Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 42

Người dịch: Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng

Dell’Aqua nhìn chằm chặp gã quân nhân.

“Tôi nói một lần chót, ông-không-được-dính-líu-vào-chính-trị- nội -bộ-ở-đây!”

Một cục than rơi từ trong lửa lăn ra thảm. Ferriera ngồi gần nhất, đá hòn than ra chỗ an toàn.

“Vậy nếu tôi chịu khuất phục thì Đức cha định làm gì với tên tà đạo đó? Hoặc Toranaga?”

Dell’Aqua ngồi xuống, tin rằng mình đã giành phần thắng:

“Lúc này tôi cũng không biết nên thế nào. Nhưng chỉ riêng cái việc nghĩ đến chuyện trừ khử Toranaga cũng đã là lố lăng rồi. Hắn rất có thiện cảm với chúng ta và việc gia tăng mậu dịch”, giọng ông ta càng nhỏ đi.

“Và do đó gia tăng lời lãi của ông.”

“Và lời lãi của Đức cha nữa

” , Ferriera không tự kiềm chế được.

“Lời lãi của chúng tôi dành cho công việc của Chúa. Như ông cũng biết rõ”, Dell’Aqua mệt mỏi rót rượu mời Ferriera, muốn xoa dịu hắn.

“Nào, ông Ferriera, chúng ta đừng cãi nhau theo cái kiểu đó nữa… Cái việc tên tà đạo đó quả là đáng sợ thật. Nhưng cãi nhau chẳng ích lợi gì. Chúng tôi cần lời khuyên của ông, của trí óc, cũng như sức mạnh của ông. Ông có thể tin tôi, Toranaga đối với chúng ta có tầm quan trùng sinh tử. Không có hắn để kiềm chế các Nhiếp chính khác, toàn bộ đất nước này sẽ lại rơi vào cảnh hỗn loạn vô chính phủ.”

“Vâng, đúng thế, thưa ông Thủy sư đô đốc”, Alvito nói.

“Nhưng tôi không hiểu tại sao hắn còn ở lại lâu đài, và đồng ý hoãn cuộc họp. Thật không thể tưởng tượng nổi, hình như hắn bị mắc lừa ấy. Chắc chắn hắn phải biết Osaka đã bị khóa chặt, còn chặt hơn cả thắt lưng trinh tiết của một viên tướng thập tự chinh cả ghen. Lẽ ra hắn đã phải rời khỏi đây từ mấy ngày nay rồi mới phải.”

Ferriera nói:

“Nếu hắn quan trọng đến như vậy, tại sao lại ủng hộ Onoshi và Kiyama? Chẳng phải hai người này đang đứng về phe Ishido chống lại hắn đó sao? Tại sao các cha không khuyên nhủ họ đừng làm thế? Việc này được thảo luận cách đây mới có hai ngày thôi.”

“Ông đô đốc, họ báo cho chúng tôi biết quyết định của họ. Chúng tôi không thảo luận việc đó.”

“Nếu vậy, có lẽ Đức cha cần phải thảo luận, thưa Đức cha. Nếu là quan trọng đến như vậy thì tại sao không ra lệnh cho họ chống lại việc đó! Đe dọa rút phép thông công của họ.”

Dell’Aqua thở dài:

“Ước gì câu chuyện đơn giản như thế thì hay quá. Không thể hành động như thế được ở Nhật Bản. Họ căm ghét sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ của họ. Ngay một gợi ý của chúng tôi thôi cũng cần phải được đưa ra một cách hết sức tế nhị.”

Ferriera uống cạn cốc rượu bằng bạc rồi rót thêm rượu và bình tĩnh lại, biết rằng hắn cần các tu sĩ dòng Temple đứng về phía hắn, rằng không có họ làm thông ngôn, hắn sẽ hoàn toàn bất lực. Cần phải làm cho chuyến đi này thành công, hắn tự nhủ. Ta đã chinh chiến, đã đổ mồ hôi mười một năm trời phục vụ nhà vua để giành lấy một cách xứng đáng phần thưởng quý giá nhất trong phạm vi quyền hạn của nhà vua có thể ban cho ta là chức Thủy sư đô đốc chỉ huy Black Ship hằng năm, trong một năm. Và một phần mười tất cả lụa là, vàng bạc, tất cả lời lãi của mỗi cuộc giao dịch, kèm theo vinh dự đó. Bấy giờ thì ta giàu có suốt đời ăn không hết, ba mươi đời cũng không hết, nếu như có được ba mươi đời. Mà tất cả chỉ nhờ vào mỗi một chuyến đi này thôi, nếu như ta hoàn thành nó.

Bàn tay Ferriera sờ vào đốc kiếm, sờ vào hình chữ thập bằng bạc.

“Thề có Chúa, Black Ship của ta sẽ rời Macao đúng ngày giờ để tới Nagasaki, rồi sau đó nó sẽ là con tàu chở của cải giàu có nhất trong lịch sử, thẹo gió mùa tháng mười một chạy về hướng Nam tới Goa rồi về nước! Có Chúa chứng giám, đó là việc nhất định sẽ diễn ra.” Và hắn thầm nói thêm với bản thân hắn:

“Dù có phải thiêu cháy cả nước Nhật, cả Macao và cả Trung Hoa để làm việc đó, thề có Đức Bà Đồng Trinh!”

“Chúng tôi cầu nguyện cho ông, tất nhiên là như vậy rồi”, Dell’Aqua đáp thành thực.

“Chúng tôi biết tầm quan trọng trong chuyến đi của ông.”

“Vậy Đức cha có ý kiến gì không? Không có giấy phép rời bến và giấy phép buôn bán, tôi bị trói chân trói tay. Chúng ta có thể tránh được các Nhiếp chính không? Có lẽ có một cách nào khác chăng?”

Dell’Aqua lắc đầu:

“Thế nào, Mactin? Ông là chuyên gia thương mại của chúng ta.”

“Tôi rất lấy làm tiếc, thưa Đức cha, nhưng không thế nào được”, Alvito nói. Ông đã nghe những lời trao đổi nóng nảy giữa hai người, trong lòng sôi sục công phẫn. Ăn nói thô lỗ, kiêu căng ngạo mạn, đồ khốn kiếp mất giống, ông thầm nghĩ. Rồi ngay lập tức, ôi lạy Chúa, hãy ban cho con lòng kiên nhẫn, bởi vì nếu không có con người này và những kẻ khác giống như hắn, Giáo hội nơi đây sẽ chết.

“Tôi tin chắc là trong vòng một hai ngày nữa, thưa Thủy sư đô đốc, mọi việc sẽ được định đoạt. Cùng lắm là một tuần. Toranaga có những vấn đề rất đặc biệt lúc này. Tôi tin chắc mọi việc rồi sẽ ổn thoả thôi.”

“Tôi sẽ đợi một tuần lễ. Không hơn.” Cái ý đe dọa ngầm trong giọng nói của Ferriera thật đáng sợ.

“Tôi rất muốn tóm được cái thằng tà đạo đó. Tôi sẽ tra tấn cho nó phải nói ra sự thật. Toranaga có nói gì về cái hạm đội mà người ta đồn không? Một hạm đội địch ư?”

“Không nói gì cả.”

“Tôi rất muốn biết sự thật đó, bởi vì khi đi về, tàu của tôi sẽ đầy ắp như một con lợn béo, các khoang của nó chứa đầy lụa hơn bất cứ một chuyến tàu nào khác xưa nay.Tàu chúng tôi là một trong những chiếc tàu lớn nhất thế giới, nhưng tôi không có tàu hộ tống cho nên chỉ cần một chiến thuyền địch bắt được chúng tôi ở ngoài biển… hoặc cái con điếm Holland đó, tàu Erasmus… Chúng tôi sẽ nằm trong tay nó, nó muốn làm gì cũng phải chịu. Nó sẽ bắt tôi hạ cờ đức vua Portugal xuống không khó khăn gì cả. Tên Ingeles không nên đưa tàu của nó ra biển với các pháo thủ, đại bác, súng ống trên tàu…”

“E vero, è solamante vero”, Dell’Aqua lẩm bẩm.

Ferriera uống hết cốc rượu.

“Khi nào thì Blackthorne được đưa đi Izu?”

“Toranaga không nói”, Alvito đáp.

“Tôi có cảm giác là sẽ sớm thôi.”

“Hôm nay chăng?”

“Tôi không rõ. Bốn ngày nữa, các Nhiếp chính sẽ họp. Tôi cho rằng có thể làm sau cuộc họp đó.”

Dell’Aqua nặng nề nói:

“Không được đụng đến Blackthorne. Cả hắn lẫn Toranaga.”

Ferriera đứng dậy:

“Tôi xin phép trở về tàu. Các cha ăn bữa tối với chúng tôi chứ? Cả hai cha chứ? Vào lúc hoàng hôn? Có một con gà thiến rất ngon, một súc thịt bò và rượu vang Mađêra, có cả bánh mỳ mới làm nữa.”

“Cảm ơn lòng tốt của ông”, Dell’Aqua có vẻ tươi tỉnh lên.

“Vâng, có vài món ăn ngon thì thật là tuyệt. Ông đối với chúng tôi tốt quá.”

“Ngay khi tôi được Toranaga cho biết, tôi sẽ thông báo ngay cho ông, ngài Thủy sư đô đốc ạ”, Alvito nói.

“Cảm ơn cha.”

Khi Ferriera đã đi khỏi, Đức cha Thanh tra cho biết chắc không ai có thể nghe trộm được mình và Alvito, ông ta lo lắng nói:

“Mactin, Toranaga còn nói gì nữa không?”

“Hắn muốn có một sự giải thích viết ra giấy, về vụ buôn lậu súng và yêu cầu về các Conquistadors.”

“Mamma mia…”

“Toranaga tỏ ra thân mật, thậm chí hòa nhã, nhưng… hừ, tôi chưa bao giờ thấy hắn như thế trước đây.”

“Đúng ra thì hắn đã nói gì?”

“Hắn nói như sau:

“Tsukku-san, tôi hiểu rằng người đứng đầu trước đây của Giáo hội Cơ đốc của các ông, cha Đa Cunha, đã viết thư cho các thống đốc của Macao, Goa và Phó vương Spain ở Manila, Ngài Xixcô y Vivêra, vào tháng 7 năm 1588 theo cách tính năm của các ông, đề nghị một cuộc xâm lăng với hàng trăm lính Spain có súng để hỗ trợ cho một số Daimyo theo đạo Cơ đốc trong một cuộc nổi loạn mà giáo trưởng Cơ đốc giáo đang tìm cách xúi giục chống lại Chúa thượng hợp pháp của họ, tức là Chúa thượng đã quá cố của tôi, Đức Taiko. Tên của các Daimyo đó là gì? Có đúng là không có binh lính nào được phái đến mà chỉ có rất nhiều súng được lén lút tuồn vào Nagasaki, dưới dấu niêm phong Cơ đốc giáo của Macao, có phải không? Có đúng là Đức cha – To lớn như hộ pháp đã bí mật nắm lấy số súng đó khi ông ta trở lại Nhật Bản lần thứ hai, với tư cách là sứ thần của Goa đến, vào tháng ba hay tháng tư gì đó năm 1590 theo cách tính của các ông, rồi bí mật tuồn số súng ấy ra khỏi Nagasaki trên chiếc tàu Portugal Santa Cruz, đưa trở lại Macao, có phải không?”

Alvito lau mồ hôi hai bàn tay.

“Hắn có nói gì thêm không?”

“Không có gì quan trọng, thưa Đức cha. Tôi không có cơ hội phân trần, hắn cho tôi lui ra ngay tức khắc. Vẫn lễ độ đấy nhưng thực tế là đuổi ra.”

“Cái tên người Anh chết tiệt ấy lấy đâu ra những tin tức đó?”

“Giá mà tôi biết!”…

“Những năm tháng ấy, những tên ấy. Ông không nhầm đấy chứ, Mactin? Hắn nói đúng như thế ư?”

“Thưa Đức cha, hắn nói đúng như thế. Tên được viết trên một mảnh giấy. Hắn có đưa cho tôi xem.”

“Chữ của Blackthorne à?”

“Không ạ. Tên được phiên âm ra tiếng Nhật, bằng chữ hiragana.”

“Chúng ta cần phải tìm ra ai đã làm thông ngôn cho Toranaga. Tên đó hẳn là phải rất giỏi, chắc chắn không phải người của ta đấy chứ? Không thể là giáo hữu Manuen, có phải không?” Dell’Aqua chua chát hỏi, dùng tên rửa tội của MaSamanu Jiro. Jiro là con trai một Samurai theo đạo Cơ đốc đã được các tu sĩ dòng Temple dạy dỗ từ thuở nhỏ, do thông minh và sùng đạo đã được chọn vào trường Dòng để được đào tạo làm một tu sĩ chính thức với bốn lời nguyền; khi ấy chưa có một tu sĩ Nhật Bản nào. Jiro đã ở với Hội truyền đạo hai mươi năm, rồi điều không thể ngờ được, hắn đã bỏ đi trước khi được phong chức và bây giờ hắn là một kẻ hung hăng chống lại Giáo hội…

“Không ạ, Manuen vẫn ở Kyushu, cầu trời cho nó bị thiêu mãi mãi trong hỏa ngục. Nó vẫn là kẻ thù kịch liệt của Toranaga và không bao giờ nó giúp hắn. May mắn là nó không bao giờ tham dự vào một bí mật chính trị nào. Người thông ngôn là phu nhân Maria”, Alvito nói, dùng tên rửa tội của Toda Mariko.

“Toranaga nói với ông thế sao?”

“Không, thưa Đức cha. Nhưng tôi tình cờ biết được rằng bà ta đang đến thăm lâu đài và người ta nhìn thấy bà ta với tên Ingeles.”

“Ông có chắc không?”

“Tin tức của chúng tôi hoàn toàn chính xác.”

“Tốt”, Dell’Aqua nói.

“Có lẽ Chúa giúp chúng ta theo cái cách của Người mà chúng ta không thể hiểu được. Hãy cho người đi mời bà ta đến đây ngay.”

“Tôi đã gặp bà ta, thưa Đức cha. Tôi cố ý làm như tình cờ gặp bà ta. Bà ta vẫn vui vẻ như mọi khi, rất kính cẩn, ngoan đạo như mọi khi, nhưng trước khi tôi có cơ hội hỏi bà ta thì bà ta đã nói rõ ra rằng:

“Dĩ nhiên vương quốc là một mảnh đất rất riêng tư, thưa cha. Và theo phong tục, có những việc cần phải giữ rất kín. Ở Portugal cũng vậy, và trong Giáo hội dòng Temple cũng thế phải không ạ?.”

“Cha là cha xưng tội của bà ta?”

“Vâng. Nhưng bà ta sẽ không nói gì.”

“Tại sao?”

“Rõ ràng là bà ta đã được căn dặn trước và cấm không được bàn đến những gì đã xảy ra và những gì đã nói. Tôi biết họ quá. Trong chuyện này, ảnh hưởng cửa Toranaga sẽ lớn hơn ảnh hưởng của chúng ta.”

“Đức tin của bà ta nhỏ bé thế thôi ư? Sự giáo dục của chúng ta lại vô dụng đến thế ư? Chắc chắn là không. Bà ta sùng kính và ngoan đạo, tôi chưa từng thấy người phụ nữ nào như thế. Một ngày kia, bà ta sẽ trở thành nữ tu sĩ thậm chí có lẽ là nữ tu viện trưởng Nhật Bản đầu tiên nữa là khác…”

“Vâng. Nhưng bấy giờ bà ta cũng sẽ vẫn không nói gì.”

“Giáo hội đang lâm nguy. Việc này quan trọng, có lẽ quá quan trọng”, Dell’Aqua nói.

“Bà ta sẽ hiểu. Bà ta thông minh, không thể không nhận thức ra điều đó.”

“Tôi khẩn cầu Đức cha, không nên thử thách đức tin của bà ta trong chuyện này. Chúng ta chắc chắn sẽ thất bại. Bà ta đã nói trước với tôi rồi. Đó là điều bà ta đã nói, rất rõ ràng, chẳng khác như đã viết ra trên giấy.”

“Có lẽ thử thách bà ta là một việc hay. Vì sự cứu rỗi của chính bà ta.”

“Đức cha có quyền ra lệnh hoặc không ra lệnh. Nhưng tôi e rằng bà ta sẽ phải vâng lời Toranaga, thưa Đức cha, chứ không phải vâng lời chúng ta.”

“Tôi sẽ suy nghĩ về Maria. Vâng”, Dell’Aqua nói. Ông đưa mất lơ đãng nhìn ngọn lửa. Sức nặng chức vụ của ông đè lên người ông. Tội nghiệp Maria. Tên tà đạo đáng nguyền rủa kia! Làm thế nào chúng ta tránh được cái bẫy này? Làm thế nào che giấu được sự thật về chuyện các khẩu súng. Làm sao một Đức cha Bề trên và một Phó vương như Đa Cunha, được rèn luyện như thế, giàu kinh nghiệm như thế, với bao năm hiểu biết thực tiễn ở Macao và Nhật Bản… làm sao ông ta lại có thể phạm một sai lầm như thế?

“Làm thế nào?”, ông hỏi ngọn lửa.

Ta có thể trả lời được, ông tự nhủ. Dễ quá. Ngươi hốt hoảng hoặc quên mất vinh quang của Chúa hoặc đã trở nên kiêu căng ngạo mạn hoặc tê liệt. Ai mà không thế trong hoàn cảnh như thế này? Được Taiko biệt đãi, tiếp lúc mặt trời lặn, một cuộc hội kiến huy hoàng, long trọng và đúng nghi thức… gần giống như một cử chỉ ăn năn hối lỗi của Taiko, có vẻ như sắp sửa muốn cải đạo đi vậy. Thế mà rồi bị đánh thức dậy ngay giữa đêm hôm đó bởi sắc lệnh trục xuất của Taiko, quyết định rằng tất cả các dòng tu phải rời khỏi Nhật Bản trong vòng hai mươi ngày, nếu không sẽ bị hành hình. Không bao giờ được trở lại, và tệ hơn nữa là tất cả những người Nhật đã cải đạo trên khắp đất nước được lệnh phải công khai từ đạo ngay nếu không sẽ bị phát vãng hoặc xử tử tức khắc.

Bị dồn vào thế tuyệt vọng, Đức cha Bề trên đã đại dột xúi giục các Daimyo theo đạo Cơ đốc ở Kyushu là Onoshi , Masaki, Kiyama – và Harima ở Nagasaki trong số họ – nổi loạn để cứu Giáo hội và đã điên cuồng viết thư kêu gọi các conquistadors đến tăng cường cho cuộc nổi loạn.

Ngọn lửa réo ù ù và nhảy múa trong lò sưởi. Phải, đúng thế, Dell’Aqua nghĩ. Giá mà ta biết được, giá mà Đa Cunha hỏi ý kiến ta trước? Nhưng làm sao ông ta có thể làm thế được? Gửi một cái thư đến Goa phải mất sáu tháng và thư trở lại có lẽ cũng phải mất sáu tháng nữa. Đa Cunha quả có viết thư ngay lập tức nhưng ông ta là Cha Bề trên và tự mình phải chịu trách nhiệm, phải đối phó ngay với thảm họa.

Tuy Dell’Aqua đã lên tàu đi ngay khi nhận được thư, với quốc thư được vội vã thu xếp giới thiệu ông là sứ thần của Phó vương ở Goa, ông cũng đã mất nhiều tháng mới tới được Macao, nhưng cũng chỉ để được biết là Đa Cunha đã chết, ông và tất cả các cha cố đều bị cấm không được vào Nhật Bản, nếu không sẽ bị xử tử.

Nhưng súng ống thì đã được gửi đi rồi.

Sau đó, mười tuần lễ, có tin là Giáo hội đã không bị xóa bỏ ở Nhật Bản. Taiko không thi hành các đạo luật mới của ông ta. Chỉ có khoảng năm chục nhà thờ bị thiêu hủy và Takayama bị đập tan. Có tin lọt ra là mặc dù chính thức mà nói, các sắc lệnh đó vẫn có hiệu lực, nhưng Taiko vẫn sẵn sàng để nguyên tình hình như cũ, miễn là các cha kín đáo hơn trong việc cải đạo. Con chiên mới cải đạo của họ phải tỏ ra kín đáo hơn và không thờ phụng hoặc biểu tình công khai quá lộ liễu và không được để đám tín đồ quá khích đốt các chùa Phật giáo.

Thế rồi, khi nỗi gian truân tưởng chừng chấm dứt thì Dell’Aqua nhớ lại là súng ống đã được gửi đến từ nhiều tuần trước, niêm phong bằng con dấu của Cha Bề trên Đa Cunha, vẫn nằm trong các nhà kho của dòng Temple ở Nagasaki.

Tiếp theo nhiều tuần lễ lo âu khắc khoải, cho đến khi súng ống được bí mật tuồn ra, đưa trở lại Macao… Phải, lần này thì niêm phong bằng dấu của ta, Dell’Aqua tự nhắc nhở mình, hy vọng bí mật này sẽ được chôn vùi mãi mãi. Nhưng những bí mật đó không bao giờ để cho ngươi được yên ổn, thanh thản, cho dù ngươi có mong mỏi hay cầu nguyện bao nhiêu đi nữa.

Hơn một tiếng đồng hồ, Đức cha Thanh tra ngồi không nhúc nhích trong chiếc ghế da có lưng tựa cao, mắt nhìn trừng trừng vào ngọn lửa mà chẳng thấy gì. Alvito kiên nhẫn đợi bên cạnh giá sách, hai bàn tay đặt trong lòng. Những tia nắng nhảy múa trên cây thập ác bằng bạc treo trên tường phía sau Đức cha Thanh tra. Trên bức tường bên là bức tranh sơn dầu nhỏ của họa sĩ Titian người Vơnidơ mà Dell’Aqua đã mua ở Pađua, hồi ông còn trẻ, nơi cha ông gửi ông đến học luật. Bức tường bên kia xếp hàng dãy kinh thánh và những cuốn sách của ông bằng tiếng Latin, Portugal, tiếng Ý và tiếng Spain. Và hai giá sách Nhật in bằng chiếc máy in kiểu di động, của Hội truyền giáo để ở Nagasaki, mà ông đã đặt mua rất tốn kém ở Goa, mười năm trước đây. Sách cầu kinh và đủ loại sách giáo lý kinh bổn vấn đáp, do các tu sĩ dòng Temple đã khó nhọc dịch ra tiếng Nhật. Những công trình phỏng dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Latin để cố gắng giúp đỡ các đạo hữu Nhật Bản học tiếng Latin. Và cuối cùng là hai cuốn sách vô giá, cuốn văn phạm Portugal – Nhật Bản đầu tiên, công trình cả một đời người của cha Sancho Alvarez, in cách đây sáu năm và cuốn kia là cuốn từ điển kỳ lạ Portugal – Latin – Nhật Bản, in năm ngoái kiểu chữ Roman bằng chữ viết Hiranaga. Cuốn này đã được khởi công theo lệnh của ông cách đây hai mươi năm, cuốn từ điển đầu tiên xưa nay chưa từng được biên soạn về các từ Nhật Bản.

Cha Alvito cầm cuốn sách lên, vuốt ve nó một cách trìu mến. Ông biết đây là một công trình nghệ thuật vô song. Suốt mười tám năm trời, ông đã bỏ công ra biên soạn một công trình như thế mà vẫn chưa biết bao giờ hoàn thành được. Nhưng công trình của ông sẽ là một cuốn từ điển có chú giải bổ sung và tỉ mỉ hơn nhiều – gần như một cuốn sách giới thiệu Nhật Bản và tiếng Nhật. Không một chút hợm mình, ông biết nếu ông hoàn thành được cuốn sách đó, nó sẽ là một kiệt tác so với công trình của cha Alvarez, nếu như tên tuổi ông được hậu thế nhớ đến thì sẽ là do cuốn sách của ông và vì Đức cha Thanh tra, người cha duy nhất ông biết từ xưa đến nay.

“Con muốn rời Portugal tham gia công việc phụng sự Chúa ư?” ông tu sĩ dòng Temple cao lớn như người khổng lồ đã hỏi ông ngay ngày đầu tiên, khi họ gặp nhau.

“Ồ, vâng, thưa Cha, vâng ạ”, ông đáp và ngẩng đầu lên nhìn ông ta với lòng khát khao mong ước ghê gớm.

“Con bao nhiêu tuổi?”

“Con không biết, thưa cha. Vâng, có lẽ con mười tuổi, có lẽ mười một. Nhưng con biết đọc biết viết, ông tu sĩ đã dạy con. Và con đơn côi, không có gia đình ruột thịt, con không thuộc về ai cả…”

Dell’Aqua đã đưa ông tới Goa rồi từ đó sang Nagasaki. Tại đây, ông vào trường Dòng của Hội truyền giáo dòng Temple; người Châu Âu trẻ tuổi nhất ở châu Á, cuối cùng đã có nơi có chốn. Rồi một điều kỳ diệu xảy ra: người ta phát hiện ông có năng khiếu ngoại ngữ và ông được giữ những chức vụ tin cẩn, làm thông ngôn và cố vấn thương mại. Thoạt tiên là cho Harima, Daimyo của lãnh địa Hizen tại Kiushu, ở đó có Nagasaki, rồi sau làm việc cho chính Taiko. Ông được phong chức linh mục, sau đó lại còn đạt tới đặc quyền của lời nguyền thứ tư. Đó là lời nguyền đặc biệt đứng trên những lời phát thệ bình thường về nghèo khổ, giới dục và phục tùng, chỉ dành riêng cho tầng lớp ưu tú trong các tu sĩ dòng Temple, lời nguyền phục tùng đích thân Giáo hoàng, làm công cụ riêng của Giáo hoàng để phụng sự Chúa – đi bất cứ đâu khi đích thân Giáo hoàng ra lệnh và làm bất cứ việc gì đích thân Giáo hoàng muốn, trở thành, như Loyola, người sáng lập dòng Temple, người quân nhân xứ Baxcơ, một trong những Regimini Militantis Ecclesiae, một trong những người lính đặc biệt, tự nguyện riêng của Chúa, phục vụ vị thống soái được chọn của Người trên trái đất, người đại diện của Đức KIto, là Giáo hoàng.

(kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác