Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 16

Từ khi con thuyền galleon tới, đầu óc Omi luôn xao động và đầy lo ngại cho sự an toàn của Yabu.

“Thưa Chúa công, cho phép con đi cùng, con có thể có ích.”

“Không, bây giờ ta muốn con trông nom bọn rợ.”

“Xin Chúa công, có lẽ bằng một cách nhỏ mọn nào đó, con có thể đền đáp lại tấm lòng của Chúa công đối với con.”

“Không cần thiết”, Yabu nói, tử tế hơn là lão muốn biểu lộ. Lão nhớ đã tăng lương của Omi lên ba ngàn Koku và đã mở rộng thái ấp của anh ta vì những nén vàng bạc và súng ống. Những cái đó bây giờ đã tiêu tan, nhưng lão đã thấy chàng trai trẻ rất quan tâm và điều đó làm lão ấm lòng lên đôi chút.

Với những chư hầu như thế này, ta sẽ tạo một đế chế, lão tự hứa với mình, Omi sẽ chỉ huy một trong những đơn vị đó khi ta lấy lại súng của ta.” Khi nào chiến tranh xảy ra, ta sẽ có công việc rất quan trọng cho cháu, Omi-san. Thôi, bây giờ hãy đi đem tên rợ đến.”

Omi mang theo bốn người gác. Và Mura làm phiên dịch.

*

Blackthorne bị lôi ra khỏi giấc ngủ. Phải mất một phút anh mới định thần lại được. Khi lớp sương mù quang, Omi đang nhìn xuống anh chăm chăm.

Một Samurai lôi cái mền ra khỏi người anh, người khác lay cho anh tỉnh, hai người khiêng những đòn tre trông gớm ghiếc. Mura có một cuộn dây thừng ngắn.

Mura quỳ và chào:

“Kounichi wa”

“Kounichi wa” Blackthorne cũng quỳ đầu gối xuống, mặc dù đang trần truồng, anh vẫn chào lại với cùng một sự lễ độ như vậy.

Vấn đề chỉ là lịch sự thôi, Blackthorne tự nhủ. Đó là phong tục của họ, họ chào để tỏ ra có giáo dục vì vậy chẳng có gì phải xấu hổ cả. Sự trần truồng cũng không được người ta để ý và cũng là phong tục của họ, và trần truồng cũng chằng có gì phải xấu hổ.

“Anjin – mời mặc quần áo”, Mura nói.

Anjin? À, bây giờ mình nhớ rồi. Gã thầy tu nói, họ không thể phát âm được tên mình, vì vậy họ cho mình cái tên Anjin-san – ông hoa tiêu – khi nào mình xứng đáng.

Đừng nhìn Omi, anh tự dặn mình. Đừng vội nhìn. Đừng nhớ lại quảng trường làng và Omi và Croocq và Pieterzoon. Mỗi lúc một thứ thôi. Đó là điều mình sẽ làm. Đó là điều mình đã thề trước Chúa phải làm.

Mỗi lúc một thứ thôi. Thề có đức Chúa cha, trả thù là việc của ta. Blackthorne thấy quần áo của mình lại được giặt, anh cầu nguyện cho người nào đã làm việc ấy. Anh bò ra khỏi quần áo của mình ở trong nhà tắm như thể bị dịch.

Anh đã nói họ kỳ lưng cho mình ba lần bằng bọt bể thô nhám nhất và bằng đá kỳ. Nhưng anh vẫn còn cảm thấy những giọt nước tè nóng bỏng. Anh rời mắt khỏi Mura và nhìn Omi. Anh thấy một nỗi sung sướng đến điên dại khi biết kẻ thù của anh vẫn còn sống và ở gần kề.

Anh cúi chào như anh từng thấy người ta chào.

“Kounichi wa, Omi-san”, anh nói. Nói cái ngôn ngữ của họ cũng chẳng có gì là xấu hổ, nói

“Chào” hay mình chào trước như phong tục của họ, cũng chẳng có gì là xấu hổ.

Omi cúi chào lại.

Blackthorne để ý thấy cái chào không hoàn toàn bình đẳng, nhưng lúc này thế là đủ.

“Kounichi wa, Anjin”, Omi nói.

Giọng nói lịch sự nhưng chưa đủ:

“Anjin-san”, Blackthorne nhìn thẳng vào gã ta.

Ý chí của hai người xoắn bện vào nhau. Omi như đang trong ván bài. Mình có biết cách cư xử hay không?

“Kounichi wa, Anjin-san”, cuối cùng Omi nói, thoáng một nụ cười.

Blackthorne mặc nhanh quần áo.

Anh mặc quần rộng, xi líp, bít tất, áo sơ mi và áo khoác, mái tóc dài của anh buộc thành đuôi gọn gàng, râu đã được tỉa bằng kéo người thợ cắt tóc cho anh mượn.

“Hai, Omi-san”, Blackthorne hỏi khi anh mặc xong quần áo. Cảm thấy dễ chịu hơn nhưng rất cảnh giác, chỉ mong mình có nhiều từ hơn để dùng.

“Làm ơn, tay”, Mura nói.

Blackthorne không hiểu và dùng cử chỉ để nói lên điều đó, Mura giơ hai tay mình ra, làm như trói lại.

“Tay, làm ơn.”

“Không.” Blackthorne nói trực tiếp với Omi và lắc đầu:

“Điều đó không cần thiết.” Anh nói bằng tiếng Anh,

“Không cần thiết chút nào hết, tôi hứa”, anh để giọng nói của mình nhẹ nhàng và hợp lý rồi nói thêm giọng gay gắt bắt chước Omi

“Wakari masu ka, Omi

san? Ông có hiểu không?”

Omi cười. Rồi nói,

“Hai, Anjin-san – Wakari matsu.” Anh ta quay lưng lại và đi.

Mura và những người khác nhìn anh ta chằm chằm, kinh ngạc. Blackthorne đi theo Omi trong nắng. Đôi ủng của anh đã được đánh bóng. Trước khi anh định đi vào, thì người đầy tớ gái

“Onna” đã quỳ gối giúp anh.” Cám ơn Haku-san.” Anh nói, nhớ lại tên của chị ta. Chữ

“Cám ơn” nói thế nào nhỉ? Anh tự hỏi.

Anh đi qua cổng, Omi đi trước.

Ta đi sau ngươi, cái đồ… Chúa nguyền rủa – khoan nào! Ngươi nhớ ngươi đã từng hứa cái gì không? Mà tại sao lại chửi thề hắn, cả mình nữa? Hắn có chửi thề mình đâu? Chửi thề là dành cho kẻ yếu, bọn ngu. Phải vậy không?

Mỗi lần một chuyện thôi. Mình đi theo anh ta là được rồi. Ngươi biết điều đó rõ ràng. Đừng mắc khuyết điểm gì hết, anh ta biết điều đó rất rõ ràng.

Bốn người Samurai đi kèm hai bên Blackthorne khi anh bước xuống đồi, bến cảng vẫn còn khuất tầm mắt. Mura kín đáo đi sau mười bước. Omi đi đầu.

Bọn họ lại cho mình xuống hầm nữa sao? Anh tự hỏi. Tại sao họ lại muốn trói tay mình? Omi chẳng nói là ngày hôm qua – lạy Chúa, phải chăng đó chỉ là ngày hôm qua…

“Nếu anh cư xử tử tế, anh có thể ra ngoài hầm. Nếu anh cư xử tồi tệ, ngày mai một người nữa sẽ bị đưa ra khỏi hầm. Có lẽ. Và có lẽ nhiều hơn nữa.”

Có phải hắn ta nói như vậy không nhỉ?

Mình có cư xử tử tế không? Không hiểu Croocq bây giờ thế nào? Cậu bé còn sống khi họ khiêng tới ngôi nhà nơi đoàn thủy thủ ở lại lần đầu.

Hôm nay Blackthorne cảm thấy khá hơn. Tắm rồi ngủ và thức ăn tươi đã bắt đầu làm anh hồi phục. Anh biết, nếu cẩn thận, được nghỉ ngơi, ngủ và ăn, trong vòng một tháng anh có thể chạy một dặm, bơi một dặm, chỉ huy một tàu chiến và đưa nó đi vòng quanh trái đất.

Đừng nghĩ đến điều đó vội. Bây giờ hãy giữ gìn sức khỏe. Một tháng không nhiều để hi vọng, phải không? Đi bộ xuống đồi và qua làng làm anh mệt. Ngươi đuối hơn là ngươi tưởng. .. Không. Ngươi khỏe hơn là ngươi tưởng, anh ra lệnh cho mình.

Những cột buồm của con tàu Erasmus vươn cao trên những mái ngói. Tim anh đập rộn ràng. Phía trước mặt, phố lượn theo sườn đồi, trườn xuống quảng trường và kết thúc. Một chiếc kiệu buông rèm ngoài nắng. Bốn người khiêng đóng khố gọn ghẽ ngồi xổm bên cạnh, xỉa răng một cách lơ đãng. Khi nhìn thấy Omi, họ quỳ xuống sát đất.

Omi khẽ gật đầu khi anh ta đi qua, nhưng khi một thiếu nữ ra khỏi cổng tiến tới kiệu, anh ta dừng lại.

Blackthorne nín thở và cũng dừng lại.

Một người đầy tớ gái trẻ chạy ra, giơ chiếc dù xanh để che cho cô gái. Omi cúi chào, cô gái cúi chào, họ nói chuyện vui vẻ với nhau. Vẻ kiêu căng, khệnh khạng đã biến mất khỏi Omi.

Cô gái mặc kimono màu hoa đào, chiếc thắt lưng to màu vàng, đôi dép da màu vàng. Blackthorne thấy cô gái liếc nhìn anh. Rõ ràng cô và Omi đang nói về anh. Anh không biết phải làm gì, vì vậy anh không làm gì hết, chỉ kiên nhẫn đợi, rạng rỡ trong nhan sắc của nàng, sự thanh khiết và ấm áp trong sự hiện diện của nàng.

Anh tự hỏi, không hiểu nàng và Omi có phải là người yêu của nhau không, hay nàng là vợ của Omi? Và anh nghĩ, nàng có phải là thật không?

Omi hỏi nàng điều gì, nàng trả lời, phất chiếc quạt xanh, nó ánh lên và nhảy múa trong nắng.Tiếng cười của nàng, tiếng nhạc và vẻ thanh khiết của nàng. Omi cùng cười rồi anh ta quay gót, rảo bước, lại trở lại là một Samurai.

Blackthorne đi theo. Đôi mắt nàng nhìn anh, và anh nói:

“Konnichi wa.”

“Konnichi wa, Anjin-san.” Nàng trả lời, giọng nàng làm anh xúc động, nàng cao chừng năm feet và hoàn hảo. Khi nàng khẽ cúi chào, gió lay mảnh lụa bên ngoài để lộ

chiếc kimono lót đỏ tươi mà anh thấy khêu gợi lạ lùng.

Mùi hương của cô gái vẫn còn bao phủ lấy anh khi anh rẽ vào góc phố. Anh nhìn thấy cánh cửa nắp hầm và con tàu . Một con thuyền galleon. Cô gái biến khỏi trí óc anh.

Tại sao chỗ để súng của chúng ta lại trống không? Đại bác của chúng ta ở đâu? Và Chúa chứng giám, cái con thuyền galleon khốn kiếp làm gì ở đây và điều gì đã xảy ra trong hầm?

Mỗi lần một thứ thôi.

Trước tiên là tàu Erasmus. Mẩu cột buồm trước đây bị cơn bão tiện đi nhô lên một cách kheo. chịu. Không sao, anh nghĩ. Chúng ta có thể đưa nó ra khơi dễ dàng. Chúng ta có thể tháo neo, gió ban đêm và thủy triều sẽ đưa chúng ta đi lặng lẽ và ngày mai đã ở tít bên kia hải đảo.

Mất nửa ngày để giương buồm dự trữ, thế rồi mọi cánh buồm đều căng phồng lao thẳng ra khơi. Có lẽ là không buông neo, cứ chạy thẳng tới những vùng biển an toàn. Những ai sẽ thành thủy thủ? Mình không thể một mình đưa nó ra khơi được.

Con thuyền khốn kiếp ấy từ đâu tới? Và tại sao nó lại ở đây?

Anh có thể thấy bọn Samurai và các thủy thủ ở dưới bến. Con thuyền sáu mươi mái chèo – mỗi bên ba mươi mái – gọn ghẽ, ngăn nắp, những mái chèo xếp cẩn thận, sẵn sàng lên đường tức khắc. Bất giác anh rùng mình.

Lần cuối cùng anh nhìn thấy một chiếc galleon là ở ngoài khơi Bờ Biển Vàng (Gold Coast : tên cũ của Ghana cho đến năm 1957) hai năm về trước, khi hạm đội của anh vượt đại dương, toàn bộ năm chiếc tàu. Đó là một thuyền buôn giàu có, con thuyền Portugal, nó chạy trốn tàu anh, ngược chiều gió. Không đuổi kịp được nó, không bắt được hoặc nhấn chìm được nó.

Blackthorne hiểu rất rõ bờ biển Nam Phi. Anh đã từng là hoa tiêu, là chủ thuyền trong mười năm cho công ty của những lái buôn Barbary (một vùng ở Bắc Phi chạy dài từ Tây Ai Cập tới Đại Tây Dương) , London, một công ty liên hợp trang bị cho những lái buôn chiến đấu phong tỏa Spain và buôn bán ở bờ biển Barbary.

Anh đã dẫn tàu tới Tây và Bắc Phi, tới miền Nam tận Lagos (thủ đô và cảng chính của Nigeria), về phía Bắc và Đông, qua eo Gibralta đầy bất trắc – luôn do Spain tuần tra – cho mãi đến tận Salécnô trong vương quốc Náplơ. Địa Trung Hải nguy hiểm đối với tàu bè của Anh và Holland. Chiến thuyền thù địch của Spain và Portugal rất đông, rất mạnh ở đó và tệ hơn nữa, bọn Ottoman, bọn Thổ Nhĩ Kỳ bất trung đầy rẫy ngoài biển với những chiến thuyền và thuyền galleon đốn mạt.

Những chuyến đi đó rất có lợi cho anh, anh đã mua tàu riêng cho mình, một con thuyền hai buồm trọng tải một trăm năm mươi tấn để buôn bán. Nhưng thuyền của anh đã bị đắm và mất hết. Con thuyền không có gió ở hòn đảo Sacdinia (Một hòn đảo lớn thứ hai Địa Trung Hải), lúc đó con thuyền galleon Thổ Nhĩ Kỳ tiến ra. Cuộc chiến đấu tàn khốc, và đến khi mặt trời lặn, mũi nhọn của tàu địch đâm vào đuôi tàu của họ, họ phải chạy vát rất nhanh. Anh không bao giờ quên được tiếng thét
(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác