Nhà văn Nguyên Hồng thuở học trò và khi làm thầy – Lưu Văn Khuê

 

Nguyên Hồng (1918 – 1982) sinh ra, lớn lên và trải suốt tuổi học trò ở thành phố Nam Định; năm 12 tuổi (1930), bố mất, sau đó mẹ vào Thanh Hoá và đi bước nữa, Nguyên Hồng ở với bà, vừa học vừa lo kiếm sống.
Nguyên Hồng đã trải qua một tuổi thơ cùng cực, buồn tủi và vượt qua bằng nghị lực hiếm thấy. Hồi nhỏ Nguyên Hồng kiếm sống bằng trò đánh đáo, lúc đầu chơi toàn thua, sau tìm ra cách đánh độc đáo nên trăm bận thắng cả trăm, tiền nong rủng rỉnh. Trong hồi ký Những ngày thơ ấu (1941) ông dành hẳn chương “Đồng xu cái” nói về chuyện ấy: “Một túi áo tôi lèn đầy xu, nặng đến nỗi mỗi lần tôi cúi xuống dọi đồng chinh, tay trái tôi phải túm chặt lấy miệng túi để xu khỏi dốc ra và tôi phải nâng túi lên cho khỏi vướng… Đồng xu cái ấy không khi nào rời khỏi tay tôi. Khi tan đáo, tôi cạy hết bùn đất nhét vào các khe chữ, rồi rửa xu xong, tôi lau chùi thật khô, thật bóng, đoạn mới cho vào cái hộp sáp mỏng, cất trong túi. Cẩn thận hơn, vài ngày một lần tôi dúng nó vào thuốc đánh đồng rồi lấy dạ mỏng cọ xát hàng giờ. Giơ đồng xu lên ánh nắng, nó lấp lánh như bằng vàng diệp. Nó còn quý hơn vàng. Vì nhờ nó mà mỗi ngày tôi kiếm được sáu, bảy hào… Một bận đánh mạnh quá, nó văng vào một bụi rậm đầy gai góc, tôi đành bỏ cả buổi học để tìm. Đòn vọt, phạt quỳ, phạt đi học ngày thứ năm, hay bị đuổi hẳn, tôi cũng không sợ bằng đồng xu cái hiếm có ấy mất. Tôi quý đồng xu cái hơn cả những tiên nga và hoàng hậu gìn giữ thân thể, nhan sắc và châu ngọc của mình, hơn cả những anh hùng và hoàng đế trọng đãi những đạo binh cảm tử tinh nhuệ từng lập nhiều chiến công hiển hách cho vinh quang của họ…”. Nhưng càng thắng và được nhiều tiền, bạn bè càng xúm vào xin nên Nguyên Hồng phải chia cho chúng. Lối chơi của Nguyên Hồng sau một vài tháng khắp Nam Định trẻ con đứa nào cũng biết nhưng chưa bao giờ thắng nổi người “phát minh” ra nó.
Nhưng Nguyên Hồng cũng tốn tiền cho việc thuê truyện để đọc. Thuê phải cược mỗi quyển một đồng, mỗi ngày trả một xu hay ba xu tuỳ theo truyện và thời giá. Ngày ấy gạo tám xoan giá một đồng một gánh, còn một xu thì “mua được một cái bánh tây đã ủ nóng và được giội thêm thìa nước mắm pha dấm múc từ cái liễn ngâm ngập những miếng giò, miếng chả thái mỏng.”. Nguyên Hồng và đám bạn mê sách thường góp tiền thuê truyện đọc chung. Ai đọc trước đọc sau, thời gian giữ sách lâu hay chóng, tất cả đều phân minh và đều quy ra tiền góp nhiều hay ít nên có ngày Nguyên Hồng phải “ngốn” đến hai cuốn! Ở hồi ký Một tuổi thơ văn (1973), ông kể một lô một lốc hàng chục tên các nhân vật những truyện ông đọc; đặc biệt là truyện Tàu như Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du, Thuyết Đường mà ở đó, các anh hùng hảo hán võ nghệ cao cường đặc biệt cuốn hút ông. Những cuốn sách và những nhân vật ấy không chỉ ảnh hưởng mà nhuốm vào Nguyên Hồng nên có thể thấy bóng dáng chúng thấp thoáng ít nhiều ở các tác phẩm Bỉ vỏ, Con hùm con mồ côi, Cháu gái người mãi võ họ Hoa, Núi rừng Yên Thế.
Nhật mở rộng chiến tranh sang Trung Quốc cũng là lúc Nguyên Hồng chững chạc hơn và kiếm sống bằng nghề viết thư cho những người vợ có chồng đi lính cho Pháp đóng quân tận Thượng Hải, Thiên Tân. Họ khen thư viết hay, có người còn gọi Nguyên Hồng là cậu giáo: “Cậu ấy biên thư hay quá! Tài thật! Mình chỉ mới nghĩ mà đã thấy nhức cả đầu, vậy mà cậu ấy viết một lúc hai ba thư, thư nào cũng dài thì giỏi thật! Mình chỉ kể qua mấy chuyện mấy việc, hoặc lắm khi chẳng cần mình kể, mình dặn gì cả, mà cậu ấy cũng viết được đủ hết các ý, các điều của mình!”. Có thư Nguyên Hồng còn làm cả thơ lục bát, đưa tên con cái, nơi ăn chốn ở và công việc làm ăn của gia đình họ. Ai cũng thích cũng khen. Cứ mỗi thư, gia đình trả năm xu. Nhờ thế tháng nào Nguyên Hồng cũng được một món tiền, khi hai hào, khi ba hào.
Mê truyện đã đành, Nguyên Hồng còn đặc biệt thích môn sử và môn địa. Phải đến lớp ba học trò mới được học sử ở cuốn sách giáo khoa gộp chung cả sử và địa, trong Một tuổi thơ văn ông dành chương “Sử ký địa dư giáo khoa thư và những lịch sử tiểu thuyết” nói lên hứng thú của mình với những môn này. Lịch sử đem đến cho Nguyên Hồng những Đinh Bộ Lĩnh, Trần Bình Trọng, Phan Đình Phùng, Đề Thám… Môn địa lý dẫn tâm trí ông tới nhiều miền đất mà một trong đó là dòng Mê – kông hùng vĩ; năm 1954 nhớ lại thuở ấy và những say mê ngày ấy, tâm tưởng vẫn dào dạt trong ông và bài thơ Cửu Long Giang ta ơi! mở đầu bằng những câu đầy cảm xúc: “Ngày xưa ta đi học/ Mười tuổi thơ nghe gió thổi mùa thu/ Mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ/ Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ/ Bản đồ mới, tường vôi cũng mới/ Thầy giáo lớn sao, thước bảng cũng lớn sao/ Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ/ Đưa ta đi sông núi tuyệt vời!”. Năm 1954 và cả sau này chưa bao giờ Nguyên Hồng được đến Mê – kông mà dòng sông ấy hiện lên sao mà sinh động: “Mê – kông chảy/ Cây lao đá đổ/ Lan hoang, dứa mật, thông nhựa lên hương/ Những trưa hè ngun ngút nắng Trường Sơn/ Ngẫm nghĩ voi đi/ Thác Khôn cười trắng xoá… Mê-kông quặn đẻ/ Chín nhánh sông vàng/ Hồn Nam Bộ kim cương/ Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương/ Mồ hôi vã bãi lầy thành đồng lúa…”.
Cấp tiểu học thời Pháp thuộc có 6 lớp: Lớp năm tức lớp bét, lớp tư, lớp ba, lớp nhì năm thứ nhất, lớp nhì năm thứ hai và lớp nhất. Nguyên Hồng chỉ có điều kiện học tới lớp nhất. Nhưng những ai học đến thế cũng đã đủ để đi làm nuôi mình và vợ con, trình độ tiếng Pháp đã kha khá.
Năm 16 tuổi (1934) Nguyên Hồng theo mẹ ra Hải Phòng, miền đất hứa của nhiều người các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Trong Những ngày thơ ấu ông gọi nơi mình ở là xóm C. (nay là phố Cấm): “Xóm tôi ở là C. Cái xóm cặn bã. Cái xóm mà người lạ lớ rớ đi vào thì không thể nào tránh được nạn bớp mũ, giật khăn ở những con đường chật hẹp, ngoằn ngoèo, hai bên ngập ngụa rác rưởi.”.
Đến nơi ở hôm trước thì hôm sau Nguyên Hồng đã đi các nơi tìm viêc. “Tôi phải có việc làm để sống” – Ông viết trong Bước đường viết văn (1970). Ông tới bến Sáu Kho, Nhà máy Xi măng, Sở Dầu, chầu chực ở cổng các nhà máy, quanh quẩn nơi bến tàu, bến ô tô, nhà ga, các cửa hiệu, tràn than, lán củi, hôm nào cũng tới tận khuya và rã rượi trở về tay trắng. Cuối cùng, tìm được việc cho Nguyên Hồng lại là người mẹ; qua bác T. một người họ hàng, bà kiếm cho Nguyên Hồng một chỗ dạy học. Học trò chỉ duy nhất một người và là người đặc biệt: Chủ một nhà in người Hoa kiều. Nguyên Hồng dạy ông này tiếng Pháp bằng tất cả vốn sơ học tiếng Tây của mình. Bác T. cho đôi giầy “giôn” (giầy màu nâu) cũ của bác. “Tay cắp đệp sách vở lềnh kềnh, đầu chải nước lã, quần áo có vẻ là hẳn hoi, giầy “giôn” đánh bóng… tôi đi trên đường thấy lắm lúc như đi trên mây và đi giữa những hào quang. Mấy hôm đầu tôi trằn trọc suốt đêm. Bao nhiêu viễn tưởng rực rỡ cứ nối tiếp nhau mở ra trong tâm trí tôi.”… Nhưng chỉ được đúng một tháng thì ông nọ xin nghỉ không rõ lý do gì, tiền dạy sau khi trừ tiền thuê nơi dạy và bàn ghế còn được đúng một đồng.
Rồi chính xóm Cấm lại nuôi sống Nguyên Hồng và gia đình cũng bằng dạy học. Tốt nghiệp tiểu học, nếu theo học sư phạm một năm thì ra trường được phép dạy từ lớp ba trở xuống nhưng Nguyên Hồng không có điều kiện học tiếp nên không được phép mở trường do vậy phải “dạy lẩn lút”. Không chỉ ông và không chỉ ở xóm Cấm, Nguyên Hồng kể trong chương “Tôi dạy học” hồi ký Những ngày thơ ấu: “Những trường ấy ở những vùng ngoại ô mà nhà cửa chen chúc nhau trong một làn không khí nồng nực mùi hôi thối của rác rưởi và ao lầy, ở những ngõ hẻm giữa những phố xá sầm uất mà người và vật lúc nhúc trong nhớp nháp bụi bặm. Những trường ấy có những tốp học trò lóc nhóc từ sáu, bảy tới mười tuổi, dưới sự trông coi và dạy bảo của những ông thầy cằn cỗi bơ phờ trạc bốn, năm mươi hay những cậu giáo mười bảy, mười tám tuổi, cuộc đời xơ xác và tâm hồn đầy chán nản.”. Thầy dạy không có giấy phép, trò học cũng không có giấy khai sinh. Ông viết: “Học lẩn lút mỗi tháng mất từ bốn, năm tới sáu, bảy hào; dạy lẩn lút luôn luôn hồi hộp mỗi tháng kiếm sáu, bảy đồng bạc, món tiền nuôi sống một cách hèn hạ những con người nheo nhóc… Nhưng mọi người đối với tôi đều tử tế. Họ mến tôi lắm. Những cha mẹ học trò dù hung bạo chừng nào cũng kính nể tôi. Vì tôi là cậu giáo, người đã dạy con cái họ.”. Học trò của Nguyên Hồng hơn 20 đứa trẻ lau nhau, rách rưới. Nhờ cái nghề gõ đầu trẻ lẩn lút ấy Nguyên Hồng cầm cự với cuộc sống được hơn ba năm, “hơn ba năm, cái gia đình bốn người của tôi đã sống bằng số tiền học thu hàng tháng… Hơn ba năm, tôi đã sống bằng đồng tiền máu mủ của những cha mẹ cùng khổ như tôi hay có khi còn hơn tôi”. Bốn người của gia đình Nguyên Hồng thì ba người là “người mẹ hiền từ, người chú dượng khờ khạo, lẩm cẩm và đứa em gái dại dội”.
Giờ Nguyên Hồng còn đọc tiểu thuyết và thơ Pháp. Càng đọc càng thôi thúc phải viết. Rồi ông được gặp “Nhà thơ ở ngõ Nghè” Thế Lữ: “Thế Lữ ơi! Thế Lữ thi nhân mà tôi khao khát gặp mặt ơi! Thằng bé học trò tên là Nguyễn Nguyên Hồng thuộc thơ anh, say thơ anh hơn cả thuộc và say kinh thánh…”. Được Thế Lữ khuyến khích, Nguyên Hồng viết và mang năm truyện ngắn đến một tờ báo ở phố Cố Đạo (nay là phố Trần Nhật Duật). Nhưng chờ mãi chẳng thấy báo đăng rồi chẳng thấy cả báo, đến nơi mới hay sau khi ra được ba số, báo đã đình bản vì không bán được, vợ chồng chủ báo chuyển đi nơi khác, để lại hai buộc báo ế trên nóc tủ; toà báo giờ là tiệm hút! Chán nản nhưng không bỏ cuộc, Nguyên Hồng càng thấy thôi thúc phải viết và cuốn tiểu thuyết đầu tiên ra đời: Bỉ vỏ, được Giải thưởng Tự Lực Văn đoàn năm 1937 và in thành sách năm 1938. Tiếp đó là hồi ký Những ngày thơ ấu (1941), được nhà văn đương thời Thạch Lam đánh giá cao, đã ghi lại những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”.
Những gì Nguyên Hồng trải qua thuở học trò và làm thầy không chỉ cho thấy nghị lực của ông mà còn điển hình cho cuộc sống quằn quại và khát vọng của cả một thế hệ học sinh, trí thức đất nước thời nô lệ cùng cực. Từ đây Nguyên Hồng sống bằng văn chương. Ông đâu ngờ 15 năm sau (1950) lại trở về cuộc đời nhà giáo, một nhà giáo đặc biệt và vinh quang, đó là góp phần đào tạo các nhà văn trẻ cho đất nước; ông được học trò trìu mến gọi là “Ông đốc Hồng”.

(Kỳ sau: Ông Đốc Hồng)
L.V.K

Bài viết khác