Shogun Tướng quân- Tiểu thuyêt của James Clavel (Anh) – Kì 2

Người dịch : Ngô Vĩnh Viễn & Bùi Phụng

Blackthorne ở trong một chiếc thuyền nhỏ, người chèo thuyền vui vẻ đẩy mái chèo về phía chiếc Erasmus. Anh kiếm được chiếc thuyền này không khó khăn gì và anh

có thể nhìn thấy mọi người trên sàn tàu. Tất cả đều là Samurai. Một số mặc giáp che ngực bằng thép nhưng hầu hết đều mặc kimono thường, – người ta gọi chiếc áo dài bằng cái tên như vậy,- và hai thanh kiếm. Tất cả cùng để tóc một kiểu, phía đỉnh đầu cạo nhẵn, tóc ở phía sau và hai bên gom lại thành một cái đuôi sam, bôi dầu, cuốn hai vòng trên đỉnh đầu, buộc lại gọn ghẽ. Chỉ Samurai mới được phép để như thế và đối với họ, đó là điều bắt buộc. Chỉ Samurai mới đeo hai thanh kiếm – thanh kiếm dài để chém giết, cán cầm bằng cả hai tay và thanh ngắn giống như một lưỡi dao găm. Đối với họ đó là điều bắt buộc.

Những Samurai đứng dọc bên mép tàu của anh, nhìn anh.

Lòng bồn chồn, anh trèo lên cầu tàu, đi vào sàn tàu. Một Samurai ăn mặc lịch sự hơn những người khác tiến tới và cúi chào. Blackthorne đã biết rõ cung cách này, anh cúi chào lại. Mọi người trên sàn tàu rạng rỡ hẳn lên. Anh vẫn còn cảm thấy sự rùng rợn của cách giết người đột ngột vừa rồi ở ngoài phố. Những nụ cười của họ không làm giảm sự bàng hoàng của anh. Anh đi về phía cầu thang dẫn tới cabin và dừng lại đột ngột. Một tấm lụa đỏ lớn dán ngang ô cửa, bên cạnh là một dấu nhỏ với hàng chữ loằng ngoằng kỳ dị. Anh do dự ngó sang cánh cửa bên kia, nhưng nó cũng được gắn bằng một khuông vải và một cái dấu tương tự.

Anh với tay định bóc khuông lụa.

“Hotte Oké!” Để làm cho rõ ràng hơn, người Samurai đứng gác lắc đầu. Anh ta không còn cười nữa.

“Nhưng đây là tàu của tôi và tôi muốn…”

Blackthorne cố kìm nỗi lo ngại, mắt vẫn nhìn những thanh kiếm. Mình phải xuống dưới đó, anh nghĩ. Phải lấy hải trình của mình, đó là điều bí mật. Lạy Chúa, nếu người ta tìm thấy những cái đó và trao cho các thầy tu hoặc những người Nhật thì là xong. Bất cứ một tòa án nào trên thế giới (trừ England và Holland) đều sẽ kết tội anh là hải tặc với chứng cớ đó. Hải trình ghi ngày tháng, địa điểm và số chiến lợi phẩm thu được, số lượng người chết trong ba cuộc đổ bộ ở châu Mỹ và một ở châu Phi, số nhà thờ bị cướp phá và việc đã đốt các thành phố và tàu bè như thế nào. Còn hải trình Portugal? Đó là giấy khai tử, bởi vì tất nhiên nó đã bị đánh cắp. Ít nhất nó cũng đã được mua của một tên phản bội Portugal và theo luật của họ, bất cứ một người nước ngoài nào bị bắt mà có giữ hải trình của họ, chưa nói đến hải trình mở đường vào eo Magellan, thì sẽ bị giết chết ngay lập tức. Và nếu hải trình đó được tìm thấy trên một tàu địch, con tàu đó sẽ bị đốt, tất cả mọi người trên tàu đều bị xử tội không chút xót thương.

“Nan no yoda?” Một Samurai nói.

“Ông có nói tiếng Portugal không?” Blackthorne hỏi.

Người đàn ông nhún vai :” Wakari masu.”.

Một người khác tiến lên kính cẩn nói với người thủ lĩnh, người này gật đầu đồng ý.

“Bạn của người Portugal”, người Samurai này nói tiếng Bồ nhưng phát âm rất nặng. Anh ta mở áo kimono, để lộ một cây thánh giá nhỏ bằng gỗ đeo ở cổ.

“Thiên Chúa!” anh ta chỉ vào mình và mỉm cười.

“Thiên Chúa!” Anh ta chỉ vào Blackthorne.

“Thiên Chúa không?”

Blackthorne do dự rồi gật đầu:

“Thiên Chúa!”

“Người Portugal?”

“Người Anh.”

Người đàn ông nói líu lo thủ lĩnh của mình, cả hai nhún vai rồi lại nhìn anh. “Portugal?”

Blackthorne lắc đầu, không thích mình lại không đồng ý với họ về bất cứ điều gì.

“Các bạn tôi? Ở đâu?”

Người Samurai chỉ về cuối làng. “Bạn.”

“Đây là tàu của tôi. Tôi muốn xuống dưới.” Blackthorne nói điều đó bằng nhiều cách, gồm cả ra hiệu. Họ hiểu.

“Ah, so desu! Kinjiru”, họ nhấn mạnh, chỉ hàng chữ và tươi cười.

Rõ ràng, anh không được phép xuống dưới. Kinjuru hẳn có nghĩa là cấm, Blackthorne bực bội nghĩ. Ờ. Mẹ kiếp! Anh giật quả đấm cửa và mở ra một chút.

“Kinjiru!”

Anh bị giật lại, giáp mặt với một Samurai. Những thanh kiếm của họ đã rút khỏi nửa bao. Đứng yên bất động, hai người đàn ông đợi anh quyết định. Những người khác trên.sàn tàu ngắm nhìn dửng dưng.

Blackthorne biết, anh không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc lùi lại, vì vậy anh nhún vai, kiểm tra lại những sợi dây thừng lớn và cả con tàu hết sức cẩn thận. Những cánh buồm tơi tả đã được hạ xuống và buộc lại. Nhưng những sợi dãy chằng lại khác với tất cả những gì anh đã từng nhìn thấy, vì thế anh cho rằng người Nhật đã làm cho con tàu thêm chắc chắn. Anh đi xuống cầu tàu và đứng lại. Anh toát mồ hôi lạnh, khi thấy tất cả bọn họ đều nhìn anh một cách hiểm ác và lạy Chúa, anh nghĩ bụng, sao mình lại có thể ngu ngốc đến như vậy? Anh cúi chào lịch sự và lập tức sự thù địch biến mất, tất cả cúi chào lại và mỉm cười. Nhưng anh vẫn cảm thấy mồ hôi ròng ròng chảy dọc xương sống, anh căm ghét tất cả những gì dính dáng tới Nhật, anh ao ước anh và các thủy thủ của mình lại trở lại tàu, được vũ trang và giong buồm ra khơi.

* ”

Lạy Chúa tôi, tôi nghĩ chắc là anh lầm, hoa tiêu ạ”, Vinck nói. Nụ cười móm của anh ta rộng ngoác và tục tĩu

“Nếu anh có thể chịu nổi với cái của mà người ta gọi là thức ăn, thì đó là nơi tốt nhất mà tớ được ở. Tớ đã được hai người đàn bà trong ba ngày và họ như những con thỏ. Họ sẽ làm bất cứ cái gì nếu cậu bày cách cho họ làm.”

“Đúng thế. Nhưng mình chẳng làm nổi trò trống gì nếu không có thịt hoặc rượu. Chẳng thể lâu được. Tớ mệt nhoài, và tớ chỉ có thể làm được một lần”,

Maetsukker nói, khuôn mặt hẹp của anh ta giật giật.

Lũ con hoang da vàng không hiểu rằng chúng ta cần thịt,bia và bánh mỳ. Rượu mạnh hoặc vang.”

“Đó là điều tồi tệ nhất! Lạy Chúa tôi, tôi sẵn sàng đổi cả nước thiên đàng lấy chút tửu!”

Baccus Van Nekk đầy u sầu. Ông bước tới, đứng bên Blackthorne, ngước lên nhìn anh. Ông cận thị nặng và đã mất đôi kính cuối cùng trong trận bão. Nhưng dù có kính chăng nữa, ông cũng vẫn luôn luôn đứng sát lại. Ông là thương nhân.chính, người giữ ngân và là đại diện của Công ty Đông Ấn – Holland đã góp tiền cho cuộc hành trình này.

“Chúng ta đã ở trên bờ, yên ổn rồi mà tôi vẫn không có được một hớp rượu nào. Không một giọt rượu nào! Khủng khiếp. Cậu có được chút nào không, hoa tiêu?”

“Không” Blackthorne không thích ai gần anh nhưng Baccus là bạn, và gần như mù, vì thế anh không tránh ra chỗ khác.

“Chỉ có nước sôi với mấy cái lá trong đó.”

“Họ chẳng hiểu tửu là gì. Chẳng có gì uống ngoài nước sôi và mấy cái lá – Chúa hãy cứu giúp chúng tôi! Có lẽ cả cái đất nước này không có rượu chắc?”

Lông mày ông rướn lên.

“Hoa tiêu, hãy cho tôi một ân huệ to lớn. Đi xin một ít rượu, được không?”

Blackthorne đã tìm thấy ngôi nhà họ bị giam ở góc phía Đông của làng. Người lính gác Samurai đã để anh qua, nhưng các thủy thủ của các anh xác nhận là họ không thể bước ra ngoài cổng vườn. Ngôi nhà có nhiều phòng như phòng của anh nhưng rộng hơn và có nhiều đầy tớ tuổi tác khác nhau, cả đàn ông lẫn đàn bà.

Mười một người trong số thủy thủ đoàn của anh còn sống. Những người chết đã được người Nhật đưa đi. Những suất rau tươi phong phú đã bắt đầu chữa khỏi bệnh thiếu vitamin C, và tất cả, trừ hai người, đã bình phục nhanh chóng. Hai người này trong ruột bị chảy mủ. Vinck chích cho họ nhưng cũng không ăn thua. Đến tối , anh nghĩ, họ sẽ chết. Viên hạm trưởng ở một phòng khác, vẫn đang còn rất mệt.

Sonk, người làm bếp, thấp, to ngang , bật cười nói:

“Hoa tiêu ơi, ớ đây thế mà tốt, đúng như Johann nói, chỉ trừ thức ăn và không rượu. Những người bản xứ cũng không đến nỗi nào, chừng nào anh không đi giày vào nhà. Lũ con hoang da vàng phát điên nếu anh không cởi giày ra.”

“Này, Blackthorne nói. Ở đây có một tên thầy tu. Một tên Jesuit.”

“Lạy Chúa tôi!.” Tất cả những trò đùa cợt biến mất khi anh kể cho họ nghe về gã thầy tu và về vụ chém đầu vừa rồi.

“Tại sao hắn lại chặt đầu người đó, hoa tiêu?.”

“Mình không biết.”

“Tốt nhất, chúng ta nên lên tàu. Nếu bọn cha cố thấy chúng ta trên bờ…” Một nỗi sợ hãi bao trùm trong phòng lúc này. Salamon, anh chàng câm nhìn Blackthorne. Mồm anh ta mấp máy, nước bọt sùi ra ở khoé miệng.

“Không. Salamon ạ, không lầm đâu”, Blackthorne nói một cách nhẹ nhàng để đáp lại câu hỏi lặng câm của anh.

“Hắn nói hắn là một tên Jesuit mà.”.

“Lạy Chúa tôi, Jesuit hay Dominican hoặc gì gì đi chăng nữa thì cũng chẳng khác nhau cái cứt gì”, Vinck nói.

“Chúng ta nên quay lên tàu thôi. Hoa tiêu, cậu hỏi tay Samurai đó đi.”

“Chúng ta ở trong tay Chúa”, Jan Roper nói.

Anh ta là một trong những lái buôn phiêu lưu, mắt hẹp, trán cao, mũi mỏng.

“Chúa sẽ che chở chúng ta khỏi những kẻ thờ quỷ Sa tăng.”.

Vinck nhìn Blackthorne.

“Thế còn những người Portugal, hoa tiêu? Anh có nhìn thấy ai không?”

“Không. Không có dấu hiệu gì của họ ở trong làng.”.

“Chúng sẽ bu đến đây ngay khi biết chúng ta.” Maetsukker nói thay cho mọi người và chú bé Croocq bật lên một tiếng rên.

“Ừ, đã có một tên thầy tu, tất phải có những tên khác.”.

Ginsel liếm đôi môi khô :

“Và bọn chinh phục Spain bị Chúa nguyền rủa cũng không xa…”

“Đúng thế”, Vinck nói thêm, không thoải mái.

“Chúng nó như chấy.”.

“Lạy Chúa tôi! Lũ thầy tu!” Có người nào lẩm bẩm.

“Và lũ chinh phục Spain!.”

“Nhưng chúng ta đang ở Nhật, phải không hoa tiêu?” Van Nekk hỏi.

“Anh ta bảo với anh thế?”

“Ừ, sao?.”

Van Nekk xích lại gần hơn và hạ giọng :

“Nếu như có thầy tu ở đây và một vài người bản xứ là công giáo thì có lẽ cái phần kia là đúng – về sự giàu có, vàng, bạc và đá quý ấy.” Tất cả đều im lặng.

“Anh có thấy chút gì không, hoa tiêu? Có vàng không? Có đá quý ở những người bản xứ, hoặc vàng không?”

“Không. Không có gì hết”, Blackthorne suy nghĩ một lúc.” Mình không nhớ đã nhìn thấy được gì. Không có vàng đeo cổ, chuỗi hạt hoặc vòng xuyến gì. Mà này, còn điều này nữa kể cho các cậu nghe. Mình đã lên tàu nhưng nó bị niêm phong rồi.” Anh kể lại những điều đã xảy ra và nỗi lo ngại của họ tăng lên.

“Lạy Chúa tôi, nếu chúng ta không thể trở lại tàu, lại có cả thầy tu . Chúng ta phải đi khỏi đây thôi.” Giọng Maetsukker bắt đầu run lên.

“Hoa tiêu, chúng ta sẽ làm gì đây? Họ sẽ thiêu sống chúng ta! Những tên chinh phục Spain – những thằng con hoang đó sẽ xọc kiếm của chúng…”

“Chúng ta ở trong tay Chúa”, Jan Roper nói to một cách tự tin.

“Người sẽ che chở chúng ta khỏi những kẻ nghịch Chúa. Đó là lời hứa của Người. Chằng có gì phải sợ.”.

Blackthorne nói:

“Cái cách Samurai Omi-san càu nhàu với gã thầy tu, tôi chắc anh ta ghét gã. Như vậy là tốt phải không? Điều tôi muốn biết là tại sao gã thầy tu lại không mặc chiếc áo dài bình thường của họ? Tại sao lại chiếc áo màu da cam? Trước đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái đó.”.

“Đúng, lạ thật!.” Van Nekk nói.

Blackthorne nhìn lên.

“Có lẽ ảnh hưởng của họ ở đây không mạnh. Điều đó có thể giúp chúng ta rất nhiều.”

“Chúng ta nên làm gì, hoa tiêu?” Ginsel hỏi.

“Hãy kiên nhẫn và đợi thủ lĩnh của họ, Daimyo tới. Ông ta sẽ để chúng ta đi. Tại sao lại không? Chúng ta chẳng làm gì hại cho họ. Chúng ta có hàng hóa để buôn bán. Chúng ta không phải là hải tặc. Chúng ta chẳng có gì để sợ cả.”

“Rất đúng, và đừng quên, hoa tiêu nói bọn rợ không phải tất cả đều là công giáo”, Van Nekk nói để tang dũng khí cho chính mình hơn là cho những người khác.

“Phải. Anh chàng Samurai ghét gã thầy tu là điều tốt. Và chỉ có Samurai mới được vũ trang thôi. Cũng không đến nỗi quá xấu, phải không? Canh chừng bọn Samurai và lấy lại vũ khí của chúng ta. Ý kiến là như thế. Chúng ta sẽ lên tàu ngay cho mà xem.”.

“Ngộ nhỡ cái gã Daimyo này lại là cha cố thì sao?” Jan Roper hỏi.

Không ai trả lời. Sau đó Ginsel nói:

“Hoa tiêu, cái anh chàng đeo kiếm hả? Hắn ta băm cái gã da vàng kia thành từng mảnh sau khi chặt đầu gã à?”
“Ừ.”

“Lạy Chúa! Họ là những kẻ man rợ! Những kẻ mất trí.” Ginsel là một thanh niên cao, đẹp trai, cánh tay ngắn, chân đi vòng kiềng. Bệnh thiếu vitamin C đã làm anh mất hết răng.

“Sau khi hắn chặt đầu gã kia, những người khác cứ thế bỏ đi? Không nói điều gì cả?”

“Lạy Chúa tôi, một người không có vũ khí bị giết chết như vậy ư? Tại sao hắn lại làm như vậy? Tại sao hắn lại giết anh ta?”

“Mình không biết, Ginsel ạ. Nhưng cậu không bao giờ nhìn thấy một tốc độ như vậy. Gươm vừa tuột khỏi vỏ, đầu người đàn ông đã lăn lông lốc.”.

“Chúa che chở cho chúng ta!”

“Lạy Chúa tôi” ,Van Nekk lẩm bẩm.

“Nếu chúng ta không thể trở lại tàu. Trận bão đáng nguyền rủa. Không có kính tôi thấy bất lực quá đi!”

“Có bao nhiêu Samurai trên tàu, hoa tiêu?” Ginsel hỏi.

“Hai mươi hai trên sàn tàu. Nhưng trên bờ thì nhiều hơn.”

“Cơn giận của Thượng đế sẽ giáng xuống những người ngoại đạo và những kẻ có tội, họ sẽ bị thiêu đốt đời đời trong địa ngục.”.

“Tôi muốn biết chắc điều đó, Jan Roper”, Blackthorne nói, giọng gai gai khi anh cảm thấy nỗi sợ về sự báo thù của Chúa lướt qua căn phòng. Anh rất mệt và muốn ngủ.

“Anh có thể chắc được điều đó không, hoa tiêu, tôi thì tôi chắc. Tôi cầu xin đôi mắt anh mở ra trước chân lý của Chúa. Cầu xin Chúa để anh hiểu được rằng chúng tôi ở đây chỉ bởi tại anh,những cái chúng tôi còn lại.”

“Cái gì?” Blackthorne nói một cách nguy hiểm.

‘Tại sao anh lại cố thuyết phục hạm trưởng thử tạt vào Nhật Bản? Trong mệnh lệnh của chúng ta không có điều đó. Lệnh của chúng ta là cướp phá Tân thế giới, đưa chiến tranh vào trong lòng địch rồi về.”.

“Có tàu Spain ở phía Nam và phía Bắc chúng ta, và không còn nơi nào khác để chạy cả. Trí nhớ của anh có còn cùng với trí khôn của anh không? Chúng ta phải đi về phía Tây, đó là cơ hội duy nhất của chúng ta.”.

“Tôi chưa hề nhìn thấy tàu của địch, hoa tiêu ạ. Không một ai trong chúng ta nhìn thấy.”.

“Thôi nào, Gian” ,Van Nekk nói mệt mỏi.

“Hoa tiêu đã làm điều anh ấy nghĩ là tốt nhất. Tất nhiên là có những người Spain ở đó.”.

“Ừ, đó là sự thật Chúng ta ở cách bạn bè hàng ngàn hải lý và ở trong vùng biển của địch, lạy Chúa.”. Vinck nhổ nước miếng .

“Đó là chân lý của Chúa – và chân lý của Chúa là chúng ta đã tiến hành biểu quyết. Tất cả đều nói có.”

“Tôi không.”. Sonk nói:

“Không ai hỏi tôi.”

“Ôi, lạy Chúa tôi!”

“Bình tĩnh, Johann”, Van Nekk nói, cố làm dịu sự căng thẳng.

“Chúng ta là những người đầu tiên đến Nhật Bản. Các cậu có nhớ mọi chuyện không hả? Chúng ta giau nếu như chúng ta giữ được sự minh mẫn của mình. Chúng ta có hàng buôn và ở đây có vàng – hẳn phải như vậy. Chúng ta còn bán được hàng hóa của mình ở nơi nào?

Không phải ở Tân thế giới, nơi bị săn đuổi và phá xơ xác! Họ đang săn đuổi chúng ta, và những người Spain biết chúng ta đã ra khỏi Santa Maria (một tỉnh ở phía nam Brazil). Chúng ta phải rời Chile và không có đường trở lại qua eo Gibranta, tất nhiên họ sẽ phục kích chúng ta, nhất định là như thế. Không, đây chính là một cơ hội duy nhất của chúng ta. Hàng hóa của chúng ta có thể đổi lấy hương liệu, vàng và bạc. Hãy nghĩ tới nguồn lợi – hàng nghìn lần đó là bình thường. Chúng ta đang ở trên bán đảo hương liệu. Các cậu biết sự giàu có của Nhật Bản và Cathay. Các cậu vẫn nghe hoài những chuyện đó. Tất cả chúng ta đều nghe nói. Nếu không thì tại sao tất cả chúng ta đều ký vào? Chúng ta sẽ giàu, rồi mà xem!”

“Chúng ta hết đời rồi, giống như tất cả những người khác. Chúng ta đang ở trên đất của Satan.”.

Vinck giận dữ nói:

“Câm miệng, Roper! Hoa tiêu làm đúng. Những người khác chết không phải lỗi của anh ấy. Không phải lỗi của anh ấy. Người ta thường chết trong những chuyến đi như thế.”.

Đôi mắt của Jan Roper bạc đi, đồng tử nhỏ lại.” Phải cầu Chúa cho linh hồn họ được bình yên. Anh trai tôi ở trong số đó.”.

“Good” Blackthorne nhìn vào đôi mắt cuồng tín đó, lòng thấy căm ghét Jan Roper .

Anh cũng đang tự hỏi có thực anh đi về phía Tây để tránh tàu địch không? Hay vì anh là hoa tiêu Anh đầu tiên vượt qua eo Gibranta?

Jan Roper rít lên :

“Có phải những người khác đã chết vì tham vọng của anh không, hoa tiêu? Chúa sẽ trừng phạt anh!”

“Thôi câm mồm đi”, Blackthorne nói nhẹ nhàng mà dứt khoát.

Jan Roper nhìn lại, cũng với nét mặt co rúm và băng giá như vậy, nhưng không nói gì.

“Tốt.”. Blackthorne mệt mỏi ngồi xuống sàn và tựa vào một tấm ván.

“Chúng ta phải làm gì, hoa tiêu?”

“Đợi và nghỉ để cho người khỏe lên đã . Thủ lĩnh của họ sắp tới, rồi chúng ta sẽ giải quyết mọi sự.”.

Vinck nhìn ra ngoài vườn, nhìn người Samurai ngồi xổm bất động bên cổng.

“Hãy nhìn cái thằng chó đẻ kia xem. Nó ở đấy hàng tiếng đồng hồ, không hề nhúc nhích, không hề nói một lời nào, thậm chí cũng không hề nhích mũi nữa.”.

“Tuy nhiên, hắn ta cũng chẳng phiền nhiễu gì, Johann . Không một chút nào hết” ,Van Nekk nói.

“Đúng, cho đến giờ, chúng ta chỉ có ngủ, ăn rau cỏ.”

“Hoa tiêu, hắn có một người, chúng ta có mười”, Ginsel nói lặng lẽ.

“Tôi đã nghĩ đến điều đó. Nhưng chúng ta còn chưa đủ khỏe. Phải mất một tuần cho hết cái bệnh thiếu vitamin C này đi”, Blackthorne trả lời, lòng bồn chồn.

“Trên tàu, bọn chúng rất đông. Không có giáo hoặc súng, tôi không muốn đánh nhau. Ban đêm,các anh có bị gác không?”

“Có. Họ đổi gác ba , bốn lần.”

“Có ai thấy người gác ngủ không?” Van Nekk hỏi.

Họ lắc đầu.

“Chúng ta có thể lên thuyền đêm nay”, Jan Roper nói.” Với sự giúp đỡ của Chúa; chúng ta sẽ tiêu diệt bọn ngoại đạo và đoạt lấy tàu.”

“Nói thối không ngửi được. Hoa tiêu vừa nói với các cậu cậu không nghe à?” Vinck nhổ toẹt xuống đất một cách khó chịu.

“Đúng”, Pieterzoon, người bắn súng máy đồng ý.

“Thôi, đừng càu nhàu ông bạn già Vinck nữa.”

Đôi mắt Jan Roper càng hẹp lại.

“Hãy lo cho cái linh hồn của ngươi, Johann Vinck và của ngươi nữa, Pieterzoon. Ngày phán xét đã đến gần.” Anh ta bỏ đi và ngồi trên hàng hiên.

Van Nekk phá vỡ sự yên lặng :

“Mọi sự rồi sẽ ổn thôi. Rồi các cậu sẽ thấy.”.

“Roper nói đúng đấy. Sự tham lam đã đưa chúng ta đến đây.” Croocq nói, giọng cậu bé run lên.

“Chính là sự trừng phạt của Chúa, nên…”

“Thôi đi.”

Cậu bé giật người lại:

“Đúng thế, hoa tiêu. Xin lỗi, nhưng mà – ờ…” Maximilian Croocq là người trẻ nhất trong bọn, mới mười sáu tuổi và cậu đã xin đi trong cuộc hành trình này bởi vì cha cậu là một thuyền trưởng của một trong những chiếc tàu mà nhờ đó họ sẽ làm giàu.

Nhưng cậu đã thấy cha cậu chết thảm thương trong lần họ tàn phá tỉnh Santa Magdellana ở Argentine. Vụ cướp bóc thật lớn và cậu đã thấy hãm hiếp là thế nào. Chính cậu cũng đã thử và thấy ghét chính mình say trong mùi máu và giết chóc. Sau đó cậu đã thấy nhiều bạn bè bị chết, năm chiếc tàu chỉ còn lại một và bây giờ cậu cảm thấy mình là người già nhất trong bọn.

“Xin lỗi. Tôi xin lỗi.”

“Chúng ta ở trên bờ được bao lâu rồi, Baccus?” Blackthorne hỏi.

“Hôm nay là ngày thứ ba”, Van Nekk xích lại gần, ngồi chồm hỗm.

“Không nhớ rõ lúc chúng ta đến như thế nào, khi tỉnh dậy thì lũ rợ đã ở khắp tàu. Tuy nhiên, chúng lễ độ và tử tế. Cho chúng tôi thức ăn và nước nóng. Họ đưa người chết đi và thả neo. Tôi không nhớ nhiều nhưng tôi nghĩ họ kéo chúng tôi về bờ an toàn. Khi họ khiêng anh lên bờ, anh đang mê sảng. Chúng tôi muốn giữ anh lại nhưng họ không nghe. Một người trong bọn họ nói mấy tiếng Bồ. Ông ta hình như là người đứng đầu, tóc hoa râm. Ông ta không hiểu chữ “Thiếu tá hoa tiêu” nhưng hiểu chữ “Chỉ huy.” Rõ ràng ông ta muốn “Chỉ huy” của chúng tôi phải có một chỗ ở riêng khác, nói chúng tôi không phải lo lắng vì anh sẽ được trông nom cẩn thận. Cả chúng tôi nữa. Rồi ông ta dẫn đến đây, hầu hết là phải khiêng chúng tôi, nói chúng tôi phải ở lại trong này chờ chỉ huy tới. Chúng tôi không muốn để cho họ mang anh đi, nhưng không biết làm thế nào khác. Anh có hỏi trưởng làng về rượu vang và rượu mùi không, hoa tiêu?” Van Nekk liếm môi thèm khát rồi nói thêm:

“Bây giờ nghĩ lại, đúng là ông ta cũng có nhắc tới Daimyo. Cái gì sẽ xảy ra khi Daimyo tới.”.

“Có ai có dao hay khẩu súng gì không?”

“Không”, Van Nekk nói và lơ đãng gãi chấy trên đầu.

“Họ đem tất cả quần áo của chúng tôi đi giặt và giữ lại vũ khí. Lúc ấy, tôi không nghĩ gì về chuyện đó cả. Họ lấy cả chùm chìa khóa và súng của tôi. Tôi để tất cả một chùm. Phòng an toàn, hộp an toàn và hộp đạn.”

“Mọi thứ đều khóa chặt trên tàu rồi. Không cần phải lo ngại về điều đó.”

“Tôi không thích mình không có khóa. Nó làm tôi thấy rất bồn chồn. Mắt mình khỉ thật! Mình có thể dùng một chai rượu ngay lúc này. Thậm chí một chai bố rượu chát cũng được.”.

“Lạy Chúa! Tên sameri băm anh ta ra từng mảnh à?” Sonk nói bâng quơ.

“Vì lòng mến Chúa, hãy câm cái miệng lại, Samurai chứ không phải sameri. Chỉ mình cậu thôi cũng đủ làm cho người ta vãi cứt ra quần”, Ginsel nói.

“Tôi mong cái thằng thầy tu chó đẻ ấy đừng đến đây.”, Vinck nói.

“Chúng ta an toàn trong bàn tay Chúa.”. Van Nekk vẫn cố tỏ ra tin tưởng…” Khi Daimyo tới , chúng ta sẽ được thả. Chúng ta sẽ lấy lại tàu và súng. Rồi các anh xem. Chúng ta sẽ bán tất cả hàng hóa của chúng ta, sẽ trở về Holland giàu có và bình yên mà lại được đi vòng quanh thế giới nữa – những người Holland đầu tiên. Bọn Thiên Chúa sẽ tong đời, chỉ có vậy thôi.”.

“Không, không phải đâu.” Vinck nói.

“Bọn truyền đạo làm cho da thịt tôi nổi gai lên. Không thể đừng được. Cả khi nghĩ tới bọn đi chinh phục nữa. Anh có nghĩ rằng ở đây chúng nó đông không, hoa tiêu?”

“Tôi cũng không biết, nhưng tôi nghĩ là đông. Tôi ao ước mình có một đại đội ở đây.”

“Những thằng con hoang tội nghiệp”, Vinck nói.

“Ít nhất thì chúng ta vẫn còn sống…”

Maetsukker nói:

“Có thể họ đã về nhà. Có thể họ quay lại eo Magellan khi những cơn bão làm ta tơi tả…”

“Tôi hi vọng anh nói đúng”, Blackthorne nói.

“Nhưng tôi nghĩ họ đã hi sinh tất cả…”

Ginsel rùng mình.

“Ít nhất thì chúng ta vẫn còn sống.”

“Có bọn truyền đạo ở đây cùng lũ ngoại đạo này với tính tình thối hoắc của chúng thì đến cái rắm của một con đĩ tôi cũng không dám lấy để đảm bảo cho mạng chúng mình…”

“Đáng nguyền rủa thay ngày tớ rời Holland mà đi”, Pieterzoon nói.

“Đáng nguyền rủa cả cái lũ ngoại quốc. Nếu tớ không nghiện ngập bét nhè thì có phải tớ đã vùi đầu xuống lòng con mụ vợ tớ ở Amsterdam rồi không.”

“Muốn chửi cái gì thì chửi, Pieterzoon ạ, nhưng đừng chửi rượu. Đó là men của đời!”

“Có thể chúng ta đã ở trong cống ngập đến cằm rồi và nước đang chảy xiết”, Vinck đảo ngược mắt lên.

“Phải. Rất xiết…”

“Tôi không bao giờ nghĩ chúng ta lại tới đất liền”, Maetsukker nói. Anh ta giống như một con chồn sương, chỉ khác là không có răng.

“Không bao giờ. Càng không bao giờ là Nhật Bản. Đồ thầy tu thối tha. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ sống sót mà thoát khỏi nơi đây. Tôi ước giá như mình có súng. Cập bờ như thế này thật đốn mạt. Tôi không có ý định gì đâu, hoa tiêu ạ”

Anh ta nói nhanh khi Blackthorne nhìn anh ta.

“Thật là rủi, có thế thôi…”

Sau đó, những người đày tớ lại đem cho họ thức ăn. Bao giờ cũng giống nhau: rau – luộc hoặc sống – với một chút dấm, canh cá, cháo đặc bằng lúa mỳ hay lúa mạch. Tất cả đều gạt bỏ những miếng cá sống nho nhỏ và đòi thịt rượu. Nhưng không ai hiểu gì họ, và gần đến lúc mặt trời lặn, Blackthorne ra đi. Anh đã mệt vì những nỗi lo sợ sự căm thù và cái tục tằn của họ. Anh nối với họ sẽ lại đến sau khi mặt trời mọc.

Những cửa hàng nhộn nhịp trên những phố hẹp. Anh đã tìm thấy phố của anh, cổng của ngôi nhà anh. Những vết máu trên mặt đất đã được quét dọn và xác chết đã biến mất. Cứ y như nằm mơ thấy mọi sự, anh nghĩ. Cổng vườn mở trước khi anh kịp đặt tay vào.

Người làm vườn già, vẫn đóng khố, mặc dầu đã có khí lạnh trong gió, tươi cười cúi chào.

“Konbanwa” (tiếng Nhật-Chào buổi tối).

“Chào”, Blackthorne nói không suy nghĩ. Anh bước lên những bậc thềm, dừng lại và nhớ ra đôi ủng của mình. Anh cởi ra và đi chân đất qua hàng hiên vào trong phòng. Anh đi qua phòng, lại ra một hàng hiên nhưng không tìm thấy phòng của mình.

“Onna.”, anh cất tiếng.

Một người đàn bà già xuất hiện.” Hai” (Dạ) .

“Onna” đâu?”

Người đàn bà già cau mặt và chỉ vào mình:

“Onna!”

“Ồ, Chúa ơi”, Blackthorne nói bực tức.

“Phòng của tôi đâu? Onna đâu?” Anh kéo một cánh cửa gỗ ra. Bốn người Nhật đang ngồi ăn trên sàn, quanh một cái bàn thấp. Anh nhận ra người có mái tóc hoa râm, trưởng làng, người đi cùng với gã thầy tu. Tất cả đều cúi chào.

“Ồ, xin lỗi”, anh nói và kéo cánh cửa lại.

“Onna!” Anh gọi to .

Người đàn bà suy nghĩ một lát, rồi vẫy tay. Anh đi theo bà ta vào một hành lang khác. Bà kéo cánh cửa sang một bên. Nhờ cây thánh giá, anh nhận ra phòng mình. Những tấm chăn đã được gấp lại gọn gàng.

“Cám ơn”, anh nói, nhẹ người.

“Bây giờ.hãy đi tìm Onna!”

Bà già lạch bạch đi. Anh ngồi xuống. Đầu và khắp người đau nhức, ước có một cái ghế, tự hỏi không hiểu họ để ghế ở đâu. Làm sao lên tàu được? Làm thế nào kiếm được ít súng? Phải có cách. Những bước chân lệt xệt trở lại, lúc này là ba người phụ nữ, một bà già, một cô gái trẻ mặt tròn và một phụ nữ trung niên.

Người đàn bà già chỉ vào cô gái, cô này dường như hơi sợ:

“Onna…”

“Không…”

Blackthorne đứng lên bực dọc, chỉ một ngón tay vào người phụ nữ trung niên.

“Đây là Onna, Jesuma! Bà không biết tên bà nữa sao? Onna! Tôi đói. Cho tôi một ít thức ăn được không?.” Anh xoa vào bụng mình ra hiệu đói. Mấy người đàn bà nhìn nhau. Rồi người phụ nữ trung niên nhún vai, nói điều gì đó làm cho hai người kia cười, bà ta tiến lại giường, bắt đầu cởi quần áo. Hai người kia ngồi xổm, mắt giương tròn chờ đợi.

Blackthorne kinh hoàng:

“Bà làm gì vậy?”

“Ishimasho!” Bà ta nói và để chiếc thắt lưng to bản sang một bên, mở áo kimono. Đôi vú của bà phẳng bẹt, khô cằn và cái bụng to kềnh.

Rõ ràng bà ta sắp bước lên giường. Anh lắc đầu, bảo bà ta mặc áo vào, cầm lấy cánh tay bà ta. Tất cả bắt đầu nói líu ríu, vung chân vung tay, người đàn bà trở nên tức giận. Bà ta tụt váy, trần truồng, cố gắng bước trở lại giường.

Tiếng nói líu lo của họ dừng lại, tất cả cúi chào khi người trưởng làng lặng lẽ bước xuống hành lang.

“Nan đa? Nan đa?” Ông ta hỏi.

Người đàn bà giải thích mọi chuyện.

“Ông cần người đàn bà này?” ông ta hỏi hồ nghi bằng một thứ tiếng Portugal nặng chịch hầu như không thể hiểu nổi, chỉ tay vào người đàn bà trần truồng.

“Không. Không. Tất nhiên là không. Tôi chỉ cần Onna kiếm cho tôi một ít thức ăn…” Blackthorne chỉ tay vào bà ta một cách thiếu kiên nhẫn.

“Onna!”

“Onna có nghĩa là đàn bà…” Trưởng làng chỉ vào tất cả mấy người đàn bà.

“Onna – Onna – Onna. Ông muốn đàn bà?”

Blackthorne mệt mỏi lắc đầu.

“Không, không, cám ơn. Tôi lầm lẫn. Xin lỗi. Tên bà ấy là gì?”

“Gì cơ ạ?”

“Tên bà ấy là gì?”

“À! Tên Haku, Haku”, ông ta nói.

“Haku?”

“Hai, Haku…”

“Tôi cứ nghĩ onna là tên của bà.”

Người trưởng làng giải thích cho Haku, bà này không mấy hài lòng. Nhưng ông ta nói điều gì đó, tất cả nhìn Blackthorne, che miệng cười khúc khích và đi. Haku cũng trần truồng bỏ đi, chiếc áo kimono vắt trên cánh tay, hết sức đĩnh đạc, tư thế.

“Cảm ơn”, Blackthorne nói, tự giận sự ngu dốt của mình.

“Đây là nhà của tôi. Tên tôi là Mura…”

“Mura-san. Tên tôi là Blackthorne…”

“Cái gì cơ ạ?”

“Tôi tên là Blackthorne…”

“À, B…lack….thorne

“, Mura cố nhắc đi nhắc lại mấy lần nhưng không nói được. Cuối cùng, ông ta chịu và lại tiếp tục quan sát cái anh chàng khổng lồ trước mặt. Đây là anh chàng rợ đầu tiên ông ta thấy ngoài cha Sebastio. Nhưng mà, ông ta nghĩ, các thầy tu tóc đen, mặt đen, tầm vóc trung bình. Còn người đàn ông này: cao lớn, tóc vàng ánh, râu vàng ánh, mắt xanh, da có màu nhợt kỳ lạ ở chỗ quần áo che kín, màu đỏ ở chỗ để lộ ra. Lạ lùng! Mình lại cứ nghĩ tất cả đàn ông đều có tóc đen và mắt đen. Tất cả chúng tôi là như thế mà. Người Trung Quốc cũng thế, mà Trung Quốc chẳng phải là tất cả thế giới, trừ mảnh đất của rợ Portugal ở phương Nam? Có đáng ngạc nhiên không chứ? Mà tại sao cha Sebastio lại ghét người này như thế? Vì anh ta là người thờ Satan chăng? Mình không nghĩ như vậy bởi vì cha Sebastio có thể đuổi được quỷ dữ nếu ông ta muốn. I.i.ì… mình chưa bao giờ thấy cha Sebastio tốt bụng giận dữ đến như thế. Chưa bao giờ. Ngạc nhiên thật!

Phải chăng mắt xanh và tóc vàng là dấu hiệu của Satan? Mura ngước nhìn lên Blackthorne và nhớ đã hỏi anh khi còn ở trên tàu. Người chỉ huy này sau đó đã bất tỉnh, ông ta quyết định mang anh tới nhà riêng của mình vì anh là người chỉ huy nên cần có sự quan tâm đặc biệt. Họ đặt anh lên tấm chăn, cởi quần áo của anh ra không chỉ vì tò mò.

“Những bộ phận không thể chê trách được của ông ta rõ ràng là đáng chú ý nhỉ?” Mẹ của Mura, Saiko nói.

“Không hiểu lúc cứng lên, nó to bằng bao nhiêu?”

“To.” Mura trả lời và tất cả đều cười, mẹ, vợ, bạn bè, đầy tớ và người bác sĩ.

“Em nghĩ chắc phụ nữ của họ phải khoái ghê lắm”,cô vợ Niji của ông ta nói.

“Chỉ vớ vẩn thôi, con ạ “, bà mẹ nói.” Các cô gái làng chơi của chúng ta chắc sẽ lấy làm sung sướng tiếp đãi.” . Bà lắc đầu kinh ngạc.” Cả đời mẹ chưa bao giờ thấy một cái gì như của ông này. Thật là lạ nhỉ?”
(Còn tiếp)
(Kho tư liêu của Hội NVHP)

 

Bài viết khác