngày đã chết. Năm sáu hôm liền như vậy. Trong khi đó lương thảo sắp cạn mà mãi không thấy Mạc ích Trưng cho xe lương lên. Bữa ăn phải bớt dần. Bụng đói cật rét, nhiều người tưởng không thể cầm nổi vũ khí. Quân sĩ bắt đầu hoang mang. Có người bàn sai quan bản xứ lấy thóc gạo của dân. Mạc Đăng Dung nói:

– Mạn ngược ruộng ít, thóc gạo chỉ đủ ăn nên chưa bao giờ triều đình bắt dân chúng cung nạp cho triều đình, mà thay bằng các sản vật trên rừng. Nay đi lấy thóc gạo của dân, dân sẽ ta thán, vô tình đẩy họ theo giặc Thăng.

Lê Bá Ly bảo:

– Tôi về kinh đô một chuyến xem sao.

Đang lúc ấy xe lương từ dưới xuôi lên tới nơi nhưng chẳng được bao nhiêu, áng chừng chỉ qua được vài ba ngày. Họ chuyển lời Mạc ích Trưng nói rằng bị Bộ Hộ gây khó khăn. Phạm Gia Mô kêu với vua, nhà vua bảo đấy không phải là việc của Bộ Lễ! Phạm Gia Mô và Mạc ích Trưng đành bó tay, chỉ  biết cho người nói với Đăng Dung, bàn hãy rút quân.

Đăng Dung nín lặng hồi lâu rồi nói:

– Chúng ta vất vả ở đây cũng là vì triều đình, mấy kẻ ở Bộ Hộ không biết sao? Phạm Gia Mô đã lường trước chuyện này, nay quả nhiên không sai.

Đăng Dung liền viết tấu để Lê Bá Ly mang về kinh dâng vua đồng thời sai người đi gấp về Hải Dương yêu cầu Tổng trấn Nguyễn Bỉnh Đức điều gấp tới  hai vạn thạch lương.

Lê Bá Ly đi được dăm hôm thì một chiều, có đoàn sứ giả triều đình từ kinh đô lên, Đăng Dung tiếp ở bản doanh. Chánh sứ trao cho Đăng Dung sắc chỉ của vua. Sắc viết:

“Trẫm thường nghe: Vì nước trừ bạo tàn, không quản nơi nguy hiểm, đó là chức trách của người làm tướng. Cho nên Điền Đan nước Tề dấn thân nơi tên đạn mà nước Địch quy hàng; Lý Tố nhà Đường xông pha gió sương mà bình định Hoài Sái. Các tướng ấy đều bảo vệ xã tắc và có công lớn với thiên hạ.

Khanh là người trẫm trông cậy. Nay giặc Thăng tụ tập dư đảng, chiếm cứ vùng Thái Nguyên, Lạng Sơn, triều đình phong cho khanh làm đô tướng, tiết chế các doanh thuỷ lục trong thiên hạ, chia đường đi đánh dẹp, vượt sông núi, gội gió mưa, phá quân giặc ở huyện Phượng Nhãn và Bảo Lộc, những  nơi khanh đi qua binh sĩ không hề xâm phạm của dân một mảy may, các dân xã đó đều đã hàng phục. Đã mấy lần nhận được thư tâu thắng trận, trẫm rất khen ngợi.

Về việc quân lương chậm trễ trẫm đã trách cứ Bộ Hộ, mấy hôm nữa lương sẽ tới nơi, không thiếu một hạt gạo.

Nay sai Thiếu bảo Binh bộ thượng thư Cẩm Sơn hầu Lê Thúc Hựu, Tư lễ Tổng thái giám kiêm Tài dụng khố sự Lê Khoái và Tả thị lang Đông các đại học sĩ Nguyễn Quýnh đem tờ sắc chỉ này úy lạo khanh cùng tướng sĩ các doanh và 100 lạng bạc để khanh thưởng cho kẻ có công.

Khi nhận tờ sắc này, khanh nên thể theo ý trẫm: Lấy điều trung nghĩa khiách lệ tướng sĩ, đồng tâm hiệp lực, lập kế bắt giặc. Chỉ cốt bắt cho bằng được chính tên giặc Thăng, còn những kẻ a tòng đều tha cho hết thảy. Quét sạch tận sào huyệt bọn giặc ẩn núp đã lâu năm; cứu vớt dân địa phương khỏi lầm than, được an cư lạc nghiệp, để thông đường đi sứ, để trọn vẹn chiến công. Như vậy thì công danh của khanh sẽ vang lừng vũ trụ, tước lộc của khanh sẽ lưu truyền mãi mãi tới con cháu đời sau.”.

Đăng Dung nhận chỉ, mời đoàn sứ giả cùng ngồi bàn việc. Đăng Dung nói:

– Hoàng thượng ban thưởng cho tướng sĩ tuy chỉ có 100 lạng bạc nhưng thật đúng lúc. Tuy nhiên cái lúc này tôi cần là lương thảo chứ không phải tiền bạc, sao việc ấy lại chậm vậy?

Đám sứ giả bảo họ không biết chuyện ấy.

Đúng lúc đó xe lương của Hải Dương tới, đủ hai vạn thạch; Tổng trấn  Nguyễn Bỉnh Đức còn có thư gửi theo. Đăng Dung xem thư gật đầu tâm đắc rồi bàn riêng với một số tướng lĩnh, sau đó mời toàn bộ các tướng và sứ giả triều đình tới trướng.Đăng Dung nói:

– Trước mặt là Chi Lăng, chính là nơi xưa vua Thái Tổ đánh mười vạn quân Minh không còn mảnh giáp, tướng giặc là Liễu Thăng bị chém chết bên sườn núi Mã Yên, chính sử nhà Minh viết chỉ còn mỗi Chủ sự là Phạm Hậu thoát chết về được nước. Ta thắng lớn thế một phần cũng bởi địa thế Chi Lăng hiểm yếu, thủ dễ mà công thì khó. Hãy xem, thung lũng nhỏ hẹp, một bên núi đá dựng đứng, một bên là con suối nhỏ bên kia suối là cánh đồng và năm ngọn đồi thấp. Nay Trần Thăng chiếm giữ cửa ải và cả núi cao cùng năm ngọn đồi nên chúng giữ lợi thế. Cũng như cha y trước đây là Cảo, Thăng  quyết chí phản Lê phục Trần nên liều chết. Triều đình cũng quyết không tha cho y. Thuyết hàng không được, đánh cũng không được, vậy các tướng ai có mưu kế gì không?

Các tướng không ai nói gì. Đăng Dung gạn hỏi mấy lần, Mạc Đốc mới thưa:

– Dọc đường các tướng có bàn: Chúng ta vừa hành quân vừa chinh chiến dọc đường, suốt gần hai tháng nay đã vô cùng mỏi mệt, đến đây lại không quen thung thổ, nhiều người không chịu được rét, nhiều người đã bị ngã nước, mấy hôm rồi lại ăn uống dè dặt vì sợ lương không đủ. Giặc lại nhất định không chịu ra đánh. Chi bằng hãy tạm rút về, sau rồi sẽ liệu.

Các tướng một số người hùa theo Mạc Đốc. Đăng Dung nói với đoàn sứ giả:

– Các ông nghe cả rồi đấy, để các ông về tâu với nhà vua. Tôi muốn đánh, các tướng không muốn thì biết làm sao. Không phải các tướng thoái chí mà bởi Chi Lăng hiểm yếu quá, thời tiết lại không chiều người!

Binh bộ thượng thư Lê Thúc Hựu xụt xịt vì cảm lạnh, nói:

– Hoàng thượng cho tôi đi với đoàn sứ giả là có ý giúp Tiết chế. Hôm qua tôi có xem xét địa thế, thấy một bên núi đá dựng đứng, một bên là suối, giữa là con đường độc đạo rộng chỉ vừa năm người dàn hàng ngang đi sát nhau. ải xây chắn ngang đường, cửa ải nếu mở toang cũng chỉ chiếc xe ngựa đi lọt. Giặc trên ải do vậy mười người chống nổi trăm người. Dẫu có qua được ải thì cũng bị giặc phục kích trên núi bắn tên hay lăn đá xuống, mười phần phải chết đến chín! Thật khó! Tất nhiên có thể qua suối sang bên kia dàn quân trên cánh đồng nhưng năm ngọn đồi lại bị giặc chiếm giữ, có chiếm được cũng khá tổn thất. Vậy nên lui binh chờ ra Giêng ấm áp quay lại đánh cũng là một cách.

Đăng Dung bảo:

– May Thượng thư có lời không thì tôi lại mắc tội với triều đình vì không cố gắng. Nay tôi cho quân lui, về nghĩ thêm cho chu đáo, sang năm hứa lại bắc phạt cho đến khi diệt được giặc Thăng mới thôi.

Tổng thái giám Lê Khoái phản đối:

– Chính tôi tâu với Hoàng thượng xuất kho lấy bạc thưởng cho tướng sĩ, tưởng tướng sĩ quyết tâm hơn ai ngờ lại bàn lùi, thật uổng công của tôi và phụ lòng mong mỏi của Hoàng thượng!

Đăng Dung đứng dậy:

– Ông bảo uổng công của ông, vậy máu xương của quân sĩ đổ ra họ có kể công không?

Đám sứ giả không ngờ Đăng Dung lại cho rút quân nên kẻ chê người trách Đăng Dung, trách cả Lê Thúc Hựu vẽ đường cho hươu chạy.

Trưa hôm sau chờ cho nắng lên, Đăng Dung đổi hậu quân thành tiền quân rồi rút lui. Đi gần hai canh giờ thì dừng lại cho quân lính thổi nấu và nghỉ ngơi, mỗi người còn được phát nắm cơm lớn nhưng có lệnh mới được ăn. Khoảng gần sáng phía Chi Lăng bỗng sáng rực, Đăng Dung liền thúc trống, lệnh cho quân sĩ cấp tốc quay lại, ai đói lấy cơm nắm mà ăn.

Thì ra Đăng Dung giả cách rút quân nhưng cho một trăm quân tinh nhuệ mặc thật ấm nằm phục dọc theo bụi rậm bên bờ suối, đến gần sáng địch thấy quân triều đình rút đã xa liền mở cửa ải, lập tức một trăm quân mai phục do Mạc Đốc, Đinh Mông, Nguyễn Kính chỉ huy nhất tề xông lên quyết chiến chiếm lấy ải và đốt lửa gọi đại quân quay lại.

Bởi đã cách ải khá xa nên phải tới gần canh giờ đại quân triều đình mới đến nơi. Lúc đó một trăm binh sĩ chết chỉ còn chưa đầy mười người nhưng đã chiếm được ải và một dải ven suối. Trần Thăng đốc quân chiếm lại ải. Đinh Mông đứng giữa đường dùng truỳ xích ngăn địch nhưng rồi có đứa nắm được dây xích, Đinh Mông phải bỏ truỳ dùng dao ngắn đánh địch nhưng vì chúng đông quá nên không chống lại nổi và bị giết. Địa thế chặt hẹp, có lúc không thể dùng nổi vũ khí nên quân hai bên cứ thế ôm nhau dồn vào vách núi, đẩy xuống sông, nhặt đá đập nhau đến chết, dìm nhau xuống nước cho ngạt thở. Đến trưa, vì đại quân triều đình tới đông nên Trần Thăng núng thế bỏ chạy. Quân triều đình tràn xuống thung lũng đánh chiếm năm ngọn đồi và truy đuổi Trần Thăng đến cùng. Trần Thăng chạy lên châu Thất Nguyên, sau đó bị quân tuần tiễu của triều đình bắt được, bỏ cũi giải về kinh sư. Đăng Dung không dừng lại, vượt sông Kỳ Cùng, tiến lên tận ải Nam Quan.

Bây giờ Đăng Dung mới đưa cho mọi người xem thư của Nguyễn Bỉnh Đức. Bỉnh Đức bày kế “giấu trời qua biển”, “ngầm vượt bến Trần Thương” giả cách lui quân và cho phục binh chiếm ải. Đăng Dung đã nghĩ đến kế đó từ trước và bày cho Mạc Đốc và các tướng làm như thoái chí để lừa giặc. Tổng thái giám Lê Khoái lấy làm bực vì Đăng Dung bí mật kế ấy với mình. Đăng Dung bảo:

– Ở đây lạ nơi lạ chốn, tai vách mạch dừng, xin quan Tư lễ nghĩ đến việc lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ nhặt.

Quân triều đình khải hoàn trở về kinh sư.

L.V.K

(Còn tiếp)

Bài viết khác

Trả lời