Shogun Tướng quân – Tiểu thuyêt của James Clavel (Anh) – Kì 10

Người dịch: Ngô Vĩnh Viễn – Bùi Phụng
Omi đã mỉm cười và tiễn nàng đi, nước mắt làm hoen cả son phấn. Omi buồn vì không có nàng nhưng mừng vì nàng đã đi. Không thì những tiếng kêu thét sẽ làm nàng đau đớn lắm.

Mẹ anh ta nhăn nhó dưới sự tra tấn bay trong gió, bà khe khẽ đu đưa để làm dịu cơn đau, hai vai, các khớp xương đêm nay tệ quá. Đó là cơn gió Tây của biển, bà nghĩ. Dù sao thì ở đây vẫn tốt hơn ở Yedo, ở đó lầy lội và quá nhiều muỗi.

Bà có thể nhìn thấy hình dáng lờ mờ của Yabu trong vườn. Bà thầm căm ghét lão và mong lão chết. Yabu chết thì Mizuno, chồng bà, sẽ là Daimyo của Izu và sẽ lãnh đạo cả thị tộc. Như vậy rất tốt, bà nghĩ. Thế rồi tất cả các em, vợ và con cái của họ sẽ phải quỵ luỵ bà và tất nhiên Mizuno-san sẽ để Omi làm người thừa kế.

Một cơn đau nữa ở cổ làm bà đong đưa nhè nhẹ.

“Con sẽ gọi Kiku-san”, Omi nói về người kỹ nữ đang kiên nhẫn đợi Yabu ở phòng bên cùng với cậu bé.” Cô ta rất, rất khéo léo.”

“Mẹ không sao đâu, chỉ mệt thôi. Ồ, thôi được. Cô ta có thể xoa bóp cho mẹ.”

Omi đi vào phòng bên. Giường đã sẵn sàng. Kiku cúi chào và gắng mỉm cười, lẩm bẩm nói

“Rất vinh hạnh được dùng tài mọn để hầu bà mẹ tôn kính nhất trong nhà…” Nàng xanh hơn ngày thường và Omi có thể thấy tiếng chuông báo tử đã vang lên đối với nàng. Còn cậu bé kia đang cố gắng không tỏ ra sợ hãi.

Khi tiếng kêu thét bắt đầu, Omi phải dùng tất cả sự khôn khéo của mình để thuyết phục nàng ở lại.

“Ôi, Omi-san, em không thể chịu nổi – nó khủng khiếp quá. Em xin lỗi, cho em đi. Em bịt tai lại nhưng âm thanh vẫn lọt qua. Tội nghiệp con người đó – khủng khiếp quá.” Nàng nói.

“Tôi xin Kiku-san, xin nàng hãy kiên nhẫn. Yabu Sama đã ra lệnh như vậy, đúng không? Không thể làm thế nào khác được. Nó sẽ ngừng ngay thôi.”

“Thật quá sức Omi-san. Em chịu hết nổi.”

Theo một phong tục không thể vi phạm, tiền cũng không thể mua được một cô gái, nếu cô, hoặc chủ cô muốn từ chối khách hàng dù người ấy là ai. Kiku là kỹ nữ loại một nổi tiếng nhất Izu dù Omi tin nàng không sánh được ngay cả với một kỹ nữ loại hai của Yedo, Osaka hay Kyoto, nhưng ở đây nàng là đỉnh cao nhất. Và mặc dù anh ta đã đồng ý với bà chủ của nàng, Mama-san Gyoko, trả gấp năm lần giá bình thường, anh ta vẫn không dám chắc Kiku có chịu ở lại hay không.

Omi ngắm nhìn những ngón tay mềm mại của nàng trên cổ mẹ anh ta. Nàng đẹp, người nhỏ xíu, nước da gần như trong suốt và thật mịn, mềm. Bình thường nàng sôi động. Làm sao một cô gái như vậy lại có thể vui trong nỗi ám ảnh của những tiếng kêu thét? Anh ta sung sướng ngắm nhìn nàng, sung sướng được biết thân thể nàng, hơi ấm của nàng.

Đột nhiên tiếng thét dừng lại.

Omi lắng nghe, miệng anh ta hé mở, tai căng ra để chờ nghe âm thanh nhỏ nhất. Anh ta nhận thấy những ngón tay của Kiku đã dừng lại. Mẹ anh ta không ca cẩm, cũng căng thẳng lắng nghe.

Omi nhìn Yabu qua tấm rèm, vị Daimyo vẫn lặng như bức tượng.

“Omi-san!” Cuối cùng Yabu gọi.

Omi đứng lên, ra hàng hiên nhẵn bóng và cúi chào.

“Dạ, thưa Chúa công.”

“Đi xem chuyện gì”

Omi lại cúi chào và đi qua vườn, rẽ vào lối đi rải sỏi dẫn xuống ngọn đồi qua làng và ra bờ biển. Xa xa dưới kia, anh ta có thể nhìn thấy ngọn lửa gần bến tàu và những người đàn ông gần đó. Và từ quảng trường nhìn ra biển thấy rõ nắp hầm và bốn người gác.

Omi thấy tàu của bọn rợ vẫn buông neo an toàn, những ngọn đèn dầu vẫn sáng trên boong và trên những con thuyền nép sát bến. Dân làng – đàn ông, đàn bà, trẻ em – vẫn bốc dỡ hàng hóa. Những chiếc thuyền câu và xuồng vẫn qua lại như một đàn đom đóm. Những kiện hàng, những thùng đồ chất đống trên bãi biển. Bảy khẩu đại bác đã ở đó, một khẩu nữa đang được kéo từ thuyền vào bờ dốc để kéo lên bãi cát.

Anh ta rùng mình dù gió không lạnh. Bao giờ dân làng cũng hát hò trong lao động. Nhưng đêm nay, yên lặng khác thường, dù nhà nào cũng thức, tất cả đều làm việc ngay cả người ốm nhất. Mọi người vội vã đi lại, cúi chào rồi lại tiếp tục đi. Yên lặng. Cả chó cũng ắng đi.

Trước nay chưa bao giờ như thế này, anh ta nghĩ.. Bất giác anh ta đưa tay nắm lấy chuôi kiếm. Hình như Kami của làng đã rời bỏ chúng ta.

Từ bờ biển, Mura đi lên đón Omi trước lúc anh ta mở cửa vườn. Mura cúi chào.

“Chào ngài Omi. Đến chính ngọ sẽ bốc dỡ xong.”

“Tên rợ chết chưa?”

“Tôi không biết, Omi Sama. Tôi sẽ đi xem ngay…”

“Anh có thể đi với tôi.”

Mura ngoan ngoãn đi theo cách anh ta nửa bước. Omi vui mừng vì có bạn đường.

“Anh nói chính ngọ?” Omi hỏi xua đi sự yên lặng.

“Vâng. Mọi việc sẽ tốt đẹp.”

“Ngụy trang thế nào?”

Mura chỉ vào một nhóm bà già và trẻ con đang bện chiếu gần những ngôi nhà lưới. Suwo cùng làm việc với họ.

“Chúng ta có thể phủ đại bác và bọc chúng lại. Ít nhất phải mười người khiêng một cái. Igurashi-san đã cho gọi thêm người khuân vác từ làng bên tới.”

“Tôi đã hết sức cho giữ kín việc này. Thưa ngài.”

“Igurashi-san sẽ để họ hiểu điều cần thiết đó phải không?”

“Omi Sama, sẽ phải dùng hết những bao đựng gạo, những dây bện, cả lưới, cả rơm đệm.”

“Vậy sao?”

“Lấy gì để đánh bắt cá và đóng bao thu hoạch vụ này?”

“Anh phải tìm ra cách.” Giọng Omi sắt lại.

“Thuế của anh mùa này sẽ lại tăng gấp đôi. Đêm nay Yabu-san đã ra lệnh.”

“Chúng tôi đóng thuế năm nay và năm tới rồi.”

“Đó là đặc ân của người nông dân, Mura. Đánh cá, cày ruộng, gặt hái và đóng thuế. Phải thế không?”

Mura nói bình tĩnh :

“Vâng, thưa Omi-san.”

“Trưởng làng mà không kiểm soát nổi làng của mình là đồ vô dụng phải không?”

“Vâng, thưa Omi Sama.”

“Cái tên ấy là một thằng điên, một điều sỉ nhục của làng anh. Còn thằng nào khác như nó không?”

“Không còn ai, thưa Omi Sama.”

“Ta cũng hi vọng như thế. Thái độ hỗn láo đó không thể tha thứ được. Gia đình nó sẽ bị trừng phạt một Koku gạo hoặc cá, ngũ cốc hoặc gì đó. Phải trả trong ba mùa trăng.”

“Vâng, thưa Omi Sama.”

Cả Mura và Omi đều biết khoản đó vượt quá khả năng của gia đình kẻ kia. Chỉ có một thuyền đánh cá, một ruộng lúa nửa hécta, ba gia đình anh em nhà Tamazaki chung nhau – bây giờ còn hai gia đình có bốn đứa con trai và ba đứa con gái, cùng người vợ góa và ba đứa con của Tamazaki. Một Koku gạo tương đương số gạo dùng cho cả ba gia đình đó sống trong một năm. Tất cả nguồn thu nhập thuế khóa trong nước đều tính bằng Koku.

“Mảnh đất này của các thần thánh sẽ đi đến đâu nếu ta quên mất cách xử sự?” Omi hỏi.

“Với cả người dưới lẫn người trên của chúng ta?”

“Vâng, thưa Omi Sama.”

Mura đang tính xem lấy ở đâu ra một Koku, bởi vì làng sẽ phải trả nếu gia đình kia không trả được. Mà lấy đâu ra bao bố, dây bện và lưới? Có thể lấy ở tàu một ít. Tiền thì phải đi vay. Trưởng làng bên còn mang ơn ông ta. A! Đứa con gái đầu lòng của Tamazaki là một con bé rất xinh, sáu tuổi chẳng phải là tuổi rất tốt để đem bán một đứa con gái sao? Và người buôn bán trẻ con tốt nhất vùng Izu này, chẳng phải là chị em họ hàng của mẹ ta đó sao? Một mụ già hám tiền, đáng khinh ghét. Mura thở dài, biết còn bao nhiêu chuyện buôn bán, thương lượng khủng khiếp chờ mình phía trước. Thôi, không sao, ông ta nghĩ. Dễ đứa bé được đến hai Koku. Chắc nó còn đáng giá nhiều hơn nữa.

“Tôi xin tạ lỗi cho lỗi lầm của Tamazaki và xin ngài tha thứ.” Mura nói.

“Đó là lỗi của nó, không phải của anh”, Omi trả lời lịch sự.

Cả hai đều biết đó là trách nhiệm của Mura và tốt hơn hết là không nên có một Tamazaki nữa. Nhưng cả hai đều hài lòng, lời xin lỗi được đưa ra, được chấp nhận, để rồi lại từ chối. Danh dự của cả hai người đều được thoả mãn.

Họ rẽ vào góc bến và dừng lại. Omi do dự một lúc rồi ra hiệu cho Mura đi. Trưởng làng cúi chào, vẻ biết ơn rồi đi.

“Nó chết đấy à, Zukimoto?.”

“Không, thưa Omi-san. Nó vừa ngất đi.”

Omi đến gần cái vạc sắt lớn, làng dùng để rán mỡ cá voi thỉnh thoảng bắt được ở tít ngoài khơi, hoặc nấu dầu cá, một công nghệ của làng. Tên rợ bị nhúng ngập vai trong nước. Mặt anh ta đỏ tía, đôi môi rách toạc để lộ hàm răng mốc thếch.

Từ lúc mặt trời lặn, Omi cảm thấy Zukimoto vênh váo đứng giám sát. Người rợ bị trói gô như một con gà, cánh tay vòng quanh gối, bàn tay thõng xuống chân, bị nhúng vào nước lạnh. Trong suốt thời gian đó, anh chàng rợ nhỏ bé, đầu nhỏ mà Yabu muốn, bắt đầu nói lảm nhảm, cười rồi khóc. Tên thầy tu có mặt ở đó rì rầm những lời cầu nguyện.

Lửa bắt đầu đốt. Yabu không ở ngoài bãi, nhưng lệnh của lão được thi hành ngay. Người rợ bắt đầu hét lên và mê sảng, rồi cố đập đầu mình nát nhừ cho đến khi bị giữ lại. Rồi lại những lời cầu nguyện, tiếng khóc. Ngất đi, tỉnh lại. Rít lên kinh hoàng trước khi cơn đau đớn thực sự bắt đầu. Omi đã cố gắng đứng nhìn như nhìn việc giết một con ruồi, cố không thấy đó là một con người. Nhưng anh ta không thể và đã sớm bỏ đi. Anh ta phát hiện mình không khoái gì tra tấn. Không có một tư thế gì trong đó, anh ta khẳng định, sung sướng vì có dịp biết sự thật mà trước đó anh ta chưa bao giờ nhận thấy. Không có chút tư thế gì cho cả người bị tra tấn lẫn kẻ tra tấn. Nó đã bị tước mất bởi cái chết mà nếu không có tư thế này thì ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống là gì? Anh ta tự hỏi.

Zukimoto bình tĩnh khều miếng thịt đùi đã bị đun sôi của người đó, bằng một cái gậy, y như người ta xem một con cá rim đã được chưa .

“Nó sắp tỉnh bây giờ. Lạ thật, nó có thể chịu đựng lâu đến thế. Tôi không nghĩ chúng được tạo ra như chúng ta, hay nhỉ?” Zukimoto nói.

“Không.” Omi nói, thấy căm ghét hắn.

Zukimoto lập tức cảnh giác.

“Thưa Omi-san, tôi không có ý gì.” Hắn nói và cúi gập người chào.” Không có một chút ý gì.”

“Tất nhiên. Chúa Yabu đã hài lòng vì anh đã làm giỏi như vậy. Phải tài giỏi lắm mới không cho quá nhiều lửa, mà phải vừa đủ.”

“Ngài thật tốt quá, thưa Omi-san.”

“Anh đã làm thế bao giờ chưa?”

“Như thế này thì chưa, nhưng Chúa Yabu đã cho tôi vinh dự này. Tôi chỉ có chiều theo ý người.”

“Ngài muốn biết kẻ kia có thể sống được bao lâu?”

“Cẩn thận thì có thể đến sáng.”

Omi trầm ngâm ngắm nhìn cái vạc. Rồi anh ta đi ngược ra bãi biển vào quảng trường. Tất cả các Samurai đứng lên chào.

“Dưới kia hoàn toàn yên tĩnh, Omi-san.”

Một người trong bọn họ nói với một tiếng cười, chỉ tay về phía cửa hầm. Lúc đầu có tiếng nói, nghe có vẻ giận dữ, một vài cú đấm đá. Sau đó, hai tên trong bọn chúng, có lẽ nhiều hơn, rên rỉ như những đứa bé khiếp sợ. Nhưng từ lâu thấy yên ắng. Omi lắng nghe. Anh ta có thể nghe tiếng nước lóp bóp và rì rầm ở xa xa. Thỉnh thoảng vẳng lại một tiếng rên.

“Thế còn Masijiro?

“Anh ta hỏi tên Samurai bị bỏ lại dưới hầm theo lệnh của anh ta.

“Chúng tôi không biết , thưa Omi-san. Chắc anh ấy chưa tỉnh. Có khi đã chết rồi.”

Tại sao Masijiro lại dở quá như vậy? Omi nghĩ. Bị chế ngự bởi những người không có gì tự vệ, hầu hết lại còn đau ốm, thà hắn chết đi!

“Không thức ăn, không nước uống cả ngày mai. Đến giữa trưa, chuyển những xác chết đi, rõ chưa? Và tôi muốn đem một mình tên cứng đầu lên”

“Rõ, thưa Omi-san.” Omi quay lại chỗ cái vạc và đợi người rợ mở mắt. Sau đó anh ta trở lại vườn và báo cáo những điều Zukimoto nói. Cơn quằn quại hấp hối lại một lần nữa rên rỉ, than vãn trong gió.

“Anh có nhìn vào mắt tên rợ không?”

“Dạ có, thưa Yabu Sama.”

Lúc này Omi quỳ phía sau lão Daimyo, cách mười bước. Yabu vẫn bất động. Ánh trăng chiếu lên chiếc kimono của lão tạo thành bức tượng dương vật trên đốc kiếm.

“Anh thấy cái – cái gì?”

“Sự điên loạn. Chất điên loạn. Cháu chưa bao giờ nhìn thấy đôi mắt như thế. Và nỗi kinh hoàng vô bờ bến.”

Ba cánh hoa rơi nhẹ nhàng.

“Hãy làm một bài thơ về hắn.”

Omi cố bắt đầu óc mình suy nghĩ. Rồi ao ước giá như mình giỏi giang hơn, anh ta nói:

“Đôi mắt hắn

Chính là tận cùng

Địa ngục

Những nỗi đau

Không nói nên lời.”

Tiếng kêu thét bồng bềnh nổi lên, tuy đã yếu đi,khoảng cách dường như làm cho những chỗ ngắt quãng tàn nhẫn hơn.

Một lúc sau Yabu đọc:

“Nếu ta để

Cho cái băng giá của chúng tới nơi

Ta sẽ nhập vào với chúng

Thành độ sâu mênh mông, mênh mông

Không nói nên lời.”

Omi suy nghĩ điều đó rất lâu trong cái đẹp của đêm.

Còn tiếp

(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác