Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 46

Người dịch: Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng

Ước gì ta có thể hỏi được, Mariko bối rối nghĩ thầm. Nhưng ta đã được lệnh không bàn đến bất cứ cái gì đã được nói, với bất cứ ai ngoài Kiri và Chúa công Toranaga của ta. Ta đã cầu Chúa và Đức Bà Đồng Trinh giúp đỡ, nhưng các Người không nói gì với ta. Ta chỉ biết rằng, từ khi ngươi đến đây, chẳng có gì khác ngoài những chuyện rắc rối. Ta chẳng có được gì khác ngoài những chuyện rắc rối…

“Nếu là tội lỗi như ông nói thì tại sao lại có nhiều tu sĩ của chúng tôi làm chuyện đó và luôn luôn làm chuyện đó? Một số giáo phái của đạo Bàlamôn thậm chí còn khuyến nghị nó như một hình thức thờ cúng. Chẳng phải lúc mây mưa là lúc người trần tới được gần thiên đường nhất đó sao? Tu sĩ không phải là những người xấu, không phải tất cả là xấu. Người ta biết một số cha chí thánh cũng thích cái kiểu chăn gối như thế. Họ có phải là người xấu không? Dĩ nhiên không phải! Tại sao họ lại phải tước bỏ một niềm vui thú bình thường nếu bị cấm không được gần phụ nữ? Nếu mọi chuyện liên quan đến việc ăn nằm với nhau là tội lỗi và bị Chúa nguyền rủa là nói nhảm!”

“Kê gian là một việc ghê tởm, chống lại mọi luật lệ! Bà cứ hỏi cha xưng tội của bà xem!”

Ông mới là kẻ đáng kinh tởm, chính ông, ông thuyền trưởng hoa tiêu ạ, Mariko những muốn hét lên. Làm sao ông dám tỏ ra thô lỗ như thế, và trẻ con đến thế! Ông bảo là chống lại Chúa ư? Thật vô lý! Có lẽ chống lại Chúa độc ác của ông thì có! Ông tự xưng là người Cơ đốc giáo nhưng rõ ràng không phải. Ông là kẻ lừa dối, kẻ lừa bịp. Có lẽ quả là ông có biết nhiều điều kỳ lạ, và đã từng đến những nơi kỳ lạ thật, nhưng ông không phải là người Cơ đốc giáo và đang nói những điều sàm báng. Phải chăng quỷ Satan phái ông đến? Tội lỗi ư? Thật lố bịch. Ông huyênh hoang về những chuyện bình thường và hành động như thằng điên. Ông làm các cha và Đại nhân Toranaga khó chịu. Ông gây ra xích mích giữa chúng tôi, quấy rối đức tin của chúng tôi, giày vò chúng tôi bằng những lời bóng gió ngấm ngầm về cái gì là đúng, cài gì không đúng… biết rằng chúng tôi không chứng minh ngay được cái gì là đúng.

Tôi muốn nói cho ông biết tôi khinh ghét ông và tất cả những tên man di mọi rợ. Phải, bọn man di mọi rợ đã ám ảnh tôi suốt cả cuộc đời. Chẳng phải chính chúng đã căm ghét cha tôi vì cha tôi không tin chúng và công khai thỉnh cầu Nhà độc tài Goroda đuổi chúng ra khỏi đất nước này đó sao? Chẳng phải bọn man di đã rót thuốc độc vào đầu óc Nhà độc tài khiến ông thù ghét cha tôi, viên tướng trung thành nhất của ông ta, người đã giúp đỡ ông ta còn nhiều hơn cả tướng Nakamura hay Đại nhân Toranaga đó sao? Chẳng phải bọn man di đã khiến cho Goroda sỉ nhục cha tôi, làm cho cha tôi phát điên, buộc ông phải làm cái không thể ngờ được và do đó gây ra tất cả mọi nỗi khổ cực của tôi đó sao?

Phải, chúng đã làm những việc đó và còn hơn thế nữa. Nhưng chúng cũng đã đem đến lời nói vô song của Chúa. Và trong những giờ phút đen tối, khi tôi được đưa từ nơi lưu đày ghê sợ trở về một cuộc sống còn ghê sợ hơn thế nữa, Đức cha Thanh tra đã chỉ ra cho tôi con đường, đã mở mắt cho tôi, cho tâm hồn tôi và rửa tội cho tôi. Đạo đã cho tôi sức mạnh để chịu đựng, làm cho tim tôi tràn đầy an bằng vô tận, giải thoát tôi khỏi sự dày vò liên miên và ban phước lành cho tôi với sự hứa hẹn sẽ được Vĩnh hằng cứu rỗi.

Vô luận chuyện gì xảy ra, ta vẫn trong tay Chúa. Ôi, lạy Đức Bà Đồng Trinh, hãy cho con an bằng và giúp con, đứa con tội lỗi đáng thương này chiến thắng được kẻ thù của Người.

“Tôi xin lỗi về sự khiếm nhã của tôi”, Mariko nói.

“Ông nổi giận là đúng. Tôi chỉ là một phụ nữ ngu dốt. Xin ông hãy kiên nhẫn và tha thứ cho sự xuẩn ngốc của tôi Anjin-san.”

Cơn giận của Blackthorne bắt đầu tiêu tan ngay lập tức. Làm sao một người đàn ông có thể tức giận lâu được một phụ nữ nếu bà ta công khai thừa nhận mình sai và anh ta đúng?

“Tôi cũng xin bà thứ lỗi cho, Mariko-san”, anh nói, hơi nguôi giận đi một chút.

“Nhưng đối với chúng tôi, sẽ là lời nhục mạ tệ hại nhất nếu ám chỉ một người rằng anh ta là đồ kê gian.”

“Vậy là ngươi vừa trẻ con, ngu ngốc cũng như hèn hạ, lỗ mãng và bất lịch sự.” Mariko tự nhủ, rồi bề ngoài tỏ ra ăn năn, nói:

“Tất nhiên là ông đúng rồi. Tôi không có ý gì xấu đối với ông, Anjin-san ạ. Xin ông hãy nhận những lời xin lỗi của tôi. Ồ, vâng”, nàng thở dài, giọng nói ngọt ngào, nhẹ nhàng đến mức ngay chồng nàng vào lúc xấu thói nhất có lẽ cũng phải dịu đi.”Ồ, vâng, hoàn toàn là lỗi tại tôi. Xin lỗi.”

*

* *

Mặt trời đã chạm đến chân trời, cha Alvito vẫn phải đợi ở phòng tiếp tân, những cuốn nhật ký hàng hải nặng trĩu trên tay.

Cái tên Blackthorne trời đánh! Ông nghĩ thầm.

Đây là lần đầu tiên Toranaga bắt Alvito đợi. Lần đầu tiên trong nhiều năm, ông phải đợi một Daimyo, thậm chí kể cả Taiko. Suất tám năm qua, dưới sự trị vì của Taiko, ông đã được ban một đặc quyền phi thường là bao giờ cũng được vào ngay, cũng như với Toranaga. Nhưng với Taiko thì đặc quyền đó ông đã giành được là nhờ ông nói thạo tiếng Nhật và sự sắc sảo nhạy bén của ông về kinh doanh buôn bán. Sự am hiểu của ông về những hoạt động bên trong của ngành thương mại quốc tế đã góp phần tích cực làm tăng thêm tài sản to lớn không thể tưởng tượng được của Taiko. Mặc dù Taiko gần như vô học, sự hiểu biết về ngoại ngữ của ông ta rất rộng và kiến thức chính trị của ông ta rất lớn. Cho nên Alvito đã sung sướng ngồi dưới chân vị chúa tể này để vừa dạy, vừa học và nếu như đó là ý Chúa, để cải đạo cho ông ta. Đó là nhiệm vụ cụ thể của Alvito và ông đã được Dell’Aqua huấn luyện tỉ mỉ để làm việc này. Dell’Aqua đã cung cấp những ông thầy thực hành giỏi nhất trong số các tu sĩ dòng Temple và thương nhân Portugal ở châu Á. Alvito trở thành người tâm phúc của Taiko, một trong bốn người – và ông là người ngoại quốc duy nhất, được xem tất cả các kho báu riêng của Taiko.

Trong vòng vài trăm bước là vọng lâu của lâu đài. Ngọn tháp bảy tầng cao sừng sững, được bảo vệ thêm bằng vô số tường, cửa và công sự. Ở tầng thứ tư, có bảy phòng, cửa bằng sắt. Mỗi phòng chứa đầy ắp vàng nén và hòm chứa đầy vàng. Ở tầng trên là các phòng chứa bạc, chật cứng bạc nén và hòm đựng tiền. Còn tầng trên nữa là lụa quý, đồ sứ quý, kiếm báu và giáp trụ quý – kho tàng của vương quốc.

Theo tính toán hiện nay của chúng ta, Alvito nghĩ, ít nhất là trị giá hơn năm mươi triệu đuca, hơn cả thu nhập một năm của toàn bộ đế quốc Spain, Portugal và Châu Âu cộng lại. Tài sản cá nhân về tiền bạc lớn nhất trên trái đất này.

Đó chẳng phải là phần thưởng lớn sao? Ông lập luận. Phải chăng ai nắm được lâu đài Osaka thì người đó sẽ chiếm được chỗ của cải ghê gớm kia? Và như vậy phải chăng tài sản ấy sẽ đem lại cho người đó quyền bính đối với đất nước? Chẳng phải đất nước này đã đổ máu để xây dựng lâu đài Osaka, làm cho nó trở thành bất khả xâm phạm, để bảo vệ kho tàng đó, giữ gìn nó cho đến lúc Yaemon trưởng thành?

Chỉ cần một phần trăm cái kho tàng này, chúng ta cũng có thể xây dựng được những nhà thờ lớn ở tất cả các thành phố, nhà thờ nhỏ ở tất cả các thị trấn, Hội truyền giáo ở tất cả các làng trên khắp đất nước này… Ước gì chúng ta có thể nắm được kho tàng đó để sử dụng cho vinh quang của Chúa!

Taiko vốn thích quyền bính. Và thích vàng vì nó đem lại quyền lực đối với mọi người. Kho tàng này là sự thu nhặt suốt mười sáu năm trời quyền bính độc tôn, không một ai dám tranh chấp, từ những tặng phẩm to lớn, bắt buộc mà tất cả các Daimyo, theo tục lệ, phải cống nộp hàng năm. Và từ các lãnh địa của ông ta, theo quyền chinh phục, bản thân Taiko sở hữu một phần tư toàn bộ đất đai. Thu nhập riêng của ông ta mỗi năm vượt quá một triệu Koku. Và do ông ta là chúa tể của toàn thể Nhật Bản với sự ủy nhiệm của Thiên Hoàng, cho nên về lý thuyết, ông ta sở hữu toàn bộ thu nhập của tất cả các lãnh địa. ông ta không đánh thuế một ai. Nhưng tất cả các Daimyo, Samurai, các nông dân, thợ thủ công, tất cả các thương nhân, bọn ăn trộm, những kẻ cầu bơ câu bất, những tên man di mọi rợ, thậm chí cả bọn eta đều tự nguyện đóng góp ở một mức độ lớn. Vì sự an toàn của bản thân họ.

Chừng nào tài sản đó và Osaka còn nguyên vẹn, Yaemon là người canh giữ de facto (trên thực tế), Alvito tự nhủ, khi đã khôn lớn, Yaemon sẽ trị vì, bất chấp Toranaga, Ishido, hay bất cứ ai.

Thật đáng tiếc là Taiko đã chết. Với tất cả những lỗi lầm của ông ta, chúng ta biết rõ con quỷ mà chúng ta phải giao dịch. Quả đáng tiếc là Goroda bị giết chết, vì ông ta là một người bạn thật sự đối với chúng ta. Nhưng ông ta chết rồi, cả Taiko cũng thế. Bây giờ chúng ta lại có những tên tà giáo mới cần phải khuất phục: Toranaga và Ishido.

Alvito nhớ lại cái đêm Taiko chết. Ông đã được Taiko mời đến thức đêm để trông nom. Alvito, cùng với Yodoko Sama, vợ của Taiko và phu nhân Ochiba, vợ thứ Taiko, mẹ đẻ của Thế tử… họ đã thức và chờ đợi rất lâu trong hương thơm của cái đêm hè bất tận đó.

Cảnh hấp hối bắt đầu, rồi cũng qua đi.

“Linh hồn Người đã ra đi. Lúc này Người ở trong tay Chúa”, ông nhẹ nhàng nói khi đã biết chắc. Ông làm dấu thánh và ban phước cho cái xác.

“Lạy Phật, hãy phù hộ độ trì cho Chúa công con, cho Chúa công con sớm đầu thai trở lại, để nắm lấy vương quốc trong tay một lần nữa”, Yodoko nói, nước mắt giàn giụa, lặng lẽ. Bà ta là một phụ nữ tốt, một Samurai quý tộc đã từng là người vợ chung thủy và cố vấn của Taiko suốt bốn mươi tư năm trong cuộc đời năm mươi chín tuổi của mình. Bà vuốt mắt chồng và sửa sang cho xác chết được tề chỉnh, đó là đặc quyền của bà. Bà buồn rầu cúi đầu ba lần rồi từ giã ông và phu nhân Ochiba.

Taiko chết nhẹ nhàng. Ông ta đã ốm kéo dài nhiều tháng và đêm nay có thể là đi hẳn.Cách đó vài tiếng đồng hồ, ông ta đã mở mắt ra, mỉm cười với Ochiba và Yodoko rồi thì thào, giọng mảnh như một.sợi chỉ :

“Hãy nghe đây, đây là bài thơ tuyệt mệnh của ta.”

Ta sinh ra như một hạtsương

Ta biến đi như một hạt sương

Lâu đài Osaka và tất cả những gì ta đã làm

Chỉ là một giấc mộng

Bên trong một giấc mộng.”

Một cái mỉm cười cuối cùng, rất dịu dàng của vị chúa tế, với mọi người và Alvito:

“Tất cả hãy trông nom con trai ta.” Rồi cặp mắt ấy mờ đi, mãi mãi.

Cha Alvito nhớ lại mình đã xúc động như thế nào vì bài thơ tuyệt mệnh đó, thật tiêu biểu cho Taiko. Vì được mời đến nên ông đã hi vọng rằng ở ngưỡng cửa cái chết, vị chúa tể của Nhật Bản sẽ mủi lòng và chấp nhận Đức tin và Lễ ban phước mà ông ta từng đùa bỡn nhiều lần. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra.

“Đại nhân đã mãi mãi mất đi vương quốc của Chúa, thật tội nghiệp!” Alvito buồn tàu lẩm bẩm, vì ông rất khâm phục Taiko như một thiên tài quân sự và chính trị.

“Nếu vương quốc của Chúa các ông ở cuối một con đường hẻm của bọn man di thì sao?” Phu nhân Ochiba hỏi.

“Cái gì ạ?” Ông không tin mình đã nghe đúng, trong lòng phẫn nộ vì thái độ đầy ác ý bất ngờ của bà ta. Ông biết Ochiba gần mười hai năm nay, từ khi bà mới mười lăm tuổi, khi Taiko lấy bà ta làm vợ lẽ. Bà ta luôn luôn tỏ ra ngoan ngoãn, khúm núm, ít nói, lúc nào cũng dịu dàng mỉm cười và tỏ ra vui vẻ. Thế mà lúc này…

“Tôi nói rằng nếu vương quốc của Chúa các ông nằm trong một ngõ hẻm của dân man di thì sao?”

“Cầu Chúa tha thứ cho bà? Chúa công bà mới chết chưa được bao lâu…”

“Đại nhân Chúa công tôi đã chết, cho nên ảnh hưởng của ông đối với Đại nhân cũng hết, neh? Đại nhân muốn có ông ở đây, tốt thôi, đó là quyền của Người. Nhưng bây giờ, Đại nhân đi vào cõi Hư vô rồi, không còn chỉ huy và ra lệnh nữa. Bây giờ chỉ huy ra lệnh là tôi. Ông tu sĩ, ông hôi lắm, ông luôn luôn hôi hám, và mùi hôi hám của ông làm ô uế không khí. Thôi, ông hãy rời khỏi lâu đài của tôi và để chúng tôi được yên với nỗi đau thương của mình.”

Ánh nến lạnh lẽo chập chờn trên gương mặt bà ta. Bà ta là một trong những phụ nữ đẹp nhất nước. Bất giác Alvito làm dấu thánh giá chống lại sự độc ác của bà ta. Tiếng cười của Ochiba lạnh rợn người.

“Cút đi, ông tu sĩ và đừng bao giờ trở lại nữa. Ông chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu!”

“Không, cũng như bà thôi! Tôi nằm trong tay Chúa, thưa phu nhân. Tốt hơn hết là phu nhân nên quan tâm đến Người, phu nhân sẽ có được sự Cứu rỗi vĩnh hằng nếu phu nhân tin tưởng.”

“Cái gì? Ông mà ở trong tay Chúa ư? Chúa Cơ đốc giáo, neh? Có lẽ là như vậy mà cũng có thể không phải vậy. Tu sĩ, ông sẽ làm gì nếu khi ông chết, ông phát hiện ra là chẳng có Chúa gì cả cũng như không có địa ngục và Cứu rỗi vĩnh hằng của ông chỉ là một giấc mộng trong một giấc mộng?”

“Tôi tin! Tôi tin ở Chúa trời, tin ở sự phục sinh và ở Thánh linh!”, ông nói to.” Những hứa hẹn của Cơ đốc giáo là thật. Thật, thật… tôi tin!”

*

“Nanja, Tsukku-san?”

Một hồi lâu, Alvito chỉ nghe thấy tiếng Nhật và nó chẳng có nghĩa gì với ông cả.

Toranaga đang đứng ở ngưỡng cửa, vây quanh ông ta là các vệ sĩ.

Cha Alvito cúi chào, tự trấn tĩnh lại, mồ hôi ròng ròng trên lưng và trên mặt

“Tôi xin lỗi vì đã đến mà không được mời. Tôi… tôi đang mơ màng giữa ban ngày. Tôi đang nhớ lại tôi có hạnh vận chứng kiến nhiều chuyện ở Nhật Bản đây. Toàn bộ cuộc đời tôi hình như đã là ở đây chứ không phải ở một nơi nào khác.”

“Đó là cái may cho chúng tôi, Tsukku-san.”

Toranaga mệt mỏi bước tới cái bục, ngồi lên một chiếc đệm thường. Bọn vệ sĩ lặng lẽ dàn thành một bức bình phong bảo vệ.

“Ông đến đây vào năm thứ ba của Tenso, có phải không?”

“Không ạ, thưa Chúa thượng, năm thứ tư ạ. Năm chuột”, Alvito đáp, dùng cách tính của người Nhật mà ông phải mất nhiều tháng mới hiểu được. Tất cả các năm đều được bắt đầu tính từ một năm nhất định do Thiên Hoàng đang trị vì chọn ra. Một tai họa hoặc một sự may mắn bất ngờ có thể chấm dứt hoặc mở đầu một kỷ nguyên tuỳ theo ý thích của Thiên Hoàng. Các nhà học giả được lệnh chọn tên một điềm đặc biệt lành trong các sách cổ Trung Hoa để đặt cho kỷ nguyên mới, kỷ nguyên này có thể kéo dài một năm hay năm mươi năm, Tenso có nghĩa là

“Thiên đạo.” Năm trước là năm có sóng triều lớn, hai trăm người chết. Mỗi năm được đặt một con số và một tên, theo thứ tự như các giờ trong một ngày: mão, thìn, tị, ngọ,mùi,thân,dậu, tuất,hợi,tý,sửu và dần. Năm thứ nhất của Tenso rơi vào năm dậu, vì thế năm 1576 là năm tý, năm thứ tư của Tenso.
(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác