Quo Vadis – Henryk Sienkievich (Ba Lan) – chương 52

Đám dân chúng được kích thích giúp bọn vigin và lính cấm vệ trong việc săn đuổi những người Thiên chúa giáo. Đó cũng không phải là việc khó, vì hàng đám đông tín đồ, vốn dựng trại chung với các cư dân khác trong các khu vườn, công khai thừa nhận tín ngưỡng của mình. Khi bị bao vây, họ quỳ xuống và hát vang những bài ca và để cho chúng bắt đi mà không hề chống cự. T3 – Chương 52

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hữu Dũng

Đám dân chúng được kích thích giúp bọn vigin và lính cấm vệ trong việc săn đuổi những người Thiên chúa giáo. Đó cũng không phải là việc khó, vì hàng đám đông tín đồ, vốn dựng trại chung với các cư dân khác trong các khu vườn, công khai thừa nhận tín ngưỡng của mình. Khi bị bao vây, họ quỳ xuống và hát vang những bài ca và để cho chúng bắt đi mà không hề chống cự. T3 – Chương 52

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hữu Dũng

Tiếng kêu: “Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử” vang lên triền miên khắp các khu của thành phố. Thoạt tiên, không những không một ai nghi ngờ rằng các tín đồ Thiên chúa giáo không phải là thủ phạm gây ra thảm họa, mà thậm chí cũng chẳng ai muốn nghi ngờ làm gì, vì việc trừng trị họ đồng thời cũng là một trò giải trí tuyệt vời cho dân chúng. Nhưng người ta đồn loang ra rằng thảm hoạ đã không đạt tới tầm cỡ như vậy nếu như không có cơn tức giận của các vị thần linh, và thế là tại các thần miếu người ta dâng hiến piacula tức là lễ vật giải hạn. Theo sách Xybili, viện nguyên lão tổ chức các cuộc lễ và những buổi cầu nguyện công cộng các thần Vunkan, Xerera và Prozerpina. Các bà mẹ dâng lễ vật lên nữ thần Zunon, cả đám rước đi đến bên bờ biển lấy nước để vẩy vào tượng nữ thần. Những cô gái đã có chồng sửa soạn các bữa tiệc dâng các thần và những cuộc canh đêm. Cả thành Roma tẩy rửa tội lỗi, dâng cống lễ vật và cầu xin các vị thần bất tử. Trong lúc ấy người ta vạch ra những đường phố mới rộng rãi giữa những đống tro tàn. Đây đó đã đặt móng cho những toà nhà, những lâu đài và những thần miếu tuyệt vời. Tuy nhiên, trước tiên người ta gấp rút xây dựng với tốc độ chưa từng thấy những nhà hát khổng lồ bằng gỗ, nơi các tín đồ Thiên chúa sẽ chịu tội hình. Ngay sau cuộc bàn bạc tại dinh thự Tyberius, các vị thái thú đã nhận được lệnh phải cung cấp dã thú. Tygelinux vét sạch chuồng thú của tất cả các thành phố Italia, không trừ những trấn nhỏ bé. Tại Phi châu, theo lệnh hắn, người ta tổ chức những cuộc đi săn khổng lồ, trong đó tất cả dân chúng địa phương đều phải tham gia. Người ta mang về đây voi và hổ từ châu Á, cá sấu và hà mã từ sông Nin, sư tử vùng núi Atlax, chó sói và gấu từ núi Pirene, loài chó điên từ vùng Hibernia, chó khổng lồ từ Epirơ, trâu và những con bò rừng khổng lồ dữ tợn từ Germania. Về số lượng tù nhân, cuộc hội sẽ có độ lớn vượt tất cả những gì mà người ta được chứng kiến từ xưa đến nay. Hoàng đế muốn nhấn chìm kí ức về đám cháy trong máu đỏ và dùng máu đỏ để làm say Roma nên chưa bao giờ việc đổ máu lại được hứa hẹn là sẽ tuyệt vời đến thế.

Đám dân chúng được kích thích giúp bọn vigin và lính cấm vệ trong việc săn đuổi những người Thiên chúa giáo. Đó cũng không phải là việc khó, vì hàng đám đông tín đồ, vốn dựng trại chung với các cư dân khác trong các khu vườn, công khai thừa nhận tín ngưỡng của mình. Khi bị bao vây, họ quỳ xuống và hát vang những bài ca và để cho chúng bắt đi mà không hề chống cự. Song sự cam chịu của họ chỉ càng làm tăng thêm cơn thịnh nộ của dân chúng, vốn không hiểu nổi cội nguồn của sự cam chịu ấy, lại coi nó là tính quyết liệt và chai sạn của họ trước tội ác. Cơn điên cuồng trùm lên những người bị khủng bố. Đã xẩy ra chuyện đám đông giằng những tín đồ Thiên chúa ra khỏi tay binh lính rồi dùng tay xé xác họ; đàn bà bị người ta túm tóc lôi vào nhà ngục, trẻ con bị đập đầu vào đá. Ngày cũng như đêm, hằng nghìn người hú hét chạy khắp các đường phố. Người ta sục tìm nạn nhân trong đám hoang tàn, trong các ống khói và trong các đường hầm. Trước nhà ngục, bên những đống lửa, vây quanh là những thùng rượu nho, người ta tổ chức những tiệc tế thần rượu và nhẩy múa. Đêm đêm, người ta say sưa lắng nghe những tiếng gầm rống tựa như tiếng sấm vang động khắp cả thành phố. Các nhà ngục chật cứng hàng nghìn con người, và cứ mỗi ngày, đám dân chúng cùng lính cấm vệ lại dồn tới những nạn nhân mới. Tình thương tắt ngấm. Ngỡ như người ta quên cả nói, và trong cơn điên cuồng hoang dã, người ta chỉ còn nhớ có mỗi một tiếng kêu: “Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!” mà thôi. Đó là những ngày nồng nực đến lạ kỳ và những đêm ngột ngạt chưa từng thấy trước đó bao giờ. Ngay cả không khí hình như cũng thấm đẫm cơn điên, máu và tội ác.

Đáp lại cái mức độ tràn đầy của sự dã man ấy là mức độ tràn đầy của lòng khao khát tử vì đạo. Các tín đồ của Chúa Crixtux tự nguyện đi tới cái chết, thậm chí đi tìm cái chết, cho đến khi những mệnh lệnh nghiêm khắc của các bậc trưởng lão ngăn cấm chuyện ấy. theo lời khuyên của các bậc ấy, họ bắt đầu chỉ tụ tập nhau ở ngoại thành, trong các hang ngầm trên đường Appia và trong các trại nho ngoại thành thuộc quyền sở hữu của các nhà quý tộc là tín đồ Thiên chúa, mà cho tới nay chưa một ai trong số này bị bắt. Ở Palatyn người ta biết rõ rằng cả Flavius, cả Đomitylia, cả bà Pomponia Grexyna, cả ông Kornelius Puđenx lẫn Vinixius đều là tín đồ Thiên chúa. Nhưng chính Hoàng đế sợ sẽ không thuyết phục nổi dân chúng rằng những người như thế lại đốt cháy Roma, mà trước tiên cần phải chiếm được lòng tin của dân chúng; vậy nên người ta đành tạm hoãn hình phạt và sự báo thù tới những ngày say này. Những kẻ khác lại tưởng rằng chính ảnh hưởng của nàng Akte đã cứu các vị quý tộc đó. Ý nghĩ ấy thật sai lầm. sau khi chia tay với Vinixius, ông Petronius quả có đến gặp Akte để tìm cách cứu Ligia, nhưng nàng chỉ có thể cho ông được những giọt lệ mà thôi, bởi lẽ nàng đang sống trong lãng quên và đau đớn, càng đau đớn hơn vì phải che giấu trước Poppea và Hoàng đế.

Tuy vậy nàng cũng đến thăm Ligia trong nhà ngục, mang cho cô quần áo và thức ăn, và trước tiên là bảo vệ cô gái khỏi bị làm nhục bởi bọn cai ngục mặc dù bọn này đã bị Vinixius mua chuộc.

Dầu sao đi nữa, Petronius vẫn không thể quên được rằng giá như không có ông, không có ý định của ông bắt Ligia phải rời khỏi gia đình ông bà Aulux, thì hẳn giờ đây nàng không phải sa vào cảnh ngục tù, thêm vào đó, ông còn muốn thắng Tygelinux trong cái trò đỏ đen này, nên ông không tiếc thì giờ vào những cuộc chạy vạy. Chỉ trong vòng có mấy ngày ông đã đến gặp ông Xeneka, Đomixius Afer, Kryxpinilla – qua ả ông muốn đến với Poppea, – gặp Terpnox và Điođor, gặp chàng Pitagorax xinh đẹp, và rốt cuộc, gặp Alitulux và Paryx, những người mà Hoàng đế chẳng hề từ chối điều gì. Nhờ sự giúp đỡ của nàng Khoryzotemix, hiện đang là tình nhân của Vatynius, ông muốn được hỗ trợ, và đối với hắn cũng như đối với người khác ông không hề tiếc cả lời hứa hẹn lẫn bạc tiền.

Song tất thẩy những cố gắng đó đều không kết quả. Xeneka, không tin chắc ở ngày mai của bản thân, bắt đầu thuyết ông rằng thậm chí nếu những người Thiên chúa giáo quả thực không đốt cháy Roma đi nữa thì họ cũng bị lên án vì quyền lợi của thành phố, nói tóm lại ông ta biện hộ cho cuộc giết chóc sắp tới bằng cái lý của tình thế. Terpnox và Điođor lấy tiền nhưng chẳng làm gì cả. Vytanius mách Hoàng đế rằng người ta đang cố sức mua chuộc hắn. Chỉ mỗi mình Aliturux, thoạt tiên rất căm ghét dân Thiên chúa giáo, nhưng bây giờ đâm ra thương họ, là dám nhắc Hoàng đế về cô gái đang bị giam, đồng thời xin cho nàng, nhưng cũng chẳng xin được gì ngoài câu trả lời:

– Thế ngươi tưởng rằng tâm hồn ta hẹp hòi hơn cả Brutux, người đã không tiếc cả con đẻ của mình vì quyền lợi của La Mã hay chăng?

Khi anh ta nhắc lại những lời này cho ông Petronius, ông nói:

– Một khi ngài đã so sánh với Brutux thì chẳng còn cách nào cứu nữa.

Song ông vẫn thương Vinixius và lo sợ khi nghĩ rằng chàng rất có thể sẽ liều thân. “Giờ đây, – ông tự nhủ – anh chàng vẫn được nâng đỡ bởi các cuộc chạy chọt đang tiến hành để cứu nàng thiếu nữ, bởi vẫn được trông thấy nàng và bởi bản thân nỗi đau khổ, nhưng một khi tất cả các phương sách đều thất bại và tia hi vọng cuối cùng tắt đi, thì lạy Kaxtor! Anh chàng không thể sống thiếu nàng và sẽ lao người vào mũi kiếm”. Ông Petronius thậm chí hiểu được rằng, có thể kết thúc như thế còn hay hơn là cứ yêu thương và chịu đựng. Trong khi ấy, Vinixius làm tất cả những gì chàng có thể nghĩ ra để cứu Ligia. Chàng lui tới thăm các vị cận thần, và trước kia vốn tự hào đến thế, giờ đây chàng đi ăn mày sự trợ giúp của họ. Qua Vitelius, chàng hứa dâng cho Tygelinux đất đai của chàng ở đảo Xyxilia và tất cả những gì mà hắn đòi hỏi. Nhưng chắc không muốn chạm đến Auguxta nên Tygelinux từ chối. Việc gặp thẳng Hoàng đế, ôm lấy đầu gối y mà van xin cũng chẳng đưa đến điều gì. Thực ra, Vinixius những muốn làm cả việc ấy nữa, nhưng ông Petronius nghe ý định ấy của chàng đã hỏi lại:

– Thế nếu ngài từ chối, nếu ngài đáp lại bằng một câu đùa cợt hay một lời đe doạ vô luân, thì anh sẽ làm gì?

Nghe hỏi, nét mặt Vinixius co rúm lại vì đau đớn và phẫn nộ, răng chàng nghiến ken két.

Nhưng Vinixius cố nén, và đưa tay vuốt vầng trán đẫm mồ hôi lạnh, chàng nói:

– Không! Không! Cháu là tín đồ Thiên chúa.

– Và anh sẽ quên đi điều đó như vừa mới quên. Anh có quyền tự sát nhưng không có quyền mang cái chết đến cho nàng. Hãy nhớ con gái Xeyan đã phải chịu điều gì trước khi chết.

Khi nói thế ông không hoàn toàn thành thật, vì thực ra ông lo cho Vinixius nhiều hơn cho Ligia. Nhưng vì hiểu rằng không có gì kìm giữ chàng khỏi liều mạng tốt hơn là nói cho chàng hay rằng bằng việc ấy chàng có thể mang cái chết không tránh khỏi đến cho Ligia. Và thực ra ông có lý, vì tại cung điện Palatyn người ta cũng đã nghĩ đến khả năng chàng hộ dân quan trẻ tuổi sẽ tới và đã tiến hành những biện pháp đề phòng. Nhưng khổ ải của Vinixius vượt quá những gì mà sức lực con người có thể chịu đựng. Kể từ khi Ligia bị tống ngục, khi nàng có cơ bị tử vì đạo, không những chàng chỉ yêu nàng trăm lần hơn lên, mà trong tâm hồn, chàng bắt đầu thành kính nàng với một thứ tình cảm gần như tôn giáo, như đối với một siêu linh siêu nhiên nào đó. Và bây giờ khi nghĩ rằng sinh linh thân yêu vừa thiêng liêng kia sẽ phải lìa đời, không những thế còn có thể sẽ phải trải qua những cực hình khủng khiếp hơn cái chết, thì máu trong huyết quản chàng dường như đông lại, tâm linh chàng như biến thành một tiếng kêu rên, trí óc chàng như hoá dại. Đôi khi chàng cảm thấy như trong sọ chàng chứa đầy một thứ lửa hừng hực nào đó, nó sẽ thiêu rụi đầu óc hoặc sẽ làm vỡ tung sọ não ra. Chàng không còn hiểu nổi những gì đang xảy ra, không hiểu nổi vì sao Chúa Crixtux, Đức Chúa từ thiện nhường kia lại không thể giáng thế cứu những tín đồ của Người, vì sao những bức tường đẫm máu của cung điện Palatyn không bị chôn vùi luôn xuống đất, cùng với nó cả Nerô, ũ cận thần, trại cấm binh và cái đô thành tội ác này. Chàng nghĩ rằng không thể và nhất thiết không thể nào khác được, rằng tất thẩy những gì mắt chàng trông thấy, những gì khiến trái tim chàng rên xiết, khiến tâm hồn chàng tan nát, chỉ là một giấc mơ mà thôi. Song tiếng gầm rống của lũ dã thú bảo chàng rằng đó là hiện thực, tiếng chan chát của những chiếc rìu đang dựng nên võ đài bảo chàng rằng đó là sự thực, và khẳng định thêm điều ấy là tiếng hú hét của dân chúng cùng những nhà ngục chật ních. Khi ấy lòng tin của chàng vào Chúa Crixtux giảm đi, và sự suy giảm ấy lại là một nỗi khổ ải mới nữa, có thể là nỗi khổ ải kinh khủng nhất trong số tất cả những nỗi khổ của chàng.

Thế mà bây giờ ông Petronius lại còn nói với chàng:

– Hãy nhớ đến cái mà trước khi chết con gái Xeyan còn phải trải qua.Và mọi việc đều hỏng cả. Vinixius hạ mình đến mức chàng tìm chỗ víu ngay cả bọn nô lệ giải phóng và nô tỳ của cả hoàng đế lẫn của Poppea, mua chuộc chúng bằng những lời hứa hẹn và những món quà tặng đắt tiền, những mong được lòng chúng. Chàng tìm đến người chống đầu tiên của hoàng hậu, Rufiux Kryxpinux và được y viết cho một bức thư, chàng tặng tòa biệt thự tại Anxium của chàng cho đứa con trai của ả trong cuộc hôn nhân đầu tiên, cũng tên Rufiux, nhưng điều đó chỉ càng khiến cho hoàng đế – kẻ vốn căm ghét đứa con riêng của vợ – thêm tức giận mà thôi. Nhân có một điệp sứ, chàng viết thư cho chồng thứ hai của Poppea là Otho tận Tây Ban Nha, hứa sẽ dâng toàn bộ của cải và cả bản thân mình nữa, mãi cho đến khi chàng chợt nhận ra rằng chàng chỉ là trò chơi của mọi người và giá chàng giả vờ rằng việc bỏ tù Ligia chẳng quan hệ mấy tới chàng, thì có khi bọn họ lại chóng tha nàng hơn.

Cả ông Petronius cũng nhận ra điều ấy. Trong khi đó, ngày nối nhau trôi đi. Các nhà hát đã hoàn thành. Người ta đã phân phát các tesser, tức là các vé vào cửa dự lundus maturium(1). Nhưng lần này, do số lượng tội nhân nhiều chưa từng thấy, hội đấu “sáng” có thể sẽ kéo dài hàng ngày, hàng tuần thậm chí hàng tháng. Người ta không còn biết nhốt dân Thiên Chúa vào đâu nữa. Các nhà ngục đã chật ních và trong đó bắt đầu phát sinh dịch sốt nóng. Các puticuli tức là các hố nhốt người, nơi người ta chứa bọn nô lệ, cũng bắt đầu chật cứng. Sợ rằng bệnh dịch sẽ lan tràn ra khắp thành phố, người ta quyết định sẽ tổ chức gấp hội thi đấu.

Và tất cả những tin tức ấy đập vào tai Vinixius khiến những tia hy vọng cuối cùng trong lòng chàng tắt nốt. Khi còn thời gian, chàng còn có thể ảo vọng rằng sẽ kiếm được cách nào đó, nhưng bây giờ thì ngay cả thời gian cũng không còn. Đã sắp bắt đầu các cuộc biểu diễn rồi. Chỉ vài ngày nữa thôi, Ligia sẽ có mặt trong các phòng chứa của hý trường, từ đó chỉ còn một lối là bước ra đấu trường mà thôi. Vinixius không biết ố phận và sự tàn bạo của bạo lực sẽ ném nàng vào đâu, chàng tới khắp các hý trường, mua chuộc bọn canh cửa và những người quản thú dữ, đặt ra cho họ những đòi hỏi mà họ không thể nào thực hiện được. Nhiều khi chàng nhận ra rằng chàng chỉ còn biết tìm cách làm cho cái chết của nàng bớt phần thảm khốc hơn thôi và những khi ấy chàng cảm thấy trong sọ chàng thay cho bộ óc là những hòn than cháy bỏng.

Chàng cũng không hề nghĩ đến chuyện sống tiếp mà không có nàng, chàng quyết định sẽ cùng chết với nàng. Song chàng nghĩ rằng nỗi đau có thể sẽ thiêu rụi sự sống trong người chàng trước khi cái thời hạn kinh khủng kia tới. Bạn bè chàng và ông Petronius cũng nghĩ là chẳng bao lâu nữa trước mắt chàng sẽ mở ra vương quốc của các hồn ma. Mặt Vinixius xám lại, trở nên giống như mặt nạ bằng sáp mà chàng đặt trên bàn thờ gia thần. Trên nét mặt chàng ngưng đọng một nỗi ngạc nhiên, dường như chàng không sao hiểu nổi có chuyện gì xảy ra và có thể xảy ra. Khi có người nào đó nói với chàng, chàng máy móc đưa cả hai tay lên đầu bóp chặt lấy thái dương, nhìn người nói với cái nhìn kinh hoàng và dò hỏi. Đêm đêm, cùng bác Urxux, chàng nằm canh cửa cho Ligia trong nhà ngục, còn nếu nàng bảo chàng phải về nhà nghỉ, thì chàng đến chỗ ông Petronius và cứ đi đi lại lại trong gian chính sảnh cho tới tận sáng. Đám nô lệ thường gặp chàng đang quỳ giơ hai tay lên đầu hoặc nằm úp mặt xuống đất. Chàng cầu nguyện Chúa Crixtux, bởi đó là niềm hy vọng cuối cùng của chàng. Tất cả mọi cách đều hỏng cả rồi, họa chăng thì chỉ có một điều kỳ diệu mới có thể cứu nổi Ligia, vì thế Vinixius đập đầu vào những phiến đá cầu xin sự kỳ diệu đó.

Nhưng chàng cũng còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng lời cầu nguyện của ông Piotr có nghĩa hơn của chàng, ông Piotr đã hứa mang lại Ligia cho chàng. Ông Piotr đã rửa tội cho chàng, chính ông Piotr cũng biết làm những điều kỳ diệu, vậy hãy để ông mang tới cho chàng sự cứu rỗi và trợ giúp.

Và một đêm, chàng đi tìm ông. Hiện giờ, những người Thiên Chúa giáo ít ỏi còn sót lại ẩn náu ngay cả đối với nhau, để nếu có kẻ nào đó kém tinh thần cũng không thể vô tình hay hữu ý phản bội họ được. Trong cơn hỗn loạn và sự khủng bố chung, lại hoàn toàn bận tâm về việc tìm cách cứu Ligia khỏi nhà tù. Vinixius mất liên lạc với ông Piotr và kể từ khi được rửa tội, chàng chỉ được gặp ông mỗi một lần, từ trước khi bắt đầu cuộc tróc nã. Nhưng khi đến gặp người thợ đá, chủ ngôi nhà mà chàng được chịu lễ rửa tội, chàng được ông cho hay rằng, tại trại nho nằm ngoài cổng Porta Xalaria, thuộc về tài sản của ông Kornilius Puđenx, sẽ có một cuộc tụ họp của các tín đồ Thiên Chúa. Người thợ đá nhận dẫn Vinixius đến nơi, ông cam đoan với chàng rằng họ sẽ tìm được ông Piotr tại đó. Sẩm tối, họ lên đường ra ngoài thành, tiếp đó đi theo những hóm đồi mọc đầy lau sậy, họ tới cái trại nho nằm biệt lập và hơi lạ lùng. Cuộc tụ họp diễn ra trong căn lều thường làm nơi ép nho. Thoạt tiên, vọng đến tai Vinixius tiếng cầu nguyện lào xào, khi bước vào, trong ánh sáng mờ mờ của đèn dầu, chàng thấy vài mươi người đang quỳ gối chìm trong cầu nguyện. Họ đọc kinh cầu theo kiểu xướng họa, dàn đồng ca của những giọng đàn ông cùng đàn bà chốc chốc lại lặp lại: “Xin Chúa Crixtux, xin hãy rủ lòng thương!”. Trong những giọng kêu cầu ấy rung lên một nỗi buồn thương sâu thẳm, xé lòng người.

Ông Piotr đang có mặt. Ông quỳ ở phía trước, dưới một cây thánh giá bằng gỗ đóng vào vách lều và đang cầu nguyện. Từ xa, Vinixius nhìn rõ những sợi tóc bạc và đôi cánh tay ông đang vươn lên. Ý nghĩ đầu tiên của chàng quý tộc trẻ là băng qua đám người, quỳ xuống chân đức Sứ Đồ và kêu lên: “Hãy cứu lấy con”. Nhưng không rõ sự trang trọng của cuộc cầu nguyện hay sự kiệt sức khiến hai đầu gối chàng khuỵu xuống, chàng bèn quỳ ngay ở cửa ra vào, xiết chặt hai nắm tay và rên lên, lặp đi lặp lại: “Lạy chúa Crixtux, xin hãy rủ lòng thương!”. Giá như chàng tỉnh táo, chàng có thể hiểu ra rằng, không chỉ trong lời cầu của chàng vang lên tiếng rên rỉ, không chỉ riêng chàng mang tới đây nỗi đớn đau, niềm thương tiếc và sự sợ hãi của mình. Trong cuộc tụ họp này không có một linh hồn nào không bị mất đi những sinh linh yêu dấu và khi mà những tín đồ mộ đạo và dũng cảm nhất đã bị cầm tù, khi mà từng giờ từng phút đều mang tới thêm những tin tức mới về nỗi tủi nhục và cực hình mà người ta gât ra cho họ trong ngục tù, khi mà tầm cỡ của tai ương vượt quá tất cả mọi điều dự đoán, khi mà chỉ còn lại một nhúm người bé nhỏ ngần kia, thì trong bọn họ chẳng có trái tim nào không hoảng sợ trong niềm tín ngưỡng của mình, không nghi ngờ tự hỏi: Vậy Chúa Crixtux đâu rồi? Tại sao Người lại để cho sự dữ mạnh hơn cả Chúa Trời?

Nhưng lúc này họ đang hãy còn tuyệt vọng cầu xin Người hãy nhân từ, bởi vì trong mỗi linh hồn vẫn còn le lói một tia hy vọng rằng Người sẽ tới, quét sạch sự dữ, đẩy Nerô vào vực thẳm và sẽ ngự trị thế gian…Họ hãy còn đang ngước nhìn lên trời, hãy còn đang lắng nghe, hãy còn run rẩy mà cầu nguyện. Vinixius cũng thế, càng lặp lại nhiều lần câu cầu nguyện: “Lạy Chúa Crixtux, xin Người rủ lòng thương!”. Chàng lại càng thấy niềm hứng khởi tựa như hồi nào trong nhà người thợ đá. Người ta đang gọi Chúa từ nơi sâu thẳm của nỗi đạu, từ đáy vực thẳm. Ông Piotr cũng đang gọi Chúa kia, vậy thì chỉ chốc lát nữa thôi, bầu trời sẽ tách ra, đất sẽ rung lên dưới chân và Chúa sẽ giáng thế, trong vầng hào quang chói lói với những vì sao dưới chân, đầy nhân từ song cũng đầy lòng giận dữ, Người sẽ nâng đỡ những ai trung thành và ra lệnh cho vực thẳm nuốt chửng những kẻ khủng bố.

Vinixius đưa hai tay che mặt và áp mặt xuống đất. Đột nhiên, sự im lặng vây lấy chàng, dường như nỗi sợ đã trói chặt những lời kêu cầu trong miệng những người có mặt. Chàng ngỡ như rốt cuộc phải có một điều gì đó xảy ra, giây phút kỳ diệu sẽ phải đến. Chàng tin chắc rằng khi nhổm dậy, mở mắt ra, chàng sẽ nhìn thấy một vừng ánh sáng khiến những đôi mắt phàm trần bị chói và sẽ nghe một giọng nói khiến những trái tim xúc động lịm đi.

Nhưng im lặng vẫn kéo dài triền miên. Cuối cùng, một tiếng nức nở của phụ nữ phá tan bầu không khí im lặng.

Vinixius nhổm dậy và ngơ ngác nhìn.

Trong căn nhà gỗ, thay vì ánh hào quang thiên giới, vẫn le lói những ánh đèn dầu và nhập nhoạng ánh trăng chiếu qua một lỗ thủng trên mái. Những người đang quỳ cạnh Vinixius ngước đôi mắt đẫm lệ lên nhìn thánh giá, đôi chỗ vang lên những tiếng nức nở khác, từ bên ngoài vọng vào tiếng huýt sáo thận trọng của những người gác. Khi ấy, ông Piotr đứng dậy, quay lại phía đám người và nói:

– Các con ta, hãy dâng trái tim lên Đấng Cứu Thế của chúng ta và hiến cho người những giọt lệ của các con.

Rồi ông nín lặng.

Đột nhiên, từ trong đám người đang tụ tập vang lên một giọng đàn bà, đầy hàm ý kêu ca thắm thiết và đau đớn vô hạn:

– Tôi là đàn bà góa, chỉ có mỗi một đứa con trai nuôi tôi…Hãy trả nó về cho tôi, hỡi Chúa!

Rồi im lặng một giây lâu. Ông Piotr đứng trước đám người đang quỳ gối, già nua, sầu não và họ thấy như vào giây phút này, ông dường như là biểu tượng của sự già yếu và bất lực.

Rồi lại vang lên giọng ca thán thứ hai:

– Bọn đao phủ làm nhục con gái tôi mà Chúa Crixtux vẫn cho phép chúng làm chuyện đó!

Sau đó giọng thứ ba:

– Tôi chỉ có một thân một mình với đàn con thơ, nếu bọn chúng bắt tôi đi, ai sẽ cho chúng bánh mì và nước uống?

Rồi giọng thứ tư:

– Ông Linux, trước bọn chúng không thèm bắt, giờ lại bắt đi chịu nhục hình rồi, Chúa ơi!

Và giọng thứ năm:

– Một khi chúng tôi trở về nha, bọn cấm vệ sẽ bắt ngay. Chúng tôi biết trú ngụ nơi đâu bây giờ?

– Thương thay lũ chúng ta! Ai sẽ cho chở chúng ta đây?

Và cứ thế, trong sự tĩnh mịch của đêm thâu, lời ca thán nối lời ca thán. Người lão ngư nhắm mắt, lắc lắc mái đầu bạc trên những nỗi đau và niềm lo của con người. Im lặng lại bao trùm, bên ngoài lều chỉ có cirngs huýt gió khe khẽ của những người đang gác.

Vinixius lại một lần nữa định bật dậy để băng qua đám đông đến với Đức Sứ Đồ đòi ông phải cứu, đột nhiên chàng ngỡ như thấy trước mặt mình một vực thẳm, hình ảnh ấy khiến thân chàng đờ ra. Sẽ ra sao đây nếu như Sứ Đồ thừa nhận sự bất lực của ông, nếu ông khẳng định hoàng đế La Mã mạnh hơn Crixtux Nazaen? Ý nghĩa ấy khiến tóc chàng như dựng đứng trên dầu, chàng cảm thấy rằng, khi ấy sẽ rơi nhào xuống cái vực thẳm kia không những mảnh hy vọng còn sót lại của chàng, mà cả chàng, cả Ligia của chàng, cả tình yêu của chàng đối với Chúa Crixtux, cả lòng tin của chàng và tất thảy những gì mà chàng dùng để sống, chỉ còn lại cái chết và đêm đen thẳm như biển cả tràn bờ.

Trong khi ấy, ông Piotr cất tiếng nói, thoạt đầu khẽ khàng đến nỗi chỉ vừa đủ nghe thấy:

– Các con ta! Trên núi Gongot ta đã trông thấy chúng đóng đinh Đức Chúa lên thánh giá. Ta nghe thấy tiếng búa, ta nhìn thấy chúng dựng cây thập ác lên để chúng dân có thể nhìn thấy cái chết của Con đẻ nhân loại…

– …Và ta nhìn thấy chúng mổ sườn Chúa, thấy Chúa qua đời. Và khi ấy, từ thành giá quay về, trong niềm đau, ra đã kêu lên như các con vừa kêu: “Thương thay! Thương thay! Thầy ơi! Người là Đức Chúa! Sao người lại để cho chúng làm thế, sao Người lại chết đi, sao Người để trái tim chúng con tan nát, chúng con, những kẻ hằng tin rằng rồi sẽ đến vương quốc của Người?”

Còn Người, chủ của chúng ta và Chúa của chúng ta, ngày thứ ba đã sống dậy, đã đứng giữa chúng tôi, trước khi đi về vương quốc của Người trong một vùng ánh sáng rực rỡ….

Còn chúng tôi, nhận ra lòng tin của mình nhỏ bé, chúng tôi củng cố trong lòng và gieo hạt giống của Người từ ấy….

Đến đây, ông quay về phía phát ra tiêng ca thán đầu tiên và bắt đầu nói với giọng mạnh hơn:

– Tại sao các con lại ca thán? Chính Chúa từng chịu nhục hình và cái chết, vậy mà các con lại muốn Người che chở các con trước những điều ấy hay sao? Hỡi những con người kém lòng tin! Vậy ra các con đã thấm nhuần giáo thuyết của Người như thế đấy, vậy ra Người chỉ hứa hẹn cho các con một cuộc sống này thôi sao? Người đang đến và nói với các con: “Hãy theo con đường ta đi”. Người nâng các con lên gần Người, vậy mà các con dùng cả hai tay bắm chặt lấy mặt đất mà kêu lên: “Chúa ơi, cứu lấy con!”. Ta chỉ là một hạt bụi trước Chúa, nhưng với các con ta là Sứ Đồ và tổng quản của Chúa, nhân danh Chúa Crixtux, ta nói cùng các con: Trước mắt các con không phải là cái chết mà là cuộc sống, không phải là đớn đau mà là nỗi sung sướng vô bờ, không phải lời than van và nước mắt mà là tiếng ca hát, không phải kiếp nô lệ mà là sự ngự trị! Ta, Sứ Đồ của Chúa, nòi cúng con, hỡi người vợ góa: Con của con không chết, mà nó được sinh trong sự ngợi ca trên cuộc sống vĩnh hằng và con cũng sẽ được gắn bó với nó! Còn con, người cha có đứa con gái bị bọn đao phủ vấy bẩn, ta hứa rằng con sẽ được gặp lại cháu trong trắng hơn những đóa hoa huệ xứ Hebron! Còn các con, hỡi những bà mẹ sẽ bị bắt đi, bỏ lại những đứa trẻ mồ côi, các con, những kẻ mất cha, các con, những kẻ đang ca thán, các con, những kẻ sẽ phải tận mắt trông thấy cái chết của những người thân yêu, các con những kẻ ưu phiền, bất hạnh, lo hãi và các con, những kẻ sẽ phải chịu tội chết, nhân danh Chúa Crixtux, ta xin nói rằng, các con sẽ được tỉnh dậy như vừa ngủ một giấc say, như từ đêm sang bình minh của Chúa. Nhân danh Crixtux, cầu cho màng che mắt các con được cất đi và cầu cho trái tim của các con được hâm nóng!

Nói đoạn ông giơ bàn tay như ra lệnh, còn họ cảm thấy như có một dòng máu mới chảy trong huyết quản, đồng thời như có một cơn rùng mình trong xương cốt, vì đứng trước họ không còn là một ông lão lụ khụ và âu lo nữa, mà là một người hùng mạnh đã nâng tâm hồn của họ từ bụi đất và hãi hùng lên cao.

– Amen! – Vài giọng nói vang lên.

Còn ông, mắt ông mỗi lúc một tỏa sáng hơn, toàn thân ông toát ra sức mạnh, sự tôn nghiêm, thiêng liêng. Những mái đầu cúi xuống trước ông và khi những tiếng “Amen” lặng đi, ông nói tiếp:

– Các con hãy gieo hạt trong than khóc để gặt hái trong ngày vui. Tại sao các con sợ hãi sức mạnh của sự dữ? Trên trái đất, trên toàn La Mã, trên những bức tường thành đô, có Chúa ta ngự trị, Người ở trong lòng các con. Đã thấm ướt nước mắt, cát ngấm đẫm máu đào, những cái hố sâu đầy nghẹt xác người, nhưng ta nói cùng các con rằng: Các con sẽ chiến thắng! Chúa đang đến để công phá cái thành phố tội ác, áp bức và xa hoa này, các con là những chiến đoàn của Người! Chính Người đã bằng cực hình và máu của mình để chuộc tội cho toàn thế giới. Người muốn các con cũng bằng cực hình và máu của mình chuộc tội cho cái tổ vô luôn này!…Đó là chính Người qua miệng ta nói với các con điều ấy!

Rồi ông giang tay, mắt ngước lên đăm đắm nhìn trời, tim họ gần như ngừng đập trong lồng ngực, bởi vì họ cảm thấy ông đang trông thấy cái điều mà những con người trần thế của họ không sao thấy được.

Nét mặt ông biến đổi và sáng bừng lên, một lúc lâu ông cứ nhìn đăm đăm trong im lặng, dường như ông không thể thốt nên lời vì ngưỡng mộ, rồi sau đó họ nghe thấy tiếng ông:

– Người đã đến, Chúa ơi và chỉ cho tôi con đường phải đi!…Sao lại thế, hỡi Crixtux?…Không phải ở Jeruzalem mà tại chính cái thành phố này của quỷ Sa Tăng. Người muốn lập thủ đô của Người sao? Tại nơi đây, nơi hôm nay Nerô đang ngự trị, sẽ dựng nên vương quốc vĩnh hằng của Người sao? Chúa ôi, Chúa ôi! Người bảo những con người đang run sợ này lấy xương họ xây nên nền móng thế giới, còn linh hồn tôi Người dạy phải cai quản họ và loài người trên mặt đất sao? Và đây kia, Người đang rót lòng sức cho những kẻ yếu để họ được mạnh lên, Người bảo tôi từ nay phải chăn đàn chiên của Người cho đến khi đủ vòng thế kỷ…Ôi, xin được ngợi ca trong những phán quyết của Chúa, Người ra lệnh chiến thắng: Hosanna! Hosanna!

Những người vừa mới đây run sợ đứng bật dậy, những kẻ vừa mới đây nao núng như được cấp thêm lòng tin. Một số giọng đồng thành thốt lên: “Hosanna!”, những giọng khác: “Pro Christo!”(2) rồi sau đó lại im lặng. Những tia chớp mùa hè lóe lên chiếu sáng bên trong căn nhà gỗ và những khuôn mặt đang tái đi vì xúc động.

Ông Piotr vẫn dõi mắt đăm đăm nhìn sự hiển hiện và cầu nguyện mãi sau, rốt cuộc như sực tỉnh, quay lại đám người với khuôn mặt chan hòa ánh sáng, đầy hứng khởi và nói:

– Chúa đã chiến thắng sự nghi ngờ trong lòng ta, các con hãy đi và chiến thắng như Người, nhân danh Chúa!

Và mặc dù biết chắc rằng họ sẽ chiến thắng, biết chắc những gì sẽ mọc lên từ máu và nước mắt của họ, nhưng giọng ông vẫn run run xúc động khi làm dấu thánh giá từ biệt họ, ông nói:

– Còn bây giờ ta ban phước cho các con, các con của ta, trước cái chết và sự vĩnh hằng!

Nhưng họ quỳ xuống quanh ông và kêu lên: “Chúng con đã sẵn sàng, nhưng còn Người, bộ óc của hội thánh, xin Người hãy trốn đi, vì Người là đấng tổng quản thay mặt Chúa để cai quản những người Thiên Chúa kia mà!”. Và vừa nói thế, họ vừa bám lấy áo ông, ông đặt tay lên đầu họ, từ biệt từng người một, như người cha già từ giã đàn con sắp lên đường vào một cuộc viễn du.

Rồi họ bắt đầu rời khỏi căn nhà gỗ, vì họ rất nóng lòng muốn trở về nhà, từ đó họ sẽ vào nhà ngục rồi lên đấu trường. Tâm tưởng họ đã rời khỏi trái đất, linh hồn họ đã bay tới chốn vô cùng, họ bước đi như trong mộng hay trong một cơn mê đắm đuối, cưỡng chống lại sức mạnh vốn tồn tại trong lòng họ, chống lại bạo lực và sự tàn bạo của bọn “thú dữ”.

Đức Sứ Đồ được Nereus, một đầy tớ của ông Puđenx dễn đi theo một đường mòn ẩn trong vườn nho đến nhà mình. Nhưng trong đêm sáng vằng vặc, Vinixius bước theo sau họ và khi họ đến được túp lều của Nereus, chàng đột ngột quỳ xuống chân Sứ Đồ.

Nhận ra chàng, ông hỏi:

– Con muốn gì kia, hở con?

Nhưng sau những gì được nghe trong căn nhà gỗ, Vinixius không dám van xin ông điều chi nữa, chàng chỉ dùng hai tay ôm lấy chân ông, ghì chặt trán mình vào đó, vừa nức nở và bằng cách thức không lời ấy chàng muốn khẩn cầu tình thương.

Ông nói:

– Ta biết rồi. Chúng nó bắt mất người con gái mà con yêu thương. Vậy hãy cầu nguyện cho nàng.

– Người ơi! – Vinixius nức lên, càng ghì chặt hai chân Đức Sứ Đồ hơn nữa – Người ơi! Con chỉ là loài sâu bọ hèn mọn, còn Người quen biết Chúa Crixtux, xin hãy khẩn cầu Chúa, xin Người hãy bênh vực con với!

Và run lên như một chiếc lá cây vì nỗi đớn đau, chàng đập trán xuống đất, chàng biết khả năng của Đức Sứ Đồ và hiểu rằng chỉ mỗi mình ông mới có thể mang nàng về cho chàng mà thôi.

Chính nỗi đau đớn kia khiến ông Piotr động lòng. Ông nhớ lại rằng chính Ligia, hồi nào bị ông Krypxpux mắng, cũng đã từng làm như thế này dưới chân ông để khẩn cầu tình thương. Ông nhớ là chính ông đã đỡ nàng dậy và an ủi nàng, nên giờ đây ông bèn đỡ Vinixius dậy.

– Con của ta – Ông nói – Ta cũng cũng sẽ cầu nguyện cho nàng, nhưng con hãy nhớ những điều ta đã nói với những kẻ ngờ vực kia, rằng chính Đức Chúa đã tự mình trải qua nỗi đau bị đóng đinh câu rút và hãy nhớ rằng, sau cuộc đời này sẽ bắt đầu một cuộc sống khác, vĩnh hằng.

– Con hiểu!…Con đã được nghe – Vinixius đáp, đôi môi tái nhợt của chàng hớp hớp không khí – Nhưng Người thấy đấy…Con không thể: Nếu cần máu, Người hãy xin Chúa Crixtux lấy máu của con đây…Còn là người lính. Hãy cho con phải gấp đôi, gấp ba những khổ hình dành cho nàng, con sẽ chịu được, nhưng xin hãy cứu giúp lấy nàng! Người ôi, nàng hãy còn là một đứa trẻ, mà Đức Chúa lại mạnh hơn cả hoàng đế, con tin! Người mạnh hơn! Chính Người cũng yêu thương nàng! Chính Người đã ban phước cho chúng con! Đó hãy còn là một đứa trẻ vô tội!….

Rồi chàng lại cúi xuống dụi mặt vào đầu gối ông Piotr, lặp đi lặp lại:

– Người quen biết Chúa Crixtux! Người quen! Chúa sẽ chiều theo ý Người! Xin Người hãy bênh vực nàng!

Ông Piotr nhắm nghiền mắt lại và cầu nguyện khẩn thiết.

Những ánh chớp mùa hè lại rạch sáng bầu trời. Vinixius nhìn đăm đăm vào miệng Đức Sứ Đồ trong ánh chớp, chờ đợi lời phán quyết sống hay chết. Trong sự tĩnh mịch, nghe rõ tiếng những con chim cun cút gọi nhau trong vườn nho và tiếng vọng trầm đục xa xa của nhwungx cno đường nằm gần Via Xalaria.

– Vinixius – Mãi sau Sứ Đồ hỏi – Vậy con có tin không?

– Thưa người, nếu không sao con lại tới đây? – Vinixius đáp.

– Vậy thì hãy gắng tin cho đến chót, vì lòng tin có thể lay chuyển cả núi. Dù cho con có trông thấy nàng thiếu nữ ấy ở dưới thành gươm hay trong hầm sư tử, hãy tin rằng Chúa Crixtux vẫn có thể cứu được nàng! Hãy tin và cầu nguyện lên Người, còn ta sẽ cầu nguyện cùng con.

Rồi ngước mặt lên trời, ông nói to:

– Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, xin hãy nhìn xuống trái tim đang đau đớn này và an ủi! Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, hãy thổi gió vào lòng chiên! Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, Người đã từng cầu xin Chúa Cha bỏ cốc đắng cay ra khỏi miệng Người, xin hãy bỏ cốc ấy khỏi miệng kẻ tôi tớ này đây của Người! Amen!

Còn Vinixius vươn cả hai tay len phái những vì sao, rên rỉ thốt lên:

– Hỡi Đức Chúa Crixtux! Con là của Người! Xin hãy cho con được chiun thay nàng!

Đằng đông, trời bắt đầu rạng sáng.

Chú thích:

(1) Latinh: Hội thi đấu.

(2) Latinh: Vì Chúa CrixtuxTừ biệt đức Sứ Đồ

(nguồn VNTQ)

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder