Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 30

Người dịch : Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng

“Thế nếu tôi đi ngược lại lời khuyên của ông? Nếu tôi điều hành Hội đồng Nhiếp chính, ngay cả Ishido nữa và để Yaemon nắm quyền thì sao?”

“Tất cả những gì ngài làm là khôn ngoan. Nhưng các quan Nhiếp chính đều sẽ mong cho ngài chết. Đó là sự thật. Tôi chủ trương chiến tranh tức khắc. Tức khắc. Trước khi họ cô lập ngài. Hoặc chắc chắn là mưu sát ngài.”

Toraanaga nghĩ về những kẻ thù của mình. Họ hùng mạnh và đông. Ông phải mất cả ba tuần mới trở lại được Yedo bằng con đường chính theo vùng bờ biển giữa Yedo và Osaka. Đi bằng tàu thủy nguy hiểm hơn và có lẽ mất nhiều thời gian hơn, trừ phi đi bằng tàu

“Galleon” có thể chống lại được cả gió và thủy triều.

Toranaga thầm xem xét lại toàn bộ kế hoạch ông đã quyết định. Ông không thấy một khiếm khuyết nào hết.

“Hôm qua tôi bí mật nghe được tin mẹ của Ishido sẽ đến thăm cháu nội của bà ta ở Nagoya”, ông nói và Hiromatsu lập tức chú ý.

“Nagoya là một thành phố cực lớn và vẫn chưa ngả về phía nào, nên bà được tu viện trưởng mời thăm đền Johji. Ngắm hoa anh đào”

“Ngay tức khắc”, Hiromatsu nói.

“Dùng chim bồ câu.” Đền Johji nổi tiếng vì ba thứ: đại lộ cây anh đào, võ nghệ của các thiền sư và lòng trung thành rõ ràng với Toranaga, người nhiều năm trước đây đã góp tiền để xây dựng ngôi đền và vẫn duy trì tiền phí tổn sửa sang cho đến ngày nay.

“Hoa anh đào đã quá độ rực rỡ nhất nhưng ngày mai bà lão sẽ tới. Tôi chắc bà lão đáng kính sẽ muốn ở lại vài ngày, không khí rất êm ả. Cháu nội của bà cũng tới, phải không?”

“Không – Chỉ có bà lão thôi. Như vậy sẽ làm cho

“Lời mời” của Tu viện trưởng quá rõ ràng. Sau đó: gửi một bản mật mã cho con trai của tôi, Sudara :

“Cha rời Osaka ngay khi Hội đồng kết thúc phiên họp này – bốn ngày nữa.” Cho một tên quân đưa đi và xác định bằng chim bồ câu ngày mai.”

Hiromatsu rõ ràng không tán thành.

“Vậy tôi có thể ra lệnh cho mười nghìn quân ngay lập tức không? Tới Osaka?”

“Không. Quân ở đây là đủ. Cảm ơn ông bạn già. Bây giờ tôi đi ngủ.”

Hiromatsu đứng lên, vươn vai. Rồi khi đến cửa:

“Vậy tôi có thể cho Fujiko, cháu nội tôi được phép tự tử chứ?”

“Không.”

“Nhưng thưa Chúa công, karma của Fujiko và ngài cũng biết các bà mẹ cảm thấy thế nào đối với con trai của mình. Đứa bé đó là đứa thứ nhất của nó.”

“Fujiko có thể có nhiều con. Năm nay nó bao nhiêu tuổi? Mười tám – sang tuổi mười chín? Tôi sẽ tìm cho nó một người chồng khác.”

Hiromatsu lắc đầu.” Nó sẽ không nhận ai. Tôi biết nó quá rõ. Nguyện vọng thầm kín nhất của nó là chấm dứt cuộc đời. Xin ngài?”

“Ông hãy nói với cháu của ông, tôi không tán thành một cái chết vô ích. Phép không được chấp nhận.”

Cuối cùng Hiromatsu cúi chào và chuẩn bị lui.

“Tên rợ sẽ ở trong nhà tù đó bao nhiêu lâu?”

Hiromatsu không quay lại.

“Tùy xem hắn ta là một chiến binh độc ác như thế nào.”

“Cám ơn. Chúc ông ngủ ngon, Hiromatsu.” Khi đã chắc chỉ còn lại một mình, ông nói lặng lẽ :

“Kiri-san?”

Cửa trong mở, bà bước vào và quỳ xuống.

“Gửi ngay lời nhắn cho Sudara :

“Mọi việc tốt đẹp.” Gửi bằng chim bồ câu. Thả ba con cùng một lúc vào bình minh. Đến trưa lại làm như vậy.”

“Thưa Chúa công, vâng.” Bà lui.

Thể nào cũng có một con tới nơi, ông nghĩ. Ít nhất bốn con sẽ làm mồi cho bọn gián điệp, hoặc chim ưng. Trừ phi Ishido khám phá được mật mã của chúng ta, lời nhắn tin ấy đối với ông ta sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Mật mã rất riêng. Chỉ bốn người biết được. Con trai cả của ông, Noboru. Con trai thứ hai và là người thừa kế, Sudara ; Kiri; và bản thân ông. Lời nhắn tin ấy giải ra nghĩa là.

“Không để ý tới tất cả những lời nhắn tin khác. Hoạt động theo Kế hoạch Năm.” Theo sự sắp xếp từ trước, Kế hoạch Năm là lệnh tập hợp tất cả bộ tộc Yoshi và những cố vấn đáng tin cậy nhất tại thủ đô Yedo, động viên cho chiến tranh. Từ mật mã để chỉ chiến tranh là

“Bầu trời đỏ thắm.” Ông bị ám sát hay bắt giữ, Bầu trời đỏ thắm cũng không thay đổi cứ phát động chiến tranh – tấn công tức thời vũ bão vào Kyoto, cuộc tấn công sẽ do Sudara , con thừa kế của ông chỉ huy cùng với tất cả các đạo quân, chiếm lấy thành phố này và Thiên Hoàng bù nhìn. Nó sẽ được kết hợp với những cuộc nổi dậy đã được bí mật và tỉ mỉ vạch kế hoạch, năm mươi tỉnh thành đã được chuẩn bị trong nhiều năm cho sự kiện này. Mọi mục tiêu, mọi vị trí cửa ngõ, thành phố, lâu đài, cầu đã được chọn lựa từ lâu. Có đủ vũ khí, người và quyết tâm để tiến hành đến cùng.

Đó là một kế hoạch tốt, Toranaga nghĩ. Nhưng nó sẽ thất bại nếu ta không lãnh đạo. Sudara sẽ thất bại. Không phải vì thiếu thử thách, thiếu can đảm hay thông minh, mà vì sự phản phúc. Đơn giản chỉ và vì Sudara còn chưa đủ tri thức hay kinh nghiệm và không đem đủ những Daimyo không dính líu theo. Và cũng bởi vì Lâu đài Osaka và Công tử thừa kế, Yaemon, đứng bất khả xâm phạm giữa đường, tụ điểm của mọi sự hằn thù và ghen ghét mà ta đã có trong năm mươi hai năm chiến tranh.

Chiến tranh của Toranaga đã bắt đầu từ khi ông lên sáu đã làm con tin trong trại thù rồi được thả, rồi lại bị những kẻ thù khác bắt, lại được chuộc ra, lại bị bắt vào cho đến năm ông mười hai tuổi. Năm mười hai, ông đã chỉ huy đội tuần tra của mình và thắng trận đầu tiên.

Rất nhiều trận đánh. Không thua trận nào. Nhưng có rất nhiều kẻ thù. Và bây giờ họ đang tụ họp nhau lại.

Sudara sẽ thất bại. Ngươi là người duy nhất có thể thắng được với kế hoạch

“Bầu trời đỏ thắm”, có lẽ. Taiko có thể làm được điều đó, rõ ràng. Nhưng tốt nhất vẫn là không phải áp dụng Bầu trời đỏ thắm.

 

 

CHƯƠNG 14

~ Đối với Blackthorne, đó là một buổi bình minh địa ngục. Anh bị nhốt trong cuộc đấu tranh sống còn với một người tù. Phần thưởng là một chén cháo. Cả hai người đều trần truồng. Khi người tù bị đưa vào cái dãy xà lim bằng gỗ rộng thênh thang này, anh ta bị lột hết quần áo. Một người có quần áo chiếm chỗ hơn và quần áo có thể che vũ khí.

Căn phòng ngột ngạt ẩm mốc dài năm mươi bước, rộng mười bước, chật ních những người Nhật trần truồng, đẫm mồ hôi. Không một ánh sáng nào lọt qua những mảnh ván, những chiếc rầm làm thành tường và trần thấp lè tè.

Blackthorne hầu như không thể đứng thẳng người. Da anh thâm tím và rách xước vì móng tay của người đàn ông kia và vì những vết gỗ của tường. Cuối cùng anh lao cả đầu mặt người kia, nắm lấy cổ họng anh ta và đập đầu người đàn ông ấy vào rầm nhà cho đến khi anh ta bất tỉnh. Rồi anh quẳng cái thân thể ấy sang một bên, lao qua đám người nhễ nhại mồ hôi tới chỗ anh tự nhận ở một góc, anh lại chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác.

Rạng sáng là đến giờ cho ăn, những người gác bắt đầu chuyển những chén cháo và nước qua khe hở nhỏ. Đây là thức ăn và nước uống đầu tiên được phát cho họ từ lúc anh bị tống vào trong này, lúc chạng vạng tối ngày hôm trước. Hàng ngày chờ thức ăn và nước uống, ắng lặng một cách khác thường. Không có kỷ luật, không ai ăn. Thế rồi cái anh chàng như đười ươi này – râu ria, bẩn thỉu, chấy rận – chặt anh một nhát vào vùng thận và lấy khẩu phần của anh trong khi những người khác đợi xem chuyện sẽ ra thế nào. Nhưng Blackthorne, đã từng tham dự quá nhiều những cuộc ẩu đả ngoài biển khơi, không thể bị hạ bằng một đòn phản phúc ấy, vì vậy anh giả vờ loạng choạng rồi phóng ra một cú đá hiểm ác và trận hỗn chiến xảy ra. Giờ đây, trong một góc, Blackthorne kinh ngạc nhận thấy một trong những con người này đưa cho anh phần cháo và nước mà anh kể như đã mất. Anh cầm lấy và cám ơn người đó.

Góc phòng là những chỗ tốt nhất. Một thanh gỗ chạy dọc nền nhà bằng đất, chia căn phòng thành hai phần. Mỗi phần có ba hàng người, hai hàng đối diện nhau, lưng họ tựa vào tường hoặc cột nhà, một hàng nữa ở giữa hai hàng này. Chỉ có người yếu và người ốm ở hàng giữa. Khi những người khỏe hơn ở những hàng ngoài muốn duỗi chân, họ phải duỗi qua những người ở hàng giữa.

Blackthorne nhìn thấy có hai cái thây người trương phềnh, ruồi bu đầy ở hàng giữa. Nhưng những người yếu và những người đang hấp hối hình như phớt lờ đi.

Anh không thể nhìn xa hơn cái bóng tối hầm hập. Mặt trời đang nung những tấm gỗ. Có những thùng vệ sinh nhưng mùi hôi thối thật kinh khủng bởi vì những người ốm làm nhơ bẩn người họ và những chỗ họ đang phủ phục xuống.

Thỉnh thoảng những người gác mở cánh cửa sắt và gọi tên người nào đó. Họ chào bạn bè của họ và ra đi, nhưng chẳng bao lâu những người khác được đưa vào và khoảng trống lại được làm đầy. Tất cả những người tù hình như đều chấp nhận số phận và cố gắng hết sức để sống không ích kỷ trong hòa bình với những người hàng xóm sát nách của họ.

Một người dựa tường bắt đầu nôn mửa. Anh ta lập tức bị đẩy vào hàng giữa và ngã gục, gần như tắc thở dưới sức nặng của những cẳng chân.

Blackthorne phải nhắm mắt lại và cố gắng để khắc phục nỗi kinh hoàng và cảm giác ngột ngạt. Thằng chó đẻ Toranaga! Tao cầu mong có dịp đưa mày vào đây một hôm.

Những thằng lính chó đẻ! Đêm qua, khi chúng ra lệnh cho anh cởi hết quần áo, anh đã đánh lại chúng với nỗi tuyệt vọng cay đắng, biết mình sẽ bại, chiến đấu chỉ vì anh không chịu đầu hàng một cách thụ động. Rồi anh bị cưỡng bức qua cánh cửa.

Có bốn dãy nhà tù như thế này. Chúng ở rìa thành phố trong một khoảng đất rào kín giữa những tường đá cao. Bên ngoài những bức tường là một vùng đất chăng dây bên sông. Năm cọc chữ thập được dựng lên ở đó. Những người đàn ông trần truồng và một người phụ nữ, hai cổ tay và cổ chân bị trói chéo, và trong khi Blackthorne đi ở phía ngoài theo những tên gác Samurai, anh trông thấy những đao phủ với những ngọn giáo dài ném giáo vào ngực các nạn nhân trong khi đám đông cười giễu. Thế rồi năm tội nhân đó bị cắt dây xuống, năm người khác bị buộc lên, bọn Samurai tiến lại dùng kiếm dài băm nhỏ những thi thể đó, vừa băm vừa cười.

Lũ con hoang giòi bọ thối tha!

Không ai chú ý cái anh chàng bị Blackthorne đánh lúc trước hồi tỉnh. Gã nằm ở hàng giữa. Máu đông lại ở một bên má, mũi bị vỡ toác. Đột nhiên gã nhảy chồm vào Blackthorne, bất chấp mọi người xung quanh.

Phút cuối cùng Blackthorne mới nhìn thấy gã. Anh nghiêng người tránh đòn, quật gã nằm gục thành một đống. Những người tù bị gã đè phải, chửi gã, và một người to lớn, hình thù như một con chó bun, dùng bàn tay chặt tàn bạo vào cổ gã. Một tiếng khô khốc vang lên. Cổ anh chàng đó ngoẹo đi.

Người đàn ông như chó bun nắm lấy chùm tóc đầy chấy của cái đầu cạo dở lởm chởm rồi để nó rơi xuống; Anh nhìn lên Blackthorne, nói một cái gì bằng giọng cổ họng rồi mỉm cười, nhe hàm lợi không có răng và nhún vai.

“Cảm ơn”, Blackthorne nói, lấy lại hơi, thầm cảm ơn, may mà cái tên tấn công anh không có cái nghệ thuật đánh nhau tay không của Mura.

“Tên tôi là Anjin-san”, anh vừa nói vừa chỉ vào mình.

“Anh?”

“A, so desu! Anjin-san!” Chó bun chỉ vào mình hít hơi.” Minikui.”

“Minikui-san?”

“Hai”, anh ta nói một tràng tiếng Nhật.

Blackthorne nhún vai, vẻ mệt mỏi.

“Wakari masen.” Tôi không hiểu.

“A, so desu!” Chó bun nói ngắn gọn với những người bên cạnh. Rồi anh ta lại nhún vai, Blackthorne cũng nhún vai rồi cả nai cùng khiêng người chết, đặt vào cùng những cái xác khác. Khi họ quay trở về góc của họ, không ai chiếm chỗ của họ hết.

Hầu hết những người tù đều ngủ hoặc cố gắng ngủ từng chặp. Blackthorne cảm thấy bẩn thỉu, khủng khiếp, gần chết. Đừng lo, anh tự nhủ, ngươi còn một con đường dài nữa rồi mới chết… Không, ta không thể sống lâu trong cái hầm địa ngục này. Có quá nhiều người. Ôi, Chúa, cho tôi ra! Tại sao căn phòng này lại đảo lộn như vậy, có phải Rodrigues từ đáy biển nổi lên, mắt là hai cái càng cua? Tôi không thể thở được, tôi không thể thở được. Tôi phải ra khỏi đây, xin đừng, xin đừng cho thêm củi vào lửa. Cậu làm gì ở đây thế, cậu bé Croocq, ta cứ nghĩ chúng thả cậu ra rồi. Tớ cứ nghĩ cậu đã trở về làng, bây giờ chúng ta ở trong làng rồi, làm thế nào tôi đến được đây-mát mẻ quá và cô gái kia đẹp làm sao, dưới vùng tàu. Nhưng tại sao chúng lại lôi cô đi tới bờ, tên Samurai trần truồng, Omi đứng cười hô hố? Tại sao lại qua các vùng cát, những vết máu trên cát, tất cả đều trần truồng, mình cũng trần truồng, những mụ già, dân làng và trẻ con, và cái vạc lớn, chúng ta ở trong vạc, không, đừng, đừng cho thêm củi nữa! Tôi bị chết đuối trong cái chất lỏng bẩn thỉu này. Ôi Chúa, ôi Chúa ơi, con đang hấp hối, hấp hối, hấp hối…

“In no mine Patris et Filii et Spritus Sandi” ( Tiếng Latin-

“Nhân danh Cha và con và Thánh thần”).Đó là lễ phước cuối cùng và là người theo đạo Cơ đốc, tất cả chúng ta là người theo đạo Cơ đốc, ngươi sẽ bị thiêu đốt, hoặc chết đuối trong nước tè, bị đốt trong lửa lửa lửa…

Anh cố lôi mình ra khỏi cơn ác mộng, tai anh vỡ tung với những câu cuối cùng yên bình và làm long lở cả mặt đất của lễ phước cuối cùng. Trong giây lát, anh không biết mình đang thức hay ngủ,bởi vì đôi tai không đáng tin cậy của anh đã lại nghe thấy câu kinh tụng bằng tiếng Latin và đôi mắt hồ nghi của anh đang nhìn thấy một ông già, nhăn nheo, quần áo tơi tả của một người Châu Âu,cúi xuống ở hàng giữa cách đó mười lăm bước. Ông già không có răng, mái tóc dài bẩn thỉu, bộ râu xỉn, những móng tay gãy vỡ, mặc chiếc áo blu dơ dáy, rách xơ chỉ. Ông đưa một bàn tay giống như móng của một con kền kền, giơ cây thánh giá bằng gỗ trên cái thân hình che đậy một nửa. Một tia nắng mặt trời chiếu vào trong giây lát. Rồi ông khép mắt người đã chết, lẩm bẩm cầu kinh và ngước nhìn lên. Ông thấy Blackthorne đang nhìn mình.

“Lạy Đức Mẹ, con là thật chăng?” ông già nói tiếng Spain, giọng nông dân thô thiển và làm dấu thánh giá.

“Vâng”, Blackthorne nói bằng tiếng Spain.

“Ông là ai?”

Ông già lần mò đường tới, vừa đi vừa lẩm bẩm. Những người tù khác để ông đi qua, bước lên người họ, hoặc bước qua họ mà không hề nói một lời nào.

Ông nhìn xuống Blackthorne qua đôi mắt đầy nhử, mặt ông có mụn cơm.

“Ôi, Đức Mẹ Đồng Trinh, senhor (ông) là thật. Con là ai? Cha là… Cha là Fraia… Fraia Domingo… Domingo… Domingo của dòng Thánh… Dòng Thánh Francis… Dòng Thánh…” rồi trong một lúc từ ngữ của ông là một mớ hỗn độn tiếng Nhật, tiếng Latin và tiếng Spain, và ông lão gạt nước dãi xuống cằm.

“Senhor là thật?”

“Vâng, tôi là thật”, Blackthorne nhổm người lên.

Ông thầy tu lẩm nhẩm bài kinh Sáng danh Đức Mẹ, nước mắt ròng ròng chảy xuống má. Ông liên tiếp hôn cây thánh giá và nếu như có chỗ, hẳn ông đã quỳ xuống. Chó bun lay người hàng xóm của mình dậy. Cả hai ngồi xổm vừa đủ chỗ cho ông thầy tu ngồi.

“Lạy Thánh Francis, những lời cầu nguyện của tôi đã được ứng nghiệm. Ông, ông, ông, tôi cứ nghĩ tôi lại nhìn thấy một bóng ma nữa, senhor. Phải, một ác quỷ. Tôi đã thấy quá nhiều – quá nhiều – senhor ở đây bao lâu rồi? Khó nhìn thấy thân thể một con người trong bóng tối và con mắt tôi, nó không tốt. Bao lâu?”

“Hôm qua. Còn Cha?”

“Tôi không biết, senhor ạ. Lâu rồi. Tôi bị đưa vào đây tháng Chín năm Chúa một nghìn năm trăm chín mươi tám.”

“Bây giờ là tháng Năm. Một nghìn sáu trăm.”

“Một nghìn sáu trăm?”

Một tiếng rên làm cho ông thầy tu chú ý. Ông đứng lên đi về phía những thân hình người như một con nhện, khuyến khích người này, chạm vào một người khác, tiếng Nhật của ông lưu loát. Ông không tìm thấy con người đang hấp hối, vì vậy ông đọc lầm bầm một bài kinh câu nguyện về phía đó của xà lim và ban phước cho mọi người, và không ai là phật ý.

“Hãy đi với ta, con trai của ta.”

Không chờ đợi, người thầy tu thậm thọt bước về cuối nhà giam, qua đống người trong bóng tối. Blackthorne do dự, không muốn rời chỗ của mình. Rồi anh đứng lên và đi theo. Sau mười bước, anh quay nhìn lại. Chỗ của anh đã biến mất. Hình như anh không từng bao giờ ở đó cả. Anh tiếp tục đi theo ông thầy tu. Ở tít một góc, không thể nào tường tượng được lại một khoảng trống. Đủ chỗ cho một người nhỏ bé nằm. Một vài cái lọ, bát và một mảnh chiếu cũ.

Cha Domingo bước qua hàng người vào khoảng trống và vẫy anh. Những người Nhật Bản chung quanh yên lặng nhìn, để Blackthorne qua.

“Họ là con chiên của cha, senhor. Tất cả họ đều là con trai của Cha trong lòng nhân ái của Chúa Jesus. Cha đã cải đạo cho rất nhiều người ở đây. Đây là John, và đây là Mark và Matthew… Người thầy tu dừng lại thở.

“Cha mệt quá. Mệt. Cha… phải, cha phải…” Giọng nói của ông kéo dài và ông ngủ.

Đến lúc nhập nhoạng tối lại có thêm thức ăn. Khi Blackthorne định đứng lên thì một người Nhật ở gần đó ra lệnh cho anh cứ ở nguyên đấy và mang đến cho anh một bát đầy. Một người khác vỗ nhè nhẹ ông thầy tu và dâng thức ăn.

“Iyé”(không-tiếng Nhật), ông già nói, lắc đầu, một nụ cười hiện trên nét mặt, đẩy cái bát trở lại vào tay người đó.

“Iyé Farddah Sama?”

Ông thầy tu để cho mình bị thuyết phục và ăn một chút, rồi đứng lên, các khớp xương kêu lục cục, ông đưa bát của mình cho một người ở hàng giữa. Người này để bàn tay của ông thầy tu lên trán mình và anh được ban phước.

“Cha rất mừng lại được gặp một người đồng loại của mình.” Ông thầy tu nói, lại ngồi xuống cạnh Blackthorne. Giọng nông dân của ông nặng. Ông chỉ tay yếu ớt về cuối dãy nhà tù, vào một trong số người ở hàng giữa.

“Một trong đám con chiên của tôi nói senhor dùng chữ “Hoa tiêu”,

“Anjin?” Senhor là hoa tiêu à?”

“Vâng.”

“Còn ai trong đội tàu của senhor ở đây không?”

“Không, chỉ có một mình tôi. Sao cha lại ở đây?”

“Nếu senhor chỉ có một mình, vậy thì senhor từ Manila tới?”

“Không. Trước đây chưa bao giờ tôi đến châu Á”, Blackthorne thận trọng nói, tiếng Spain của anh cực giỏi.

“Đây là chuyến đi làm hoa tiêu đầu tiên của tôi. Tôi… tôi ở biên cương phía ngoài. Tại sao cha lại ở đây?”

“Những người Jesuit để cha ở đây, con ạ. Bọn Jesuit và những lời dối trá bẩn thỉu của chúng. Senhor ở biên cương bên ngoài? Con không phải người Spain, không. Không phải người Portugal…”

Ông thầy tu ngó nhìn anh, vẻ ngờ vực, hơi thở của ông lão phả ra nồng nặc.

“Con tàu đó có phải của Portugal không? Có Chúa, hãy nói sự thật!”

“Không, cha ạ. Tôi không phải là người Portugal. Có Chúa.”

“Ôi, Đức Mẹ lòng lành, cám ơn con! Xin tha thứ cho cha, senhor. Cha sợ. Cha già nua, ngu ngốc và tật bệnh. Tàu của con từ đâu tới? Cha mừng quá, senhor gốc gác ở đâu? Flanđơ? Hay có lẽ Brandenburg? Một vùng đô hộ nào đó của chúng ta ở Germania? Nói lại tiếng Mẹ ngọt ngào thật sung sướng thay! Senhor cũng bị đắm tàu như chúng tôi sao? Rồi bị quẳng một cách khốn kiếp vào cái nhà tù này và bị lũ quỷ Jesuit kết tội một cách man trá? Chúa hãy nguyền rủa chúng nó và chỉ cho chúng thấy sự sai lầm của tội phản phúc!” Đôi mắt ông long lên một cách dữ tợn.

“Senhor nói chưa bao giờ ở châu Á trước

đây?”

“Vâng.”

“Nếu senhor chưa bao giờ ở châu Á, vậy thì con sẽ như một đứa trẻ vào miền hoang vu. Đúng, có nhiều chuyện để kể lắm. Senhor có biết bọn Jesuit chỉ là một bọn lái buôn, lũ lái súng và những người cho vay nặng lãi không? Có biết chúng khống chế tất cả việc buôn bán lụa ở đây, tất cả mọi việc buôn bán với Trung Quốc? Có biết chiếc Black Ship hằng năm trị giá hàng triệu vàng? Chúng đã buộc Đức Giáo hoàng cho bọn chúng toàn quyền đối với châu Á – chúng và lũ chó của chúng, bọn Portugal? Rằng tất cả các tôn giáo khác đều bị cấm ở đây? Rằng bọn Jesuit buôn bán bằng vàng, mua bán để kiếm lợi – cho bản thân chúng và cho những người ngoại đạo, ngược lại mệnh lệnh trực tiếp của Đức Giáo hoàng, Giáo hoàng Clement, vua Philip, ngược lại luật của đất này? Rằng chúng đã bí mật buôn lậu súng vào Nhật Bản cho những ông vua theo đạo Cơ đốc ở đây, xúi giục họ nổi loạn? Rằng chúng dính vào chuyện chính trị, làm ma cô cho các ông vua, dối trá, lừa lọc, làm chứng láo chống lại chúng ta! Rằng chính cha Bề trên đã viết một bức thư mật cho Phó vương Spain của chúng ta ở Luzon hỏi xin quân đội để chinh phục mảnh đất này – chúng xin Spain xâm lăng để che đậy những lỗi lầm hơn nữa của Portugal. Tất cả những khó khăn của chúng ta đều có thể để ở ngưỡng cửa của họ hết, senhor ạ. Chính bọn Jesuit đã nói dối, lừa lọc và đầu độc cho Spain và vị vua Philip yêu mến của chúng ta! Những lời dối trá của chúng đã đưa tôi đến chốn này và đã khiến hai mươi sáu cha phải tử tiết! Chúng nghĩ cha đã có thời là nông dân, cha không thể đọc và viết, senhor ạ, cha có thể đọc và viết! Cha là một trong những thư ký của ngài Phó vương. Chúng nghĩ chúng ta, những người thuộc dòng tu Franxit không hiểu…” Nói đến đây ông lại tuôn ra một tràng lẫn lộn tiếng Spain và tiếng Latin.

(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác