Shogun Tướng quân- Tiểu thuyêt của James Clavel (Anh) – Kì 4

Người dịch : Ngô Vĩnh Viễn & Bùi Phụng

 

CHƯƠNG 02

~”Daimyo Kasigi Yabu, chúa của miền Izu, muốn biết anh là ai, từ đâu tới, làm sao tới được đây, anh đã phạm những hành động cướp bóc gì?” Cha Sebastio nói.

“Tôi đã nói với ông, chúng tôi không phải là hải tặc.”

Buổi sáng hôm ấy trời trong và ấm áp. Blackthorne quỳ trước bệ đài của quảng trường làng, đầu vẫn còn đau vì cú đánh. Phải bình tĩnh và để cho đầu óc làm việc. Anh sắp bị xét xử để sống còn. Anh là người phát ngôn, chỉ có thế thôi. Sự thù địch của gã cha cố, và là người phiên dịch duy nhất có thể có, và anh sẽ không có cách nào biết được gã nói gì, trừ một điều chắc chắn gã sẽ không giúp đỡ gì anh đâu…

“Phải khôn ngoan, cậu cả”, anh như nghe tiếng nói của Alban Caradoc. Khi bão tố cuồng nộ nhất và khi biển trở nên hãi hùng nhất, phải dùng trí khôn đặc biệt của mình. Điều đó sẽ giúp anh sống và con tàu của anh sống nếu anh là hoa tiêu. Hãy tập trung trí khôn và lấy chất nước ép ra từng ngày, cho dù khó khăn…

Chất nước ép hôm nay là mật đắng. Blackthorne nghĩ chua cay. Tại sao mình lại nghe tiếng nói của Anban rõ như thế nhỉ?

“Trước tiên, anh hãy nói với Daimyo là chúng ta đang có chiến tranh, chúng ta là kẻ thù của nhau”, anh nói.

“Nói với ông ấy là England và Netherland (Holland) đang có chiến tranh với Spain và Portugal…”

“Tôi nhắc anh một lần nữa là hãy nói đơn giản và đừng bóp méo sự kiện. Netherland hay Holland, Ailen hay các tỉnh Liên Hiệp, tất cả cái gì lũ phản loạn Holland các anh gọi nó, chỉ là một tỉnh nhỏ bé, nổi loạn của đế quốc Spain. Anh là người đứng đầu bọn phản loạn đang nổi loạn chống lại nhà vua hợp pháp của họ.”

“Nước Anh đang có chiến tranh và Netherland đang bị lừa.” Blackthorne không nói tiếp vì gã thầy tu không còn nghe mà đang dịch.

Daimyo đang ở trên bục đài, ông ta lùn, người vuông chằn chặn. Ông ta quỳ thoải mái, gót đặt phía sau, hai bên là bốn tỳ tướng, trong đó có Kasigi Omi, cháu và là chư hầu của ông. Tất cả đều mặc kimono lụa, áo khoác có trang trí, thắt lưng rộng bản thít lại và những bắp vai khổng lồ, cứng nhắc. Và tất nhiên là những thanh kiếm.

Mura quỳ dưới quảng trường. Ông ta là người làng duy nhất có mặt. Những người đứng nhìn duy nhất khác là năm mươi Samurai đến cùng Daimyo. Họ ngồi thành hàng yên lặng, trật tự. Đám người lộn xộn của thủy thủ đoàn ở phía sau Blackthorne. Cũng giống anh, tất cả đều quỳ và có lính gác ở bên. Họ phải khiêng hạm trưởng đến mặc dù ông đang bị ốm nặng. Ông được phép nằm dưới đất, vẫn trong tình trạng bán hôn mê. Blackthorne và đồng đội của anh, tất cả cúi chào khi họ tới trước mặt Daimyo, nhưng như vậy chưa đủ. Các Samurai ấn tất cả quỳ xuống, dúi đầu họ xuống đất theo cung cách của những nông dân. Anh đã cố gắng kháng cự, quát lên với thầy tu nhờ gã giải thích rằng phong tục của họ không như vậy, rằng anh là người chỉ huy và là sứ giả của đất nước mình nên phải được đối đãi tương xứng. Nhưng một cán giáo đã quật anh lặn xuống đất . Theo bản năng, đồng đội của anh tụm lại chuẩn bị tấn công, nhưng anh quát họ dừng lại và quỳ xuống. May mà họ tuân lệnh. Vị Daimyo nói một điều gì bằng một giọng trong cuống họng, thầy tu dịch, cảnh cáo anh phải nói sự thật, và nói mau. Blackthorne yêu cầu một cái ghế, nhưng gã thầy tu nói người Nhật không dùng ghế và không có một cái ghế nào ở Nhật Bản cả.

Blackthorne tập trung chú ý vào gã thầy tu khi gã nói với Daimyo, cố tìm một đầu mối, một con đường qua mạch đá này.

Có một sự kiêu căng và tàn ác trên nét mặt lão Daimyo, anh nghĩ. Mình chắc hắn ta là một thằng chó đẻ thật sự. Tiếng Nhật của gã thầy tu này không được lưu loát. À, thấy không? Bực bội và mất kiên nhẫn. Có phải lão Daimyo này hỏi một chữ khác, một chữ rõ hơn không? Mình nghĩ thế. Tại sao cái gã thầy tu này lại mặc áo dài màu da cam? Cái lão Daimyo có phải là người theo đạo Cơ đốc không? Coi này, cái gã Jesuit này rất cung kính và toát mồ hôi. Mình chắc lão Daimyo không phải người đi đạo. Phải chính xác mới được. Có lẽ lão không phải là người đi đạo. Thế nào chăng nữa cũng

chẳng thể mong sự thương xót ở lão ta. Mình có thể sử dụng cái thằng chó đẻ xấu xa này thế nào đây? Làm thế nào để nói thẳng với lão. Mình sẽ tác động lão thầy tu này thế nào? Làm thế nào để gã bị mất tín nhiệm? Mồi là gì? Nào, hãy suy nghĩ! Anh chẳng đã biết đủ về bọn Jesuit đó ư?

“Daimyo bảo hãy nói nhanh lên và trả lời những câu hỏi của ông ấy.”

“Vâng. Tất nhiên, tôi xin lỗi. Tôi tên là John Blackthorne. Tôi là người Anh, thiếu tá hoa tiêu của hạm đội Netherland. Cảng xuất phát của chúng tôi là Amsterdam.”

“Hạm đội? Hạm đội nào? Anh nói láo. Chẳng có hạm đội nào hết. Tại sao một hoa tiêu người Anh lại ở trên một tàu Holland?”

“Cứ thong thả. Trước hết làm ơn dịch những điều tôi vừa nói…”

“Tại sao anh lại là hoa tiêu trên một chiến thuyền Holland? Nhanh lên!”

Blackthorne quyết định đánh một canh bạc. Giọng anh đột nhiên đanh lại, vang lên trong cái ấm áp của buổi sáng.

“Khỉ thật! Dịch những điều tôi nói đi đã, tên Spain kia! Nhanh lên!”

Gã thầy tu đỏ mặt.

“Tôi là người Portugal. Tôi đã nói với anh rồi. Trả lời câu hỏi đi…”

“Tôi ở đây để nổi chuyện với vị Daimyo kia, không phải với anh. Dịch những điều tôi nói, đồ rác rưởi vô thừa nhận kia!” Blackthorne thấy gã thầy tu đỏ mặt lên nữa và cảm thấy điều đó không thoát được sự chú ý của lão Daimyo. Phải thận trọng, anh tự cảnh giác mình. Cái thằng chó đẻ da vàng này sẽ nghiền mày ra từng mảnh, nhanh hơn một đàn cá mập nếu mày không chế ngự được mình.” Nói với ông chúa Daimyo đi!” Blackthorne cố tình chào thật thấp trước bệ và cảm thấy mồ hôi lạnh bắt đầu đọng thành giọt khi anh quyết định hành động như thế.

Cha Sebastio biết sự đào luyện của gã làm gã không tiếp thu nổi những điều sỉ nhục của tên hải tặc và rõ ràng đó là cách làm gã mất tín nhiệm trước vị Daimyo. Nhưng thoạt đầu, nó lại không như thế và gã cảm thấy bối rối. Khi người của Mura tới tòa sứ của gã ở tỉnh bên để đưa tin về con tàu, gã đã do dự. Không thể là tàu Holland hoặc Anh! Gã nghĩ vậy. Trước nay chưa hề có một chiếc tàu của kẻ dị giáo nào ở biển Thái Bình Dương trừ

thuyền của tên hải tặc Drake, nhưng chưa bao giờ hắn ta lại ở châu Á. Những con đường là bí mật và đã được canh phòng. Lập tức gã chuẩn bị đi và đã cho một con chim đưa thư mang một bức điện tới thượng cấp của gã ở Osaka. Xin chỉ thị của thượng cấp. Biết mình còn trẻ, hầu như không được thử thách, còn mới lạ đối với Nhật Bản, mới ở đây vỏn vẹn hai năm, chưa được bổ nhiệm, chưa đủ khả năng để đương đầu với tình thế khẩn cấp

này, gã đã băng lới Anjiro, hi vọng và cầu nguyện cho tin này là không đúng. Nhưng tàu là tàu Holland và hoa tiêu là người Anh. Tất cả nỗi niềm căm ghét của gã đối với Luther, Calvin, Henry VIII và đứa con gái ác quỷ của lão ta – Elizabeth, đã choán ngợp lấy gã, làm mờ tâm trí của gã.

“Thầy tu, dịch câu tên hải tặc vừa nói”, gã nghe tiếng lão Daimyo nói. Ôi,Đức Mẹ, hãy giúp con thực hiện ý nguyện của Người. Hãy giúp con sức mạnh trước mặt lão Daimyo này, hãy cho con khẩu khiếu và hãy cho con chuyển tới lão ta Niềm Tin Chân Chính.

Cha Sebastio thu hết khôn ngoan, bắt đầu nói một cách tự tin hơn.

Blackthorne chăm chú lắng nghe, cố nhặt ra những từ và ý nghĩa của nó. Gã nói

“Nước Anh”,

“Blackthorne” và chỉ vào con tàu buông neo gọn ghẽ ngoài bến cảng.

“Làm sao anh tới đây được?” cha Sebastio nói.

“Bằng đường eo Magellan. Từ đó tới đây một trăm ba mươi sáu ngày. Hãy nói với Daimyo.”

“Anh nói láo. Đường eo Magellan là bí mật. Anh tới đây qua châu Phi và Ấn Độ. Cuối cùng, nhất định anh phải nói sự thật. Ở đây người ta tra tấn đấy.”

“Eo là bí mật. Một người Portugal bán cho chúng tôi một hải trình. Một người đồng bào của ông đã bán các ông lấy đồng tiền vàng phản bội của Giuđa. Tất cả các anh đều là phân, là cứt! Bây giờ,tất cả chiến thuyền của England và Holland đều biết đường qua Thái Bình Dương. Có một hạm đội, hai mươi chiến thuyền lớn của England , sáu mươi chiến thuyền có đại bác, đang tấn công Manila ngay lúc này. Đế quốc của ngươi sẽ chấm dứt…”

“Anh nói láo!”

Phải, Blackthorne nghĩ, không cách nào chứng minh được điều dối trá đó,trừ phi tới Manila.” Hạm đội đó sẽ cầy tung những lằn đường biển của các ông và đập nát những thuộc địa của các ông. Một hạm đội Holland nữa cũng sẽ tới đây vào bất kể tuần nào. Con lợn Bồ-Spain sẽ quay về chuồng lợn của nó và ăn phân tại cái ổ của nó?” Anh quay đi và cúi thật thấp chào lão Daimyo.

“Chúa nguyền rủa mày cùng cái mồm bẩn thỉu của mày!”

“Ano mono wa nami o moshité oru?” Lão Daimyo bật lên một cách nôn nóng.

Gã thầy tu nói nhanh hơn, nhấn mạnh hơn

“Magellan” và

“Manila” nhưng Blackthorne nghĩ rang lão Daimyo và các tỳ tướng của lão dường như không hiểu gì lắm.

Yabu đã mệt mỏi vì cuộc xét xử này. Lão. nhìn ra ngoài bến cảng, phía con tàu đã ám ảnh lão từ khi nhận được tin mật của Omi. Lão lại tự hỏi, không biết có phải đây là món quà của các vị thần linh mà lão từng ao ước hay không?

“Cháu đã khám xét hàng hóa chưa, Omi-san?.” Sáng nay, khi vừa tới nơi, người còn mệt mỗi lấm lem bùn đất, lão đã hỏi.

“Thưa Chúa công, chưa. Cháu nghĩ tốt nhất là niêm phong tàu lại , chờ ngài tới. Nhưng những khoang tàu đầy ắp những hòm đồ và những kiện hàng. Cháu hi vọng đã hành động đúng. Đây là tất cả chìa khóa của họ. Cháu đã tịch thu.”

“Tốt.” Yabu tới từ Yedo, thủ phủ của Toranaga cách đây hơn một trăm dặm. Vội vã, lén lút, hết sức nguy hiểm cho bản thân và sống chết phải trở lại cũng nhanh như vậy. Cuộc hành trình đã mất gần hai ngày trên những tuyến đường xấu và những con suối đầy nước, một phần đi ngựa, một phần đi cáng.

“Ta sẽ ra tàu ngay.”

“Thưa Chúa công , xin chúa công hãy xem những người ngoại quốc đã…” Omi nói với một tiếng cười,

“Không thể tin được. Hầu hết đều mắt xanh giống như mèo Xiêm và tóc vàng. Nhưng tin tức hay nhất là họ là hải tặc…”

Omi đã kể cho lão nghe về gã thầy tu. Những điều gã kể về lũ hải tặc và những điều tên hải tặc nói cùng những việc đã xảy ra làm nỗi kích thích của lão tăng lên gấpba. Yabu đã thắng được sự nôn nóng của mình, định lên tàu và bóc niêm phong. Thay vào đó, lão đã tắm thay quần áo và ra lệnh đem lũ rợ đến trước mặt mình.

“Anh thầy tu kia”, lão nói giọng đanh lại, làm như không thể hiểu nổi cách phát âm rất tồi của gã thầy tu.

“Tại sao hắn ta lại cáu giận với anh như thế?..”

“Hắn ta xấu. Hải tặc. Hắn thờ quỷ.”

Yabu nghiêng người về phía Omi ở phía tay trái mình.

“Cháu có hiểu gã nói gì không? Nó nói láo phải không? Cháu nghĩ thế nào?”

“Thưa chúa công, con không biết. Ai mà biết lũ rợ tin cái gì. Theo con, gã thầy tu cho rằng tên hải tặc là kẻ thờ quỷ.Tất nhiên, tất cả những cái đó là phi lý.”

Yabu quay lại gã thầy tu, thấy ghét cái gã này. Lão ao ước có thể đóng đinh câu rút gã hôm nay, triệt tiêu công giáo khỏi địa hạt của mình. Nhưng không thể được. Mặc dù lão và tất cả các Daimyo khác có toàn quyền trong địa hạt của mình, họ vẫn phụ thuộc vào uy quyền tối cao của Hội đồng nhiếp chính, hội đồng tướng lĩnh mà Taiko đã chính thức ủy quyền trong thời gian con ông còn thơ dại, cũng phải lệ thuộc vào huấn lệnh mà Taiko đã ban hành từ nhiều năm trước đây vẫn còn hiệu lực. Một trong những điều được ban hành từ nhiều năm trước đây có liên quan đến rợ Portugal. Lệnh ban rằng họ là những người được che chở và, trong giới hạn của nó, tôn giáo của họ phải được khoan nhượng, các thầy tu được phép, trong giới hạn, cải đạo và đổi tín ngưỡng.

“Anh thầy tu kia? Tên hải tặc còn nói gì nữa? Hắn ta nói gì với anh? Nhanh lên! Anh mất lưỡi rồi sao?”

“Hải tặc nói những điều xấu xa. Xấu xa. Nói có nhiều… chèo thuyền chiến của cướp – nhiều…”

“Anh nói sao, chèo thuyền chiến…”

“Xin lỗi Chúa công, tôi không hiểu…”

“Chèo thuyền chiến, không có nghĩa gì cả, hả?”

“À! Hải tặc nói những tàu chiến khác ở Manila, ở Philippines.”

“Omi-san, cháu có hiểu anh ta nói gì không?”

“Thưa Chúa công, không. Cách nói của hắn khủng khiếp líu ríu cả lại. Không biết có phải hắn nói có nhiều tàu khác của hải tặc ở phía Đông Nhật Bản không.”

“Anh thầy tu kia? Có phải có tàu khác của hải tặc ở ngoài khơi của chúng ta không? Phía Đông? Hả?”

“Thưa Chúa công, vâng. Nhưng tôi nghĩ anh ta nói láo. Anh ta nói ở Manila.”

“Tôi không hiểu anh. Manila ở đâu?”

“Phía Đông. Đi nhiều ngày…”

“Nếu tàu hải tặc đến đây, chúng ta sẽ đón tiếp họ nồng nhiệt, bất kể Manila ở đâu.”

“Xin tha lỗi, tôi không hiểu…”

“Không sao”, Yabu nói, sự kiên nhẫn của ,lão đã hết. Lão quyết định những người lạ này phải chết và khoái cảnh tượng ấy. Rõ ràng những người này không nằm trong lệnh của Taiko, ngoại trừ rợ Portugal, mà dù sao thì họ cũng là hải tặc. Xưa nay lão vẫn ghét lũ rợ, mùi hôi của họ, sự bẩn thỉu và thối quen ăn thịt tởm lợm của họ, cái tôn giáo ngu ngốc, sự kiêu căng và những cung cách đáng ghét của họ. Hơn thế, lão lấy làm hổ thẹn, như tất cả những Daimyo khác, bởi cái thòng lọng của họ trên mảnh đất này. Một tình trạng chiến tranh đã tồn tại giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong nhiều thế kỷ. Trung Quốc không cho phép buôn bán. Hàng lụa Trung Quốc là thứ để giúp cho mùa hè dài dặc, nóng bức và ẩm thấp ở Nhật Bản có thể chịu nổi. Hàng bao nhiêu thế hệ nay, chỉ có một số lượng nhỏ xíu hàng lụa nhập trái phép lọt qua được biên giới và chỉ có thể kiếm được với giá cắt cổ của Nhật Bản. Thế rồi hơn sáu mươi năm về trước, lũ rợ đầu tiên đã tới. Thiên Hoàng Trung Hoa ở Bắc Kinh cho họ một căn cứ thường trực nhỏ xíu tại Macao, ở miền Nam Trung Quốc, và đồng ý đổi lụa lấy bạc. Nhật Bản có nhiều bạc. Chẳng bao lâu việc buôn bán nở rộ. Cả hai nước đều thịnh vượng. Những người trung gian, những người Portugal trở nên giàu có và những thầy tu của họ – chủ yếu là những Jesuit – chẳng bao lâu đã nắm quyền quyết định công cuộc thương mại. Chỉ có các thầy tu đã học được tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật, do đó có thể làm người môi giới và phiên dịch. Thương mại nở rộ thì các thầy tu càng trở nên cần thiết. Giờ đây công việc buôn bán hàng năm hết sức lớn và ảnh hưởng tới đời sống của mỗi Samurai. Bởi vậy các thầy tu phải được khoan thứ và việc truyền đạo của họ cũng phải được tha thứ, nếu không thì bọn rợ sẽ cuốn gói đi và việc buôn bán sẽ dừng lại.

Hiện đã có số Daimyo công giáo rất quan trọng và hàng trăm ngàn người cải đạo, hầu hết là ở Kyushu, bán đảo phía Nam gần Trung Quốc nhất và gồm cả cảng Nagasaki của Portugal. Tuy nhiên, Yabu nghĩ, chúng ta có thể tha thứ cho bọn thầy tu và bọn Portugal, nhưng không phải bọn rợ này, những tên mới này, những tên có mắt xanh tóc vàng không thể nào tin nổi. Sự phấn khích làm lão ngột ngạt. Giờ đây, lão có thể thoả mãn tính tò mò xem một tên rợ sẽ chết như thế nào khi bị tra tấn. Và lão có mười một người, mười một cách thí nghiệm khác nhau. Lão không bao giờ tự ái, tại sao nỗi thống khổ của người khác lại làm cho lão sung sướng. Lão chỉ biết nó làm lão sung sướng và vì thế, nó là một cái gì cần được tìm kiếm và tận hưởng.

Yabu nói:

“Con tàu này là ngoại quốc, không phải Portugal và nó là hải tặc nên sẽ bị tịch thu cùng mọi thứ trong đó. Tất cả bọn hải tặc sẽ bị kết…” Mồm lão há hốc ra khi thấy tên cầm đầu hải tặc nhảy xổ vào gã thầy tu và giật cây thánh giá gỗ khỏi thắt lưng gã, bẻ nó ra từng mảnh, quăng chúng xuống đất rồi hét lên một tiếng gì đó rất to. Tên hải tặc lập tức quỳ xuống cúi chào rất thấp khi những người gác xông đến tay giơ cao kiếm.

“Dừng lại! Đừng giết hắn…” Yabu kinh ngạc vì có ké dám hành động láo xược, vô lễ như vậy trước mặt mình.” Bọn rợ này không thể nào tướng tượng nổi…”

“Vâng”, Omi nói, trí óc anh ta tràn ngập những câu hỏi, không hiểu hành động ấy có nghĩa gì.

Gã thầy tu vẫn quỳ, mắt nhìn chăm chăm vào những mảnh thánh giá. Họ nhìn tay gã run run nhặt những mảnh gỗ bị xúc phạm. Gã nói điều gì đó với tên hải tặc, giọng nhỏ nhẹ gần như êm ái. Đôi mắt tên nhắm lại, những ngón tay chụm và đôi môi bắt đầu chuyển động chậm chạp. Tên trùm hải tặc nhìn họ bất động, đôi mắt màu xanh xám không chớp, như mắt mèo trước thủy thủ đoàn của mình.

Yabu nói:

“Omi-san, trước tiên chú muốn lên tàu. Sau đó chúng ta sẽ bắt đầu…” Giọng lão đặc lại khi ngẫm nghĩ tới cái khoái lạc lão đã hứa dành cho mình.

“Chú muốn bắt đầu bằng cái tên tóc đỏ ở cuối hàng kia kìa, cái gã nhỏ con ấy…”

Omi ghé lại gần hơn và hạ thấp giọng nói bị kích động của mình:

“Xin Chúa công tha lỗi, những điều này trước đây chưa hề có. Kể từ khi rợ Portugal tới đây, cây thánh giá có phải là biểu hiện thiêng liêng của họ không? Có phải họ luôn luôn kính trọng các vị thầy tu của mình không? Có phải họ luôn quỳ trước mặt thầy tu một cách công khai? Có phải các thầy tu có quyền tuyệt đối với họ không?.”

“Đi thẳng vào vấn đề…”

“Thưa Chúa công, tất cả chúng ta đều ghét người Portugal. Chỉ trừ những người theo đạo Thiên Chúa trong chúng ta. Có lẽ bọn rợ này có giá trị đối với Chúa công khi còn sống hơn là khi họ chết…”

“Sao vậy?”

“Bởi vì họ là độc nhất. Họ chống Thiên Chúa! Có lẽ một người khôn ngoan có thể tận dụng lòng căm thù của họ – hoặc sự vô tôn giáo của họ-cho mục đích của chúng ta. Họ là tài sản của Chúa công, Chúa công muốn làm gì thì làm. Phải không ạ?”

Phải. Và ta muốn chúng bị tra tấn, Yabu nghĩ. Phải, nhưng ta có thể hưởng điều đó bất cứ lúc nào. Hãy nghe Omi. Nó là một cố vấn tốt. Nhưng bây giờ có nên tin cậy nó không? Không biết nó có lý do bí mật nào để nói điều này không? Thử suy nghĩ xem.

“Ikaoa Jikkiu là người đi đạo”, lão nghe tiếng cháu gọi tên kẻ thù đáng căm ghét của mình – một trong những họ hàng và đồng minh của Ishido – đóng tại biên giới phía Tây của lão.

“Cái tên cố đạo bẩn thỉu này đã chẳng có nhà ở đó ư? Cớ lẽ bọn rợ này có thể cho Chúa công chìa khóa để mở toàn bộ tỉnh Ikaoa. Có lẽ cả Ishido. Có lẽ cả chính Toranaga nữa”, Omi nói thêm một cách tế nhị.

Yabu quan sát nét mặt của Omi, cố gắng tìm ra điều gì phía sau đó. Rồi lão ngó ra con tàu. Bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, các vị thần linh đã đưa nó lại cho lão Phải. Nhưng đó là một món quà hay là một tai ương? Lão gạt sự khoái lạc của mình sang một bên, nhường nó cho sự an toàn của bộ tộc .mình.. Ta đồng ý , nhưng trước hết hãy khuất phục bọn hải tặc này. Dạy cho chúng nề nếp. Đặc biệt hắn!
Còn tiếp
(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác