Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 21

Người dịch: Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng
Rồi anh lên boong, Rodrigues đang ngồi trong ghế, mắt anh đỏ lên vì mất ngủ, hai thủy thủ Nhật Bản ở đằng lái như trước.

“Để tớ quan sát cho cậu.”

“Cậu thấy trong người thế nào, Ingeles?.”

“Thoải mái. Để tớ quan sát cho cậu nhé?” Blackthorne thấy Rodrigues đang dò xét mình.

“Tớ sẽ đánh thức cậu nếu gió thay đổi – hay cái gì đó.”

“Cám ơn, Ingeles. Ừ, mình sẽ ngủ một chút. Cứ theo hướng này. Đến chỗ rẽ, hãy đi bốn độ nghiêng về phía Tây, đến chỗ rẽ tiếp sau, sáu độ nữa về phía Tây. Cậu sẽ chỉ hướng đi mới trên la bàn cho người lái. Wakari masu ka?”

“Hai” Blackthorne cười.

“Bốn điểm phía tây. Đi xuống đi, hoa tiêu, giường ngủ của cậu thoải mái lắm.”

Nhưng Vaxcô Rodrigues không đi xuống dưới. Anh ta chỉ kéo áo choàng đi biển lại chật hơn, ngồi sâu hơn vào trong ghế. Ngay trước khi đồng hồ cát chuyển, anh ta thức dậy chốc lát, kiểm tra sự thay đổi hướng đi,- vẫn không trệch – và lại ngủ tiếp. Một lần khi gió trở chiều, anh ta thức dậy và khi thấy không có gì nguy hiểm, anh ta lại ngủ.

Hiromatsu và Yabu ra boong buổi sáng.

Blackthorne để ý sự ngạc nhiên của họ khi thấy anh điều khiến tàu, còn Rodrigues thì đang ngủ. Họ không nói chuyện với anh, nhưng tiếp tục trò chuyện với nhau và sau đó, họ lại xuống dưới.

Gần giữa trưa. Rodrigues nhổm dậy ở ghế, nhìn về hướng Đông Bắc, ngửi gió, mọi giác quan của anh ta tập trung. Cả hai người nghiên cứu biển trời và những đám mây ùn tới.

“Cậu sẽ làm gì, Ingeles, nếu tàu này của cậu?” Rodrigues lại hỏi.

“Tớ sẽ chạy về ven biển, nếu tớ biết nó ở chỗ nào – điểm gần nhất. Cái con tàu này không chứa được nhiều nước và trời sắp bão rồi. Chỉ còn bốn tiếng nữa thôi.”

“Không thể là tai-fun.” Rodrigues lẩm bẩm.

“Cái gì?”

“Tai – fun. Chúng là gió lớn – những cơn bão tệ hại nhất chưa từng thấy. Nhưng hiện nay không phải mùa tai-fun” .

“Thế bao giờ?”

“Không phải bây giờ, kẻ thù ạ!” Rodrigues cười.” Không, không phải bây giờ. Nhưng có thể nó cũng rất đốn mạt, bởi thế tớ sẽ nghe theo lời khuyên cứt chó của cậu.”

Blackthorne chỉ hướng đi mới và người cầm lái quay tàu lại, Rodrigues đi lại lan can và hét lên với thuyền trưởng:

“Isogi, ông thuyền trưởng, Wakari masu ka.”

“Isogi, hai.”

“Cái gì thế? Nhanh lên à?”

Mắt Rodrigues nheo lại vui thú.” Biết một ít tiếng Nhật cũng chẳng hại gì, hả? Đúng rồi, Ingeles ạ,

“Isôgi” nghĩa là nhanh lên. Ở đây chỉ cần biết độ mười chữ rồi cậu có thể làm cho những thằng thủ dâm này ỉa ra quần nếu cậu muốn. Tất nhiên phải là những từ đúng và thích hợp. Bây giờ tớ xuống lấy một ít thức ăn.”

“Cậu cũng nấu ăn nữa à?”

“Ở đất Nhật, mỗi con người văn minh đều phải nấu ăn hoặc phải đích thân dạy một trong những con khỉ này nấu nếu không mình sẽ chết đói. Chúng chỉ ăn cá sống, rau sống ngâm với dấm ngọt. Nhưng cuộc sống ở đây có thể là cái chậu đi tè nếu cậu biết cách.”

“Chậu đi tè tốt hay xấu?”

“Hầu hết là rất tốt, nhưng thỉnh thoảng xấu khủng khiếp. Tất cả là tùy cậu cảm thấy như thế nào, nhưng cậu hỏi nhiều quá đấy.”

Rodrigues đi xuống. Anh ta chặn cửa ca bin và cẩn thận kiểm tra lại ổ khoá ngăn kéo. Sợi tóc anh khéo léo mắc vào vẫn còn đó. Và một sợi tóc, không ai nhìn thấy được ngoài anh ta để trên bìa cuốn hải trình cũng không ai động chạm tới.

Mình không thể quá cẩn thận ở cái thế giới này, Rodrigues suy nghĩ. Anh biết mình là hoa tiêu của Nao del Trats, chiếc Black Ship lớn từ Macao năm nay thì cũng có hại gì? Có lẽ. Bởi vì lúc đó mình sẽ phải giải thích đó là con thủy quái, một trong những con tàu lớn nhất và giàu nhất thế giới, hơn một nghìn sáu trăm tấn.

Mình có thể bị quyến rũ kể cho hắn nghe về hàng của nó, về công việc buôn bán, về Macao và tất cả những chuyện khác, rất đỗi riêng tư và rất đỗi bí mật. Nhưng chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh, chúng ta chống lại Anh và Holland.

Anh ta mở khóa có tra dầu cẩn thận và lấy cuốn hải trình riêng để kiểm tra phương hướng của bến tàu gần nhất, mắt anh ta nhìn thấy cái gói niêm phog của thầy tu, cha Sebastio đã đưa cho anh ngay trước khi họ rời Anjiro.Không biết nó có chứa những hải trình của anh chàng người Anh hay không? Anh ta tự hỏi.

Anh ta ước lượng cái gói và nhìn dấu niêm phong của cha cố, hết sức muốn bật dấu để xem một mình. Blackthorne đã nói với anh ta là đội tàu Holland đã tới bằng đường eo Magellan, không khác được. Bọn Ingeles hỏi rất nhiều, không tình nguyện gì hết. Rodrigues nghĩ vậy. Hắn ta láu cá, khôn ngoan và nguy hiểm.

Có phải đó là hải trình của hắn ta hay không? Nếu phải thì chúng có ích gì đối với các Cha bề trên?

Anh ta rùng mình, nghĩ tới những người phe Jesuit theo dòng thánh Francis ,dòng Đôminích và tất cả các cha cố, các thầy tu, hầu hết họ đều xấu, nhưng. vẫn là cha cố. Nhà thờ thì phải có cha cố, nếu không cố họ thì ai là người môi giới cho chúng ta, chúng ta sẽ là những con cừu lạc một thế giới của quỷ Satan. Ôi, Đức Mẹ, hãy che chở cho con khỏi mọi điều xấu và những thầy tu độc ác.

Khi Rodrigues đang ở trong cabin của mình còn Blackthorne ở bến cảng Anjiro thì cửa mở và cha Sebastio đã vào mà không được mời. Họ đã ăn, uống và thức ăn thừa của họ để trong những chiếc bát gỗ.” Anh đã ăn bánh cùng với kẻ dị giáo?” gã thầy tu hỏi.

“Ăn với họ rất nguy hiểm. Họ nhiễm trùng. Hắn có nói với anh hắn là một tên cướp biển không?”

“Chỉ những người theo Thiên Chúa mới hào hiệp với kẻ thù của mình, cha ạ. Khi con ở trong tay họ, họ đối xử với con rất tốt. Con chỉ trả lại lòng từ thiện của họ thôi.” Anh ta đã quỳ và hôn thánh giá của gã thầy tu. Rồi anh ta đứng lên, mời rượu và nói.

“Con có thể giúp được gì cha?”

“Cha muốn đi Osaka. Cùng với con tàu.”

“Con sẽ hỏi họ ngay.” Anh ta đã đi hỏi thuyền trưởng và lời yêu cầu đó đã được chuyển dần lên tới Toda Hiromatsu , ông này trả lời là Toranaga, không nói gì về việc đưa một thầy tu ngoại quốc từ Anjiro về, vì vậy lấy làm tiếc không thể đem theo được.

Cha Sebastio muốn nói chuyện riêng, vì vậy anh ta bảo chàng người Anh lên boong và khi còn lại hai người trong cabin, ông thầy tu đã đem gói gắn xi ra.

“Cha muốn con đưa cái này cho Đức Cha.”

“Con không biết Đức Giáo chủ có còn ở Osaka khi con tới đó hay không?” Rodrigues không thích là người mang bí mật của thầy tu.” Con có thể quay lại Nagasaki. Hạm trưởng của con có thể để lại lệnh cho con.”

“Vậy thì trao cho cha Alvito cũng được. Con chỉ được trao tận tay cha ấy thôi!”

“Được lắm”, anh ta đã nói.

“Con xưng tội lần cuối cùng bao giờ, con ta?”

“Thưa cha, chủ nhật.”

“Con có muốn ta rửa tội cho con bây giờ không?”

“Có, cám ơn cha.” Anh ta lấy làm biết ơn ông cha cố đã hỏi như vậy vì không bao giờ có thể biết được cuộc đời mình có phụ thuộc vào biển hay không, và, sau đó, anh ta đã cảm thấy dễ chịu hơn, như bao giờ cũng thế.

Giờ đây trong cabin, Rodrigues để lại cái bọc đó vào chỗ cũ, hết sức bị cám dỗ. Tại sao lại cha Alvito? Cha Matin Alvito là người thương lượng buôn bán chính và là người phiên dịch riêng của Taiko trong nhiều năm và vì thế là người thân của hầu hết những Daimyo có thế lực. Cha Alvito xuôi ngược giữa Nagasaki và Osaka, là một trong số ít người, và là người Châu Âu duy nhất, có thể tiếp cận với Taiko, một người cực kỳ thông minh, nói tiếng Nhật hoàn hảo, hiểu họ và lối sống của họ hơn bất cứ một người ở châu Á nào.

Bây giờ ông là người trung gian có thế lực nhất của Portugal đối với Hội đồng Nhiếp chính, đối với Ishido và Toranaga nói riêng.

Đi tin một tay cha cố đưa một người của bọn họ vào một vị trí sinh tử như thế này, Rodrigues nghĩ một cách kinh hoàng. Chắc chắn nếu không có Hội Jesuit thì dòng người dị giáo không bao giờ ngừng lại, cả Portugal và Spain sẽ trở thành Tin Lành hết, và như vậy chúng ta mất linh hồn bất tử của chúng ta mãi mãi. Lạy Đức Mẹ!

Tại sao ngươi cứ luôn luôn nghĩ đến các thầy tu như vậy? Rodrigues tự hỏi mình. Ngươi biết điều đó làm ngươi lo âu! Ừ. Dù thế đi chăng nữa, tại sao lại cha Alvito? Nếu như cái gói đó có hải trình, nó có ý nghĩa gì đối với một Daimyo Thiên Chúa giáo, hoặc Ishido, hoặc Toranaga, hoặc cho chính Đức Giáo chủ, Cha bề trên? Hay cho hạm trưởng của ta? Hay là cuốn hải trình ấy sẽ được gửi về La Mã cho những người Spain? Tại sao lại cha Alvito? Cha Sebastio có thể dễ dàng nói đưa nó cho một cha cố nào đó?

Và tại sao Toranaga lại cần đến gã Ingeles?

Trong lòng ta, ta biết ta nên giết Blackthorne. Hắn là kẻ thù, là người dị giáo. Nhưng còn có một điều gì khác. Ta có cảm giác là cái gã Ingeles này là một mối nguy hiểm cho tất cả chúng ta. Tại sao ta lại nghĩ như thế? Hắn là một tên hoa tiêu – một hoa tiêu lớn. Khỏe. Thông minh. Một người tốt. Không có gì đáng lo ngại. Sao ta lại sợ? Hắn có độc hại không? Ta thích hắn lắm nhưng cảm thấy nên giết hắn, càng sớm càng tốt. Không phải vì tức giận. Chỉ để bảo vệ mình thôi. Tại sao?

Ta sợ hắn.

Làm gì? Để nó cho bàn tay của Chúa? Cơn bão đang tới và nó sẽ là một cơn bão tệ hại.

Chúa hãy nguyền rủa tôi và sự thiếu khôn ngoan của tôi! Tại sao tôi lại không biết làm thế nào một cách dễ dàng?

*

Cơn bão tới trước lúc mặt trời lặn trong khi họ còn ở ngoài khơi, cách đất liền mười dặm. Vịnh mà họ lao tới còn ở tít phía trước, không có chỗ cạn hoặc đá ngầm từ đó đến nơi an toàn, nhưng mười dặm là mười dặm và nước biển đang dâng nhanh, dồn lên bởi gió đẫm nước mưa.

Cơn gió mạnh thổi từ Đông Bắc vào mạn phải tàu lắc nó điên đảo khi gió giật từ Đông hoặc từ Bắc, không theo một chiều hướng nhất định, biển sầm lại. Hướng đi của họ là Tây – Bắc vì thế mạn thuyền ở phía sóng cồn bị lắc rất mạnh, lúc thì ở giữa hai ngọn sóng, lúc thì lảo đảo trên đầu sóng. Thuyền galleon được đóng để đi nhanh khi mặt biển bình yên, và mặc dù những người chèo đều giỏi, có kỷ luật nhưng rất khó giữ được mái chèo trên biển động.

“Phải gác mái chèo vào tàu và chạy theo chiều gió,

“Blackthorne quát.

“Có thể, nhưng khoan đã! Hột dái của cậu để đâu, Ingeles?”

“Ở chỗ nó nên ở, lạy Chúa, và ở chỗ tớ muốn nó ở.”

Cả hai người đều hiểu, nếu họ quay vào gió, họ sẽ không bao giờ vượt được sóng và nước thủy triều cùng gió sẽ đưa họ ra xa nơi trú ẩn, cuốn ra biển. Nếu chạy trước gió, thủy triều và gió cũng sẽ cuốn họ ra biển càng nhanh hơn nữa. Về phía Nam là Biển lớn. Cách đây nghìn dặm, không có mảnh đất liền nào ở phương Nam, và nếu không may, thì còn cách một ngàn dặm biển nữa. Họ đeo dây an toàn buộc vào la bàn, sung sướng vì có chúng khi boong tàu tối đen như mực và chao đảo. Họ cưỡi lên, bám chặt mép tàu.

Hiện nước chưa tràn vào boong. Con tàu chìm xuống nước thấp hơn mức cho phép. Rodrigues đã chuẩn bị cẩn thận trong những giờ chờ đợi. Mọi thứ đều được lót xuống, mọi người được thông báo. Hiromatsu và Yabu nói sẽ ở dưới một lát rồi lên boong. Rodrigues nhún vai nói với họ như vậy rất nguy hiểm. Anh chắc họ không hiểu gì cả.

“Họ sẽ làm gì?” Blackthorne hỏi.

“Ai mà biết được, Ingeles? Nhưng họ sẽ không khóc vì khiếp sợ đâu, cậu có thể tin chắc điều đó.”

Ở khoang chính, các thủy thủ làm việc rất căng thẳng. Thường hai người ở mỗi mái chèo, nhưng Rodrigues đã lệnh cho ba người để thêm sức mạnh, an toàn và nhanh chóng. Những người khác đợi ở dưới để thay phiên những người đang chèo. Trên khoang trước, người cầm đầu đội chèo có kinh nghiệm, nhịp của anh ta chậm, hợp với nhịp sóng. Chiếc galleon vẫn tiến, dù mỗi phút sóng một cuộn lên và nhịp chèo chậm hơn. Rồi những cơn gió mạnh mất phương hướng làm người đội trưởng đội chèo buột tay.

“Coi chừng phía trước!” Blackthorne và Rodrigues hầu như hét lên cùng một lúc. Chiếc galleon chồm lên chếnh choáng như say, hai mươi mái chèo bơi trong không khí chứ không phải trong biển, trên boong hỗn loạn. Đợt sóng lớn cuồn cuộn đầu tiên đập vào mép tàu đã tràn nước.

Họ loạng choạng.

“Tiến lên!” Rodrigues ra lệnh.” Cho nửa mái chèo lên mỗi bên, nhanh lên, nhanh lên!”

Blackthorne biết nếu không có dây an toàn, anh có thể bị hất ra khỏi tàu. Nhưng phải gác hết mái chèo lại nếu không thì hỏng hết.

Anh tháo dây, cố gắng vượt lên boong tàu trơn tuột, xuống cầu tàu, tới khoang chính. Đột nhiên con tàu trẹo đi anh bị văng ra bên, chân bị hất lên vì mấy người chèo cũng đã tháo dây an toàn để cố gắng trở lại với mái chèo. Mép tàu đã chìm dưới nước và một người bị hất ra khỏi tàu. Blackthorne cũng cảm thấy mình bị ngã.

Một tay bám lấy mép tàu, gân căng ra nhưng anh cố nắm chặt, tay kia với lấy lan can, sặc sụa, anh co người trở lại. Đôi chân tìm được boong tàu, anh lắc người, cảm ơn Chúa, và nghĩ, bảy vía lên mây. Alban Carađốc luôn luôn nói một hoa tiêu giỏi phải như một con mèo, nhưng một hoa tiêu ít nhất phải có mười cuộc sống trong khi một con mèo hài lòng với chín.

Một người nào đó ở dưới chân anh, anh lôi anh ta ra khỏi móng vuốt của biển, ôm giữ lấy cho đến khi anh ta an toàn, rồi giúp anh ta về chỗ của mình. Anh nhìn trở lại sàn lái để chửi Rodrigues vì đã để lái tuột đi. Rodrigues vẫy, chỉ tay và hét, tiếng hét bị gió cuốn phăng đi. Blackthorne thấy hướng đi của họ đã thay đổi. Lúc này hầu như họ ở trong gió và anh biết sự chệch hướng này đã được tính toán. Khôn ngoan, anh nghĩ. Như vậy sẽ có một thời gian nghỉ ngơi để tổ chức, nhưng cái thằng con hoang này lý ra có thể báo cho mình biết trước chứ. Mình không thích phí phạm những cuộc đời vô ích.

Anh vẫy tay và lại lao vào công việc sắp xếp những người chèo. Mọi tay chèo đã được lệnh ngừng, trừ hai mái phía tiền, để giữ cân bằng. Với sự ra hiệu và tiếng hét rống, Blackthorne đã tăng gấp đôi nhân lực ở những mái chèo phải làm việc và lại đi về cuối tàu. Những con người này là những con người khắc kỷ và mặc dù một số rất ốm, họ vẫn ở lại để đợi lệnh.

Vịnh đã gần hơn nhưng dường như vẫn còn xa đến ngàn hải lý. Về phía Đông Bắc, bầu trời đen kịt. Mưa quất vào người họ và cấp gió tăng lên. Giá ở tàu Erasmus, Blackthorne đã chẳng lo ngại gì nhiều. Họ có thể cập bến dễ dàng, và rồi lại quay lại hướng đi thật và cập bến của họ. Tàu của anh được đóng và trang bị cho gió bão. Cái con tàu galleon này thì không.

“Cậu nghĩ sao, Ingeles?”

“Cậu sẽ làm theo ý mình, dù tớ nghĩ gì chăng nữa,

“Anh hét lên át tiếng gió.

“Nhưng tàu này không chịu được nhiều nước và chúng ta sẽ chìm như một hòn đá. Lần sau khi tớ tiến lên phía trước, thì báo cho tớ biết cậu đưa tàu vào trong gió nhé. Tốt hơn, đưa tàu vào hướng gió trong khi tớ còn dây an toàn, rồi cả hai chúng ta đều tới cảng.”

“Đó là bàn tay Chúa, Ingeles. Một con sóng đẩy vòng đít nó mà.”

“Suýt nữa thì hất tớ xuống biển.”

“Tớ thấy.”

Blackthorne ước lượng quãng cách.

“Nếu đi theo hướng này, chúng ta sẽ không bao giờ tới vịnh được. Chúng ta sẽ bị lạc quá mũi biển chừng một dặm hoặc hơn thế.”

“Tớ sẽ cứ ở trong gió. Rồi đến khi thời gian đủ chín, chúng ta sẽ lao vào bờ. Cậu bơi được không?”

“Được.”

“Tốt. Tớ không bao giờ học. Nguy hiểm quá. Thà chìm nhanh còn hơn chậm, đúng không!” Rodrigues bất giác rùng mình. Đức Mẹ Đồng Trinh, hãy che chở cho con khỏi nấm mồ nước! Cái con tàu phò này phải về tới bến đêm nay. Phải. Mũi tôi đã mách bảo, nếu không chúng ta chạy quay lại, nhưng chúng ta sẽ lầm lẫn. Tàu chất nặng quá.”

“Làm nhẹ bớt đi. Quẳng hàng hóa xuống biển.”

“Vua Cóc Cụ sẽ chẳng bao giờ đồng ý. Ông ta phải trở về với nó hoặc không trở về nữa.”

“Hỏi ông ta xem.”

“Mẹ ơi! Cậu điếc đấy à? Tớ đã bảo cậu rồi. Tớ biết ông ta không đồng ý!” Rodrigues tiến gần hơn tới chỗ người lái làm cho họ hiểu phải dứt khoát tiến vào trong gió.

“Để ý bọn chúng, Ingeles! Cậu điều khiển tàu.” Anh ta cởi bỏ dây an toàn và đi xuống cầu tàu, bước chân vững chãi. Các thủy thủ nhìn anh ta chăm chú khi anh ta đi tới chỗ thuyền trưởng ở khoang đầu giải thích bằng điệu bộ và bằng lời về kế hoạch đang có trong đầu. Hiromatsu và Yabu lên boong. Thuyền trưởng giải thích kế hoạch cho họ nghe. Cả hai đều xanh tái, nhưng không biểu lộ cảm giác và không ai nôn. Họ nhìn về hướng bờ qua màn mưa, nhún vai và lại đi xuống.

Blackthorne nhìn vào bến vịnh. Anh biết kế hoạch đó nguy hiểm. Họ sẽ phải đợi cho đến khi đi qua mũi biển gần, sau đó tách ra khỏi gió, lại quay lại phía Tây Bắc và chèo thục mạng. Buồm không ăn thua gì. Chỉ dùng tới sức của họ thôi. Phía Nam của vịnh có đá nhọn và đá ngầm. Nếu họ tính nhầm thời gian, họ sẽ lại bị cuốn ra biển và đắm!

“Ingeles, tiến lên!” Anh chàng Portugal vẫy gọi. Anh đi lên phía trước.

“Buồm thế nào?” Rodrigues hét.

“Không. Chỉ vướng thêm chứ chẳng có lợi gì.”

“Thế thì cậu ở đấy. Nếu thuyền trường không điều khiển được, hoặc nếu mất anh ta, cậu thay thế. Được không?”

“Tớ chưa điều khiển một chiếc tàu như thế này bao giờ – tớ không nắm được mái chèo. Nhưng sẽ cố gắng.”

Rodrigues nhìn về phía bờ. Mũi biển hiện ra rồi lại mất đi trong cơn mưa rào rạt. Tàu sắp phải lao vào. Biển nhô cao và những con sóng bạc đầu chạy trốn những luồng sóng lớn. Cuộc chạy đua giữa những mũi biển trông rất kinh khủng. Cái này sẽ hoảng hồn đây, anh ta nghĩ. Rồi anh ta nhổ toẹt xuống và quyết định.

“Đi xuống cuối, Ingeles. Cầm lái. Khi tớ ra hiệu, hãy tiến lên về Tây Bắc – Tây tới điểm đó. Cậu nhìn thấy không?”

“Đừng do dự, hãy theo hướng đó. Nhìn tớ cẩn thận. Dấu hiệu này là phía trái tàu, dấu hiệu này là phía phải, dấu hiệu này là thẳng!”

“Được.”

“Lạy Đức Mẹ, cậu có đợi lệnh của tớ, cậu có tuân lệnh của tớ không?”

“Cậu có muốn tớ cầm lái hay không?”

Rodrigues biết bị mắc bẫy.

“Tớ phải tin cậu, Ingeles ạ, và tớ ghét phải tin cậu. Cậu xuống đi”, anh ta nói. Anh ta thấy Blackthorne đọc được cái ý nghĩ trong mắt anh ta và bỏ đi. Rồi anh ta thay đổi ý kiến gọi với theo.

“Này đồ cướp biển kiêu ngạo! Cút đi!”

Blackthorne quay lại một cách biết ơn.” Cậu cũng thế, Spain!”

“Tè vào tất cả lũ Spain và Portugal vạn tuế!”
(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác