Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel (Anh) – Kì 65

Ngừơi dịch: Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng
Blackthorne quyết định không nói gì về dịch hạch hoặc những cuộc bạo động, những vụ nổi loạn gây nổ bởi việc rào kín các đất công và sự di cư của nông dân ra thành phố, thị trấn. Anh chỉ nói về các ông vua, các nữ hoàng tốt, những lãnh tụ vững vàng, sáng suốt, những nghị viện khôn ngoan và những cuộc chiến tranh thắng lợi.

“Đại nhân Toranaga muốn hoàn toàn rõ ràng. Ông cho rằng chỉ có sức mạnh của hải quân mới bảo vệ được đất nước ông chống lại Spain và Portugal, có phải không?”

“Vâng. Chỉ có hải quân thôi. Làm chủ mặt biển của chúng tôi, giữ cho chúng tôi được tự do. Nước các vị cũng là đảo như chúng tôi, không làm chủ được các biển của các vị, phải chăng các vị cũng sẽ không chống chọi được một kẻ thù từ bên ngoài?”

“Chúa công tôi đồng ý với ông.”

“A, nước này cũng đã từng bị xâm lăng ư?” Blackthorne thấy Toranaga thoáng cau mày khi Mariko quay lại dịch cho ông ta và anh tự nhắc nhở mình phải tự giới hạn vào các câu trả lời, không đặt câu hỏi.

Khi Mariko quay lại nói với anh, nét mặt nàng có vẻ trang nghiêm hơn.

“Đại nhân Toranaga bảo tôi phải trả lời câu hỏi của ông. Anjin-san. Vâng, chúng tôi đã bị xâm lăng hai lần. Cách đây hơn ba trăm năm… có lẽ là năm 1274 theo cách tính của các ông… quân Mông Cổ của Kulilai Khan vừa mới chinh phục Trung Hoa và Triều Tiên đã tiến hành đánh chúng tôi khi chúng tôi khước từ không chịu thuần phục chúng. Vài nghìn quân Mông Cổ đã đổ bộ lên Kyushu nhưng các Samurai của chúng tôi đã cầm chân được chúng và được ít lâu, chúng rút lui. Nhưng bảy năm sau, chúng quay trở lại. Lần này, có đến gần một nghìn chiến thuyền Trung Hoa và Triều Tiên với hai trăm nghìn quân Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên… đa số là kị binh. Trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa, đây là lực lượng đi xâm lăng lớn nhất. Chúng tôi bất lực trước một sức mạnh áp đảo như thế, Anjin-san. Chúng lại đổ bộ ở vịnh Hakata ở đảo Kyushu nhưng chưa kịp triển khai các đội quân của chúng thì một trận tai phun từ phía Nam thổi tới phá hủy hạm đội địch và tất cả những gì có trên chiến thuyền. Bọn còn sống sót trên bờ nhanh chóng bị tiêu diệt. Đó là một

“Kanikazi, thần phong”, Mariko nói với một giọng hoàn toàn tin tưởng,

“Một Kannikazi do thánh thần đưa tới để bảo vệ đất nước của thánh thần chống lại bọn ngoại xâm. Quân Mông Cổ không bao giờ trở lại nữa và khoảng tám mươi năm sau đó triều đại của chúng, nhà Nguyên, đã bị đánh bật ra khỏi Trung Hoa.” Mariko nói thêm vẻ mặt rất hoan hỉ.

“Thánh thần đã phù hộ chúng tôi chống xâm lăng. Xét cho cùng đây là đất của các thánh thần, neh?”

Blackthorne nghĩ tới những con số ghê gớm về thuyền bè, về số người trong cuộc xâm lăng đó. Đem so ra thì hạm đội Armada của Spain đánh England có vẻ chẳng nghĩa lý gì.

“Thưa senhorra, chúng tôi cũng được một trận bão cứu giúp”, anh nói cũng rất nghiêm túc.

“Nhiều người tin rằng đó là do Chúa Trời sai khiến… chắc chắn đó là một việc thần kỳ và biết đâu đấy, có lẽ Chúa Trời làm thế cũng nên.” Anh liếc nhìn lò than khi một cục than nổ lép bép, ánh lửa chập chờn. Rồi anh nói:

“Quân Mông Cổ hầu như đã nuốt chửng chúng tôi ở Châu Âu”, anh kể lại lũ rợ của Gengit Khan, người ông của Kulilai Khan, đã gần tới cửa ngõ cửa thành Viên như thế nào trước khi cuộc xung phong bị dừng lại rồi chúng phải rút lui, đi đến đâu để lại ở đấy hàng núi xương.

“Người thời đó tin rằng Gengit Khan và quân sĩ của hắn là do Chúa Trời phái xuống để trừng phạt tội lỗi thiên hạ.”

“Đại nhân Toranaga nói Gengit Khan là một tên man di rất giỏi về chiến tranh.”

“Vâng, dù vậy, ở Anh chúng tôi cũng tạ ơn Trời cho chúng tôi có may mắn là một hòn đảo. Chúng tôi cảm tạ Chúa Trời và eo biển Măngsơ và hải quân của chúng tôi. Với Trung Hoa kề ngay bên cạnh, lại hùng mạnh như thế…giữa nước các vị và Trung Hoa lại có chiến tranh, tôi thật ngạc nhiên thấy các vị không có hải quân lớn mạnh. Các vị không sợ một cuộc tiến công khác xảy ra sao?”

Mariko không trả lời, và dịch lại cho Toranaga. Khi nàng dịch xong, Toranaga nói với Yabu, Yabu gật đầu và trả lời lại vẻ mặt cũng nghiêm trọng. Hai người nói chuyện với nhau một lúc, Mariko trả lời một câu hỏi của Toranaga rồi lại nói với Blackthorne.

“Muốn làm chủ mặt biển, thưa Anjin-san, các ông cần có bao nhiêu chiến thuyền?”

“Tôi không biết đích xác nhưng lúc này Nữ hoàng của chúng tôi có lẽ có khoảng một trăm năm mươi chiến thuyền chính qui. Đó là những thuyền được đóng để chỉ dùng cho chiến tranh.”

“Chúa công tôi hỏi, mỗi năm Nữ hoàng của ông đóng được bao nhiêu chiến thuyền.”

“Hai mươi đến ba mươi chiến thuyền, những chiến thuyền tốt nhất và nhanh nhất thế giới. Những chiến thuyền, thường do các nhóm thương gia tư nhân đóng rồi bán lại cho triều đình.”

“Để lấy lãi?”

Blackthorne nhớ lại quan niệm của Samurai về lãi và tiền.

“Nữ hoàng trả tiền rất rộng rãi, nhiều hơn giá thành của thuyền, để khuyến khích nghiên cứu những cách đóng thuyền mới. Không có sự giúp đỡ che chở của Nữ hoàng thì việc đó hầu như không thể làm được. Chẳng hạn chiến thuyền Erasmus của tôi là thuộc loại mới, do người Anh thiết kế và đóng ở Hà lan, sau lại được cấp giấy phép ở đó.”

“Ông có thể đống được những thuyền như thế ở đây không?”

“Được. Nếu tôi có thợ mộc, thông ngôn, tất cả vật liệu và thời gian. Trước hết tôi sẽ phải đóng một chiếc thuyền nhỏ đã, tôi chưa bao giờ tự mình đóng hoàn toàn một chiếc thuyền cho nên cần phải thử nghiệm…”

“Dĩ nhiên”, anh nói thêm, cố kiềm chế sự kích động đang dâng lên trong lòng với dự kiến này,

“Dĩ nhiên nếu Đại nhân Toranaga muốn có một hay nhiều chiến thuyền, có lẽ có thể thu xếp được một sự mua bán. Có lẽ Đại nhân sẽ đặt đóng một số chiến thuyền ở Anh. Rồi chúng tôi có thể đưa chúng sang đây… được trang bị như Đại nhân muốn, được vũ trang như Đại nhân muốn!”

Mariko dịch. Sự chú ý của Toranaga càng tăng thêm. Cả Yabu nữa.

“Đại nhân hỏi, thủy thủ của chúng tôi có thể học để điều khiển những chiến thuyền đó được không?”

“Được chứ, nếu có thời gian. Chúng tôi có thể thu xếp để cho những ông thầy về thuyền buồm, hoặc một thôi, ở lại đây một năm. Ông ta sẽ vạch ra một chương trình huấn luyện. Chỉ vài năm là Đại nhân sẽ có hải quân riêng của mình. Một hạm đội hiện đại, không thua kém bất cứ hạm đội nào.”

Mariko nói một lúc lâu. Toranaga hỏi nàng rất kỹ, cả Yabu cũng vậy.

“Yabu-san hỏi, không thua kém một hạm đội nào?”

“Vâng. Hơn hẳn nhưng gì người Spain có được hoặc người Portugal…”

Im lặng kéo dài. Rõ ràng Toranaga bị lôi cuốn vào chuyện này, tuy cố giấu.

“Chúa công tôi hỏi, ông có tin chắc là thu xếp được không?”

“Chắc.”

“Sẽ mất bao lâu?”

“Tôi sẽ mất hai năm để trở về nước. Hai năm để đóng tàu một chiếc hoặc nhiều chiếc. Hai năm để trở lại đây. Tiền phải trả một nửa trước, còn lại thì trả khi giao tàu.”

Toranaga tư lự cúi xuống, đưa mấy mảnh gỗ thơm vào lò. Mọi người đều nhìn ông ta và chờ đợi, ông ta nói chuyện với Yabu một hơi lâu. Mariko không dịch và Blackthorne biết không nên hỏi, mặc dù anh rất muốn tham gia vào câu chuyện. Anh quan sát họ, kể cả Fujiko, cô ta cũng đang chăm chú lắng nghe, nhưng anh không biết được tí gì qua vẻ mặt của họ. Anh hiểu đây là một ý kiến rất hay có thể đem lại lời lãi rất lớn và đảm bảo cho anh được an toàn trở về Anh.

“Anjin-san, ông có thể chỉ huy được bao nhiêu thuyền?”

“Một hạm đội nhỏ, năm thuyền là tốt nhất. Có thể mất đi một chiếc vì bão táp, gió to sóng lớn hoặc vì bọn Portugal can thiệp… Tôi tin chắc chúng sẽ ra sức tìm mọi cách… để ngăn trở Đại nhân có được chiến thuyền. Trong mười năm, Đại nhân Toranaga có thể có được lực lượng hải quân từ mười lăm đến hai mươi chiến thuyền.” Anh để Mariko dịch xong, rồi thong thả nói tiếp:

“Hạm đội đầu tiên có thể đem đến cho Đại nhân nhiều thợ mộc bậc thầy, thợ đóng tàu, pháo thủ, thủy thủ và thuyền trưởng. Trong vòng mười, mười lăm lăm, England có thể cung cấp cho Đại nhân Toranaga ba mươi chiến thuyền hiện đại, thừa sức để làm chủ hải phận của Nhật Bản. Và đến lúc đó, nếu muốn, Đại nhân rất có thể cho đóng tàu thay thế ngay tại đây. Chúng tôi sẽ…” Anh định nói

“Bán” nhưng thay đổi từ đó.

“Nữ hoàng của chúng tôi sẽ lấy làm vinh dự được giúp Đại nhân thành lập hải quân của Đại nhân, vâng, nếu Đại nhân muốn, chúng tôi sẽ giúp huấn luyện và tiếp tế cho hạm đội của Đại nhân.”

Đúng, anh phấn khởi thầm nghĩ, khi sắp đặt xong sự tô điểm cuối cùng cho kế hoạch, chúng ta sẽ cung cấp sĩ quan chỉ huy và Đô đốc cho hạm đội đó, và Nữ hoàng sẽ nghị một liên minh chặt chẽ – tốt cho các ông và tốt cho chúng tôi – cái đó cũng sẽ là một phần của sự trao đổi, rồi ông bạn Toranaga ơi, chúng ta sẽ cùng nhau đánh đuổi bọn chó Spain và Portugal ra khỏi những vùng này để chiếm lĩnh những biển này mãi mãi. Đây có thể sẽ là hiệp ước mậu dịch lớn nhất chưa quốc gia nào từng ký kết. Anh vui sướng thầm nghĩ. Với một hạm đội Anh – Nhật quét sạch cả vùng này, người Anh chúng ta sẽ thống trị việc buôn bán tơ lụa Nhật Pủn – Trung Hoa. Mỗi năm sẽ là bạc triệu!

Nếu ta có thể hoàn thành được việc này, ta sẽ xoay chuyển cả lịch sử. Ta sẽ giầu, ta sẽ được danh giá qua mọi mơ ước của ta. Ta sẽ trở thành người sáng lập ra một dòng họ mới và đó chính là cái tốt đẹp nhất một con người có thể cố gắng thực hiện ngay dù cho cố gắng đó có thất bại đi nữa.

“Chúa công tôi nói thật rất tiếc là ông không nói được tiếng Nhật.”

“Vâng, nhưng tôi tin chắc là bà dịch rất hoàn hảo.”

“Đại nhân nói vậy không phải có ý chê trách tôi, Anjin-san, mà chỉ là nhận xét vậy thôi. Đúng thế. Nếu Đại nhân nói chuyện trực tiếp được với ông như tôi thì tốt hơn rất nhiều.”

“Mariko-san, ở đây có từ điển nào không? Và sách dạy văn phạm Portugal-Nhật Bản hoặc Latin-Nhật Bản? Nếu Đại nhân Toranaga có thể giúp tôi có được những sách đó và thầy dạy, tôi sẽ cố gắng học tiếng Nhật.”

“Chúng tôi không có những sách đó.”

“Nhưng các tu sĩ dòng Temple có. Chính bà đã nói vậy.”

“À.” Nàng nói với Toranaga và Blackthorne, thấy mắt Toranaga và Yabu đều sáng lên, một nụ cười mở rộng trên gương mặt họ.

“Chúa công tôi nói là sẽ giúp ông, Anjin-san.”

Theo lệnh của Toranaga, Fujiko mời Blackthorne và Yabu uống sake nữa. Toranaga chỉ uống trà, cũng như Mariko. Không nhịn được nữa, Blackthorne hỏi:

“Đại nhân nói gì về gợi ý của tôi? Đại nhân trả lời thế nào?”

“Anjin-san, nên kiên nhẫn thì tốt hơn. Đại nhân sẽ trả lời vào lúc Đại nhân định.”

“Xin bà hãy hỏi hộ ngay bây giờ.”

Mariko miễn cưỡng quay về phía Toranaga:

“Thưa Chúa công, xin Chúa công thứ lỗi, nhưng Anjin-san rất lễ phép xin hỏi chúa công nghĩ gì về kế hoạch của ông ta? Ông ta rất kính cẩn xin được trả lời.”

“Hắn sẽ được trả lời vào lúc cần thiết.”

Mariko nói với Blackthorne:

“Chúa công tôi nói sẽ xem xét kế hoạch của ông và suy nghĩ thận trọng về những điều ông nói. Đại nhân đề nghị ông hãy kiên nhẫn.”

“Domo, Toranaga-san.”

“Bây giờ ta đi ngủ thôi. Sớm mai sẽ rời khỏi đây.”

Toranaga đứng dậy. Mọi người làm theo, trừ Blackthorne. Họ để Blackthorne ngồi lại với đêm tối.

*

* *

Trời vừa mới sáng, Toranaga thả bốn con chim bồ câu đưa thư đã được đưa tới thuyền cùng với hành lý khi chuẩn bị thuyền. Bốn con chim lượn hai vòng, rồi bay đi, hai con về Osaka, hai con đi Yedo. Thư mật mã gửi Kiritsubo là một mệnh lệnh để chuyển cho Hiromatsu yêu cầu tất cả bọn họ phải cố gắng đi khỏi đó ngay lập tức, một cách hòa bình. Nếu bị ngăn cản thì phải đóng chặt các cửa lại cố thủ. Nếu bên kia phá cửa vào thì ngay tức khắc phải nổi lửa thiêu hủy phần đó của lâu đài và làm seppuku.

Thư mật mã gửi cho con trai Toranaga là Sudara , ở Yedo nói rằng Toranaga đã trốn thoát, bình an vô sự và ra lệnh cho Sudara tiếp tục bí mật chuẩn bị chiến tranh.

“Ra khơi, ông thuyền trưởng.”

“Vâng ạ, thưa Đại nhân.”

Đến trưa thì họ vượt qua vịnh giữa hai tỉnh Totomi và Izu tới ngoài khơi mũi Ito, điểm cực Nam của bán đảo Izu. Gió thuận, sóng nhẹ và chỉ riêng buồm chính cũng đủ giúp họ vượt qua đoạn này.

Thế rồi, chiếc galleon khi chạy sát bờ trong một eo biển, hẹp giữa đất liền và vài hòn đảo nhỏ toàn đá lô nhô, đang quay về phía Bắc thì có tiếng ầm ầm ghê sợ trên bờ.

Mọi mái chèo dừng cả lại.

“Lạy Chúa, cái gì…” mắt Blackthorne như gắn chặt lấy bờ.

Đột nhiên một vết nứt khổng lồ ngoằn ngoèo bò trên mặt vách đá và hàng triệu tấn đá đổ ầm ầm xuống biển. Nước sôi lên sùng sục. Một con sóng nhỏ chạy tới galleon rồi vượt qua. Trận lở đá chấm dứt. Lại có tiếng ầm ầm, lần này sâu hơn và gầm gừ hơn nhưng ở xa xa. Đá lại lả tả từ trên vách đá lăn xuống. Mọi người đều căng thẳng lắng nghe và chờ đợi, mắt chăm chăm nhìn vách đá. Chỉ có tiếng sóng biển, tiếng sóng vỗ, tiếng gió thổi. Toranaga ra hiệu cho tên phụ trách trống, tên này liền nổi trống lên. Các mái chèo lại hoạt động. Cuộc sống trên galleon trở lại bình thường.

“Cái gì thế?” Blackthorne hỏi.

“Chỉ là một trận động đất nhỏ thôi.” Mariko có vẻ phân vân.”Ở nước ông không có động đất à?”

“Không, không bao giờ. Trước đây tôi chưa bao giờ thấy động đất.”

“Ồ, ở đây xảy ra luôn, Anjin-san. Trận này chẳng là gì cả, nhỏ thôi. Trung tâm chấn động có lẽ ở nơi khác, có thể là ngoài biển. Hoặc có thể đây chỉ là một trận động đất nhỏ ở nơi này, và chỉ có thể thôi. Ông gặp may đấy, được chứng kiến một trận động đất nhỏ.”

“Cứ như là cả quả đất này rung chuyển. Tôi dám chắc là đã thấy… Tôi đã nghe nói về động đất. Ở vùng đất thánh và dân Ottoman đôi khi cũng gặp động đất. Lạy Chúa!” Anh thở hắt ra, tim vẫn đập thình thịch

“Tôi dám chắc là đã trông thấy cả cái vách đá kia rung chuyển.”

“Ồ đúng thế, Anjin-san. Nếu ở trên đất liền thì cảm giác rất kinh khủng, kinh khủng nhất trên đời. Chẳng có gì báo trước cả, Anjin-san. Động đất đều từng đợt, khi thì rung chuyển một bên, khi thì nhồi lên nhồi xuống, khi thì rung chuyển ba bốn lần liền rất nhanh. Đôi khi là một trận động đất nhỏ, tiếp theo là một trận động đất lớn hơn vào ngày hôm sau. Chẳng có khuôn mẫu nào cả. Trận động đất tệ hại nhất tôi đã gặp là xảy ra ban đêm, cách đây sáu năm, gần Osaka, ngày mồng ba tháng Lá rụng. Nhà chúng tôi đổ sụp, Anjin-san ạ. Con trai tôi và tôi, chúng tôi không việc gì. Chúng tôi phải tự đào bới lấy để chui ra. Đất rung chuyển tiếp tục một tuần lễ, có lẽ hơn nữa. Khi thì nhanh, khi thì rất nhanh. Lâu đài lớn, mới xây của Taiko ở Phujini hoàn toàn bị phá hủy. Hàng trăm ngàn người mất tích trong trận động đất đó và trong những đám cháy. Bao giờ sau động đất cũng có hỏa hoạn. Các thành phố và thị trấn của chúng tôi, các làng mạc biến mất rất dễ dàng. Đôi khi có một trận động đất mạnh ở tít ngoài biển và theo truyền thuyết, đó là nguyên nhân gây ra những đợt sóng thần, cao hàng mười, hai mươi bộ. Chẳng bao giờ có gì báo trước và cũng chẳng có mùa. Cứ đột nhiên một ngọn sóng thần từ ngoài biển khơi đổ tới, cuốn đi tất cả trên đất liền. Thành phố cũng có thể biến mất. Cách đây vài năm. Yedo đã bị phá hủy một nữa vì một trận sóng thần như thế.”

“Đối với người ở đây như thế là bình thường ư? Năm nào cũng có sao?”

“Ồ, vâng. Trên mảnh đất của thánh thần này, năm nào chúng tôi cũng có động đất. Rồi hỏa hoạn, rồi lũ lụt, rồi sóng thần, rồi những trận bão khủng khiếp, tai phun thiên nhiên đối với chúng tôi rất khắc nghiệt.” Nước nước mắt rưng rưng ở khóe mắt Mariko.

“Có lẽ vì thế mà chúng tôi yêu cuộc sống thiết tha đến thế, Anjin-san. Ông thấy đấy, chúng tôi buộc phải yêu cuộc sống. Cái chết là một bộ phận cấu thành không khí, biển cả và đất đai của chúng tôi. Anjin-san, ông nên biết rằng trên mảnh đất của Đất của Nước mắt này, có cái chết là di sản chúng tôi thừa kế.”

(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác