Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 37

Dịch giả Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng

Mariko lạnh lùng nhìn anh:

“Người đó là một gián điệp lấy tiền phải không?”

“Ông ta được người ta trả tiền bản đồ của ông ta, vâng. Phong tục của họ là như vậy, họ thưởng công một người như thế. Không phải thưởng bằng danh tước hoặc cấp đất mà chỉ tiền thôi. Holland là một nước cộng hòa.. Tất nhiên, thưa senhorra, nước tôi và các đồng minh của nước tôi, Holland, đang có chiến tranh với Spain và Portugal. Trước kia nữa cũng có chiến tranh trong nhiều năm. Thưa senhorra, bà cũng hiểu rằng, trong

chiến tranh, tìm ra bí mật của kẻ địch là điều rất quan trọng!.”

Mariko quay lại, nói một tràng dài.

“Chúa công tôi nói, tại sao viên Tổng giám mục đó lại dùng một kẻ thù?”

“Pieter Suyderhof có kể cho tôi nghe rằng vị Tổng giám mục đó, vốn là tu sĩ dòng Temple, chỉ quan tâm đến buôn bán thôi, Suyderhof đã làm cho thu nhập của họ tăng gấp đôi cho nên ông ta rất được họ

“Cưng chiều” Ông ta là một thương gia hết sức khôn ngoan – người Holland thường giỏi hơn người Portugal về mặt này. Cho nên người ta đã không kiểm tra kỹ giấy tờ giới thiệu của ông ta. Với lại nhiều người mắt xanh tóc vàng, người Đức và những người Âu châu khác, cũng là người Thiên Chúa giáo.” Blackthorne đợi cho đến khi dịch xong mới thận trọng nói thêm:

“Ông ta là trùm gián điệp Holland ở châu Á, một người lính của đất nước ông ta và ông ta đã đưa được người của mình lên tàu thuyền Portugal. Xin bà nói với Đại nhân Toranaga rằng không có sự buôn bán với Nhật Bản, thuộc địa Portugal ở Ấn Độ không thể tồn tại lâu được.”

Toranaga nhìn chằm chặp vào bản đồ trong khi Mariko nói. Không thấy ông có phản ứng gì. Blackthorne thắc mắc, không biết Mariko có dịch hết không?

“Chúa công tôi muốn có một bản đồ thế giới chi tiết, trên giấy, càng sớm càng tốt, chỉ rõ tất cả các căn cứ Portugal và số Ronin ở mỗi căn cứ. Đại nhân nói xin ông nói tiếp.”

Blackthorne biết mình đã tiến lên được một bước khổng lồ. Nhưng đứa bé ngáp cho nên anh quyết định đổi hướng, tuy vẫn chiếu vào những bến cảng ấy.

“Thế giới chúng tôi không phải bao giờ cũng thế này. Chẳng hạn, phía Nam con đường này, chúng tôi gọi là xích đạo, bốn mùa lại đảo ngược. Khi chúng ta ở vào mùa hạ thì họ ở vào mùa đông, khi ở ta đang mùa hạ thì họ rét cóng.”

“Sao lại thế?”

“Tôi không biết, nhưng đúng như vậy. Con đường đến Nhật Bản là đi qua một trong hai eo biển phía Nam đó. Người Anh chúng tôi đang tìm một con đường đi qua phía Bắc, hoặc ở phía Đông Bắc qua Xibêri, hoặc Tây Bắc qua châu Mỹ . Tôi đã đi lên phía Bắc đến tận chỗ này. Đất đai ở đó luôn luôn đóng băng và luôn luôn có tuyết, rét gần như quanh năm. Đến nỗi nếu không đeo bao tay bằng lông thú, ngón tay sẽ lạnh cóng ngay. Dân sống ở đó gọi là người Laplan. Quần áo của họ đều bằng da lông thú. Đàn ông đi săn còn đàn bà làm đủ mọi việc. Phần lớn công việc của đàn bà là may tất cả các quần áo. Muốn vậy, họ phải nhai da thú cho mềm ra mới khâu được.”

Mariko bật cười to.

Blackthorne mỉm cười với nàng, lúc này cảm thấy tự tin hơn.

“Đúng thế đấy, thưa senhora. Honto.”

“Sorewa honto desu ka?” Toranaga nóng nảy hỏi. Cái gì đúng?

Mariko lại càng cười to, và nói cho ông biết. Tất cả đều cười vang.

“Tôi đã sống với họ gần một năm. Chúng tôi bị kẹt giữa các tảng băng và phải đợi cho băng tan. Thức ăn của họ là cá, hải cẩu, đôi khi là gấu Bắc Cực và cá voi, những thứ đó họ ăn sống. Món ngon nhất, họ ưa thích nhất là mỡ cá voi sống.”

“Ồ, thôi đi, Anjin-san, làm gì có chuyện ấy?”

“Đúng thật đấy. Và họ sống trong những ngôi nhà nhỏ, tròn, hoàn toàn đắp bằng tuyết và họ không tắm bao giờ.”

“Sao, không tắm bao giờ à?”

Anh lắc đầu và quyết định không nói cho bà ta biết là ở Anh người ta cũng ít khi tắm, ít hơn cả ở Portugal và Spain là những nước nóng bức.

Mariko dịch lại, Toranaga lắc đầu có vẻ không tin.

“Chúa công tôi nói rằng như thế là bịa đặt quá. Không ai có thể sống mà không tắm. Ngay cả dân không có văn minh.”

“Sự thật là như thế, honto”, anh bình tĩnh nói và giơ tay lên.

“Tôi xin thề trước Chúa Jesus Nadarết và trước linh hồn tôi, tôi thề đó là sự thật.”

Mariko im lặng chăm chú nhìn anh:

“Tất cả?”

“Vâng. Đại nhân Toranaga muốn biết sự thật. Tôi nói dối làm gì? Mạng tôi trong tay Đại nhân. Có thể dễ dàng chứng minh được… Không, nói cho đúng ra, rất khó có thể chứng minh được những điều tôi nói… Phải đi tới đó và tự mắt nhìn thấy. Chắc chắn người Portugal và Spain là kẻ thù của tôi sẽ không ủng hộ tôi. Nhưng Đại nhân Toranaga muốn biết sự thật, Đại nhân có thể tin tôi nói sự thật.”

Mariko suy nghĩ một lát. Rồi nàng cẩn thận dịch lại đầy đủ những điều anh nói. Nàng nói tiếp:

“Đại nhân Toranaga nói không thể nào tin được có người không tắm mà có thể sống được.”

“Vâng. Nhưng đây là những vùng đất rất lạnh. Thói quen của họ khác với các vị, với tôi. Chẳng hạn, ở nước tôi, mọi người tin tắm là nguy hiểm cho sức khỏe. Bà tôi, Granny Jacoba, thường nói:

“Tắm khi ra đời, rồi tắm một lần nữa khi khâm liệm là sẽ được lên thiên đường.”

“Thật khó tin.”

“Một số phong tục của các vị cũng rất khó tin. Nhưng đúng là tôi đã tắm nhiều lần trong thời gian ngắn ở nước các vị hơn bao nhiêu năm trước đây. Tôi thẳng thắn thừa nhận rằng tôi có thấy sảng khoái hơn.” Anh mỉm cười:

“Tôi không còn tin tắm là nguy hiểm nữa. Như thế là đến nơi đây tôi đã có lợi, có phải không?”

Ngẫm nghĩ một lát, Mariko nói:

“Vâng”, rồi dịch cho Toranaga.

Kiri nói:

“Anh ta thật lạ lùng… lạ lùng, neh?”

“Mariko-san, bà nhận xét anh ta như thế nào?” Toranaga hỏi.

“Tôi tin anh ta nói thật hoặc anh ta tin mình nói thật. Rõ ràng hình như anh ta có thể có một giá trị lớn lao đối với ngài, thưa Đại nhân. Chúng ta biết quá ít về thế giới bên ngoài. Cái đó có giá trị với ngài không? Tôi không biết. Nhưng hầu như anh ta từ trên trời rơi xuống hoặc từ dưới biển nổi lên. Nếu anh ta là kẻ thù của người Portugal và Spain thì tin tức của anh ta đem lại, giả sử như có thể tin được, có lẽ sẽ có ý nghĩa quan trọng rất lớn đối với quyền lợi của Đại nhân, neh?”

“Đúng đấy”, Khi nói.

“Yaemon Sama, cháu nghĩ thế nào?”

“Cháu ấy à, thưa chú? Ồ, cháu thấy anh ta xấu xí, cháu không ưa bộ tóc vàng hoe và cặp mắt mèo của anh ta. Trông anh ta chẳng có vẻ gì là người cả”, đứa bé nói thẳng một hơi.

“Cháu rất mừng là mình không sinh ra làm một tên man rợ như anh ta, mà là một Samurai như cha cháu. Ta có thể đi bơi được không, chú?”

“Để mai, Yaemon”, Toranaga nói, phật ý vì không nói chuyện trực tiếp được với viên hoa tiêu.

Trong khi họ trò chuyện với nhau, Blackthorne quyết định là đã đến lúc rồi. Khi ấy Mariko quay lại.

“Chúa công tôi hỏi tại sao ông lại lên phương Bắc?”

“Tôi là hoa tiêu một chiếc tàu. Chúng tôi tìm một con đường phía Đông Bắc, thưa senhora. Nhiều điều tôi nói nghe có vẻ buồn cười, tôi biết vậy. Chẳng hạn bảy mươi năm trước đây, vua Spain và Portugal đã long trọng ký một hiệp ước chia đôi quyền sở hữu về thế giới, cái thế giới chưa được phát hiện. Do nước của các vị rơi vào nửa của người Portugal, cho nên chính thức mà nói, nước các vị thuộc Portugal. Đại nhân Toranaga, bà, tất cả mọi người, lâu đài này và mọi thứ trong lâu đài là trao cho Portugal.”

“Ồ, thôi đi, Anjin-san. Xin lỗi, thật là vô lý!”

“Tôi đồng ý rằng sự ngạo mạn của họ là không thể tưởng tượng được. Nhưng đúng là như thế!” Mariko dịch ngay lập tức và Toranaga cười lớn một cách giễu cợt.

“Đại nhân Toranaga nói rằng Đại nhân cũng có thể chia đôi thiên giới với Thiên Hoàng Trung Hoa được, neh?”

“Xin bà nói với Đại nhân Toranaga là tôi xin lỗi, không hẳn như thế đâu.” Blackthorne nói, anh biết mình đang đi trên miếng đất nguy hiểm.

“Việc đó đã được viết thành văn bản hợp pháp đem lại cho mỗi ông vua quyền chiếm lấy bất cứ đất đai nào không theo đạo Thiên Chúa do thần dân của họ phát hiện ra và tiêu diệt chính quyền ở đó, thay nó bằng chế độ cai trị của Thiên Chúa giáo.” Trên bản đồ, ngón tay anh vạch một đường từ Bắc xuống Nam, chia đôi Brazil.

“Mọi cái ở phía Đông con đường này là của Portugal, mọi cái ở phía Tây là của Spain. Phedro Cabran đã tìm ra Brazil năm 1500, cho nên bây giờ Brazil thuộc Portugal, văn hóa bản địa và những người cai trị hợp pháp bị tiêu diệt và Portugal trở nên giàu có với vàng và bạc lấy từ các mỏ và cướp của các đền ở nước đó. Phần còn lại của châu Mỹ phát hiện được cho đến nay là thuộc quyền sở hữu của Spain:-Mexico, Pêru, gần toàn bộ lục địa phía Nam. Họ đã diệt dân tộc Inca, xoá bỏ nền văn hóa của dân tộc này, bắt hàng trăm nghìn người Inca làm nô lệ. Bọn viễn chinh có súng ống hiện đại, còn thổ dân thì chẳng có gì. Đi theo bọn viễn chinh là các tu sĩ. Chẳng bao lâu, một số vua chúa của họ đã cải đạo và sự hằn thù cũng mòn mỏi đi. Thế rồi vua chúa này bị xúi giục đánh vua chúa kia và vương quốc đó bị nuốt dần từng mảnh. Bây giờ Spain là quốc gia giàu nhất thế giới chúng tôi nhờ số vàng bạc của người Inca và người-Mexico mà họ đã cướp được, đưa về Spain.”

Lúc này Mariko có vẻ nghiêm trọng: Nàng đã nhanh chóng nắm được ý nghĩa bài học của Blackthorne. Và Toranaga cũng vậy.

“Chúa công tôi nói đây là một cuộc trò chuyện vô bổ. Làm sao họ lại có thể cho mình những quyền như thế được?”

“Không đâu, họ không tự cho mình những quyền đó”, Blackthorne nghiêm trang nói.

“Giáo hoàng cho họ những quyền đó, đích thân Giáo hoàng, người đại diện cho Chúa KIto trên trái đất. Đánh đổi lấy việc truyền đạo.”

“Tôi không tin”, Mariko thết lên.

“Xin bà hãy dịch lại những điều tôi nói. Honto đấy,thưa senhorra.”

Mariko dịch và nói rất dài, rõ ràng là bối rối. Rồi :

“Chúa công tôi… Chúa công tôi nói… ông chỉ tìm cách đầu độc người chống lại những kẻ thù của ông. Sự thật thế nào? Thưa senhor, ông phải lấy tính mạng mình đảm bảo.”

“Giáo hoàng Alêcxanđrơ VI đã định ra đường phân ranh đầu tiên, năm 1493.” Blackthorne bắt đầu, lòng thầm cảm ơn Alban Caradoc đã nhồi nhét vào đầu anh nhiều chuyện như thế khi anh còn trẻ và cảm ơn cha Domingo đã cho anh biết về lòng kiêu hãnh của người Nhật và ý nghĩ của người Nhật.

“Năm 1506, Giáo hoàng Giuliút II phê chuẩn những thay đổi trong Hiệp ước Toócđêxila do Portugal và Spain ký năm 1494, sửa lại đường ranh giới đôi chút. Giáo hoàng Clêmen VII phê chuẩn Hiệp ước Saragossa năm 1529, chỉ mới cách đây có bảy mươi năm, vạch ra một đường thứ hai ở chỗ này.” Ngón tay anh vạch một đường kinh tuyến trên cát, cắt qua múi chót phía Nam của Nhật Bản.

“Điều đó đem lại cho Portugal toàn quyền đối với nước các vị, đối với tất cả các nước này: từ Nhật Bản, Trung Hoa đến châu Phi – theo cách tôi đã nói. Để độc quyền bóc lột – bằng mọi phương tiện – đánh đổi lấy việc truyền đạo Thiên Chúa!.” Anh lại chờ và người phụ nữ ngập ngừng, bấn loạn và anh có thể cảm thấy sự bực tức của Toranaga mỗi lúc một tăng vì phải đợi Mariko dịch lại.

Mariko gắng gượng mở miệng, nhắc lại những điều Blackthorne đã nói. Rồi nàng nghe Blackthorne, lòng căm ghét những điều mình nghe thấy. Có thật thế chăng? Nàng tự hỏi. Làm sao Đức Giáo hoàng lại có thể nói những lời như thế? Đem nước chúng ta cho bọn Portugal? Chắc chắn đây là một điều dối trá. Nhưng viên hoa tiêu đã thề trước Chúa Jesus Nadarết kia mà.

“Thưa Đại nhân, viên hoa tiêu nói”, Mariko bắt đầu.

“Vào…vào cái thời Đức Giáo hoàng chí thánh đưa ra những quyết định này, toàn bộ thế giới của họ, ngay cả nước của Anjin-san đều theo đạo Thiên Chúa giáo. Sự phân liệt chưa… chưa xảy ra. Cho nên… cho nên những… những quyết định đó của Giáo hoàng tất nhiên… tất nhiên là bắt buộc đối với mọi quốc gia. Nhưng dù vậy, ông ta nói thêm rằng tuy người Portugal được độc quyền bóc lột Nhật Bản. Spain và Bồ Đào nha không ngừng xung đột, tranh cãi nhau về quyền sở hữu vì sự buôn bán trù phú của chúng ta với Trung Hoa.”

“Kiri-san, ý kiến của bà thế nào?” Toranaga nói, cũng kinh động như những người khác. Chỉ có đứa bé là không để ý và đùa nghịch với chiếc quạt của nó.

“Ông ta tin mình nói thật!” Kiri nói.

“Vâng, tôi nghĩ thế. Nhưng làm thế nào để chứng minh được tất cả… hay một phần.”

“Mariko-san, theo bà làm thế nào để có thể chứng minh được?” Toranaga hỏi, ông rất bối rối vì phản ứng của Mariko đối với những điều Blackthorne đã nói nhưng cũng lại rất hài lòng là mình đã đồng ý dùng Mariko làm thông ngôn.

“Tôi sẽ hỏi cha Tsukku-san, thưa Đại nhân”, Mariko nói.

“Với lại tôi cũng sẽ cử một người nào đó, một chư hầu tin cậy, đi ra thế giới để xem xét. Có lẽ đi cùng với Anjin-san.”

Kiri nói:

“Nếu ông tu sĩ không đồng ý với những lời nói của anh ta, thì không nhất thiết có nghĩa là Anjin-san này nói dối, neh?” Kiri rất hài lòng về việc mình đã gợi ý dùng Mariko làm thông ngôn khi Toranaga tìm người thay thế Tsukku-san. Bà biết có thể tin Mariko được và một khi Mariko đã thề trước vị Chúa ngoại lai của mình thì bà ta sẽ im lặng dù cho có bị tu sĩ Cơ Đốc giáo nào truy vấn. Bọn ma quỷ ấy càng biết ít bao nhiêu càng tốt, Kiri thầm nghĩ. Và cái tên man rợ quả là có một kho tàng kiến thức!

Kiri thấy đứa bé lại ngáp và bà cảm thấy hài lòng. Đứa bé càng hiểu được ít càng tốt, bà tự nhủ. Rồi bà nói:

“Tại sao không cho tìm thủ lĩnh các tu sĩ Cơ đốc giáo và hỏi ông ta về những việc này? Xem ông ta nói gì? Đa số họ có gương mặt thật thà và họ hầu như không có tính xảo quyệt.”

Toranaga gật đầu, mắt nhìn Mariko.

“Theo chỗ bà biết, Mariko-san, về bọn man rợ phương Nam, bà có cho rằng lệnh của Giáo hoàng sẽ được tuân theo không?”

“Chắc chắn là được tuân theo, điều đó không phải nghi ngờ gì cả.”

“Mệnh lệnh của Giáo hoàng được coi như tiếng nói của Chúa trời Cơ đốc giáo, có phải không?”

“Vâng.”

“Tất cả nhưng người Cơ đốc giáo theo đạo Thiên Chúa sẽ tuân lệnh Giáo hoàng?”

“Vâng.”

“Ngay cả những người Cơ đốc giáo ở đây?”

“Vâng, theo tôi nghĩ.”

“Cả bà nữa?”

“Vâng, thưa Chúa công. Nếu đó là lệnh trực tiếp của Đức Giáo hoàng chí thánh cho đích thân tôi. Vâng, vì sự cứu rỗi của linh hồn tôi.” Ánh mắt Mariko kiên định.

“Nhưng cho đến khi ấy thì tôi sẽ không tuân theo một người nào khác ngoài lãnh chúa của tôi, người đứng đầu gia đình tôi hoặc chồng tôi. Tôi là người Nhật, đúng tôi là Cơ đốc giáo, nhưng trước hết, tôi là một Samurai.”

“Tôi cho rằng nếu vậy thì Đức chí thánh đó nên lánh xa bờ biển nước Nhật chúng ta thì tốt hơn…” Toranaga suy nghĩ một lát rồi quyết định phải làm gì với tên man rợ, Anjin-san.

“Nói với anh ta…” ông đừng lại. Mọi con mắt dồn về phía con đường nhỏ và nhìn vào người phụ nữ đã luống tuổi đang đi tới. Bà cụ mặc chiếc áo thụng có trùm đầu của ni cô Phật giáo. Bốn tên Áo Xám đi cùng với bà ta. Bọn Áo Xám dừng lại, bà ta tiến lên một mình.

(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác