Shogun Tướng quân- Tiểu thuyêt của James Clavel (Anh) – Kì 1

VHP: Để hiểu rõ thêm về đất nước, lịch sử cũng như con người Nhật Bản – một quốc gia đang là người bạn thân thiết của người Việt Nam chúng ta, từ hôm nay VHP sẽ đăng tải tác phẩm Shogun Tướng quân do tác giả James Clavell viết ra. Ông là nhà văn Mỹ chuyên viết về Trung Quốc và Nhật Bản. Các tác phẩm của ông như Taipan,Vua Chuột (King Rat), Ngôi nhà cao quí (Noble House)…đã dựng nên cả một giai đoạn lịch sử quan trọng và đầy biến động của những đất nước này.

Tiểu thuyết Shogun được tái bản gần 30 lần bằng tiếng Anh, với số lượng kỷ lục, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được dựng thành phim (Năm 1980, với diễn viên chính là tài tử lừng danh Richard Chamberlain). Nhiều nhà phê bình văn học trên thế giới cho Shogun là một bộ tiểu thuyết quan trọng ngang với Cuốn theo chiều gió.
Người dịch : Ngô Vĩnh Viễn & Bùi Phụng
Shogun (Tướng Quân) về danh nghĩa là người có chức vụ thứ hai trong triều đình, sau Nhật Hoàng, nhưng trên thực tế là người giữ toàn bộ quyền hành, tổng chỉ huy các lực lượng quân sự, nắm tất cả các nguồn kinh tế, tài chính đất nước.

Tiểu thuyết Shogun là một bức tranh toàn cảnh, sinh động và hấp dẫn, về nước Nhật Bản phong kiến: đất nước, con người, tập quán, phong tục, cách suy nghĩ, hành động… Đặc biệt, tất cả đều được nhìn bằng con mắt sắc sảo, lạ lẫm của một người Anh, qua đó làm nổi lên sự khác biệt giữa phương Tây và phương Đông không chỉ đối với các sự vật và sinh hoạt đời thường, mà cả những khái niệm triết học cơ bản, như về thời gian, sự sống, cái chết…

SHOGUN – TẬP 1

CHƯƠNG 01

Blackthorne đột nhiên tỉnh dậy. Trong một giây lát, anh tưởng mình đang nằm mơ vì anh đang ở trên bờ và căn phòng anh nằm không thể nào tin được. Nó nhỏ, rất sạch và trải bằng chiếu mềm, anh đang nằm trên một chiếc chăn dày và một chiếc khác đắp qua người. Trần nhà bằng gỗ tuyết tùng nhẵn bóng, tường là những lát gỗ tuyết tùng vuông , phủ bằng giấy mờ để làm nhạt ánh sáng một cách dễ chịu. Bên cạnh anh, một chiếc khay màu đỏ thắm để những chiếc bát nhỏ. Một bát đựng rau luộc, anh ăn ngấu nghiến, hầu như không để ý đến cái vị cay của nó. Bát kia đựng canh cá và anh cũng húp cạn luôn. Một bát nữa đựng đầy cháo bột mỳ hay lúa mạch đặc quánh và anh cũng kết thúc nó nhanh chóng bằng cách ăn bốc. Nước ở trong cái bầu hình thù kỳ quặc, ấm và có vị là lạ, hơi đắng nhưng thơm.
Rồi anh để ý cây thánh giá đặt trong hốc tường.
“Nhà của người Spain hay Portugal?”

(Spain: Tây Ban Nha, Portugal: Bồ Đào Nha)

Anh suy nghĩ, kinh hoàng.

“Của người Nhật hay Cathay?”

(Cathay: tên cổ để gọi người Trung Quốc)

Tấm cửa lùa bằng gỗ trên tường được kéo ra. Một người đàn bà trung niên, to béo, mặt tròn, quỳ gối bên cửa, bà cúi chào và mỉm cười. Nước da bà màu vàng, đôi mắt đen và hẹp, mớ tóc đen dài của bà búi gọn ghẽ trên đầu Bà ta mặc chiếc áo dài lụa màu xám, đi tất trắng ngắn, đế dày, một băng vải màu tím quấn quanh lưng.

“GoshujinSama, gokibun waikaga desu ka?”

bà ta nói. Bà ta đợi trong khi anh ngó ngơ ngác, rồi nhắc lại.

“Đây là người Nhật?” anh hỏi.

“Người Nhật hay Cathay?”

Bà ta nhìn anh không hiểu và cũng nói một câu gì khác anh không hiểu. Rồi anh nhận ra mình trần truồng. Quần áo của anh không thấy đâu. Bằng ngôn ngữ cử chỉ, anh ra hiệu muốn mặc quần áo. Rồi anh chỉ vào những bát thức ăn, bà ta hiểu anh vẫn còn đói.

Bà ta mỉm cười, cúi chào và kéo cánh cửa lại.

Anh nằm xuống, kiệt sức. Sự bất động khó chịu nôn nao của sàn nhà làm đầu óc anh quay cuồng. Anh cố gắng hồi tưởng lại. Mình nhớ là đã đưa neo ra cho Vinck. Mình nghĩ đúng là Vinck. Bọn mình đang ở trong vịnh, con tàu húc mũi vào một vũng nước cạn và dừng lại. Bọn mình có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ nhưng mọi sự đều yên ổn. Có ánh đèn trên bờ, rồi mình ở trong ca bin và đêm tối. Mình không nhớ gì hết. Rồi có ánh đèn xuyên qua màn đêm và những tiếng nói lạ. Mình nói tiếng Anh, rồi tiếng Bồ. Một người dân sở tại nói một ít tiếng Bồ. Hay anh ta là người Portugal nhỉ? Không, mình nghĩ anh ta là dân sở tại. Không biết mình có hỏi anh ta mình ở đâu không nhỉ? Mình không nhớ. Rồi bọn mình lại trở lại vũng nước, một đợt sóng lớn xô lên , mình bị cuốn ra biển và chìm – lạnh buốt – không, biển ấm và giống một chiếc giường lụa dày chừng hai mét. Chắc họ khiêng mình lên bờ và để mình ở đây.

“Hẳn nó là cái giường này đây, mềm và ấm đến thế”, anh nói to

“Trước đây mình chưa bao giờ ngủ trên lụa.” Sự yếu đuối trùm lên anh và anh ngủ thẳng một mạch không mộng mị.

Khi thức dậy, có nhiều thức ăn hơn trong những chiếc bát sành và quần áo của anh xếp gọn ghẽ bên cạnh. Chúng đã được giặt, là và được vá bằng những đường khâu nhỏ thẳng tắp.

Nhưng dao của anh không còn và cả chùm chìa khóa nữa.

Mình phải kiếm ngay một con dao, anh nghĩ – hoặc một khẩu súng.

Mắt anh nhìn lên cây thánh giá. Mặc dù đang kinh hãi, sự kích động của anh dồn lên. Suốt đời mình, anh đã nghe nói đến những huyền thoại do những hoa tiêu và những thủy thủ kể về sự giàu có không thể tưởng tượng được của vương quốc bí mật Portugal ở phương Đông. Người ta đã cải đạo, làm cho những người ngoại đạo đi theo công giáo, điều khiển, khống chế họ. Ở đây vàng rẻ như gang, ngọc lục bảo, hồng thạch, kim cương, sa phia nhiều như sỏi trên bờ biển.

Nếu cái chuyện công giáo mà đúng, anh tự nhủ, thì có lẽ những chuyện còn lại cũng đúng. Về sự giàu có ấy. Đúng. Nhưng mình được vũ trang và được quay về tàu Erasmus, đứng sau khẩu pháo của nó sớm chừng nào tốt chừng ấy.

Anh ăn ngấu nghiến , mặc quần áo, đứng lắc lư, thấy mình lạc lõng như anh luôn cảm thấy khi ở trên bờ. Đôi ủng của anh đã mất. Anh đi ra cửa, người hơi lảo đảo, một tay đưa ra phía trước để giữ thăng bằng, nhưng những thanh gỗ vuông mỏng không chịu được sức nặng của anh, chúng lung lay, giấy rách ra. Anh thẳng người lên. Người đàn bà đứng ngây ngoài hành lang ngước mắt nhìn anh trân trân.

“Tôi xin lỗi” , anh nói, lúng túng lạ lùng về sự vụng về của mình. Sự trong trắng của căn phòng bị hoen ố đi chút ít.

“Giày của tôi đâu?”

Người đàn bà nhìn anh ngơ ngác. Anh kiên nhẫn hỏi lại bằng cử chỉ. Bà ta rẽ vào một lối nhỏ, quỳ xuống và kéo một cánh cửa gỗ khác, ra hiệu gọi anh. Có tiếng người nói ở gần và tiếng nước chảy. Anh đi qua cửa và thấy mình ở trong một phòng khác, gần như không có đồ đạc gì. Phòng này mở ra một hàng hiên có những bậc dẫn tới khu vườn nhỏ có tường cao bao quanh. Bên cạnh lối vào chính này có hai người đàn bà già, ba đứa trẻ mặc áo dài màu đỏ tươi và một ông già rõ ràng là người làm vườn, tay cầm cào cỏ. Ngay lập tức tất cả đều cúi chào trịnh trọng, đầu cúi thấp.

Blackthorne ngạc nhiên thấy ông già gần như trần truồng, chỉ có một cái khố nhỏ xíu hầu như không che nổi chỗ kín của mình.

“Xin chào”, anh nói với họ.

Họ đứng bất động, đầu vẫn cúi.

Bàng hoàng, anh nhìn họ, rồi cúi chào một cách vụng về. Tất cả đều thẳng người lên và mỉm cười với anh. Ông già cúi chào một lần nữa và quay lại làm việc trong vườn. Lũ trẻ nhìn anh chằm chằm rồi cười và chạy tóe đi. Người đàn bà già biến vào tít sâu trong nhà. Nhưng anh vẫn cảm thấy cặp mắt họ dõi nhìn anh.

Anh nhìn thấy đôi ủng của mình đặt ở cuối bậc thềm. Trước khi anh kịp cầm nó lên, người đàn bà đứng tuổi đã quỳ xuống, trước sự bối rối của anh, giúp anh đi giày.

“Cám ơn”, anh nói. Anh suy nghĩ một lúc rồi chỉ vào mình :

“Blackthorne” , anh nói thong thả,

“Blackthorne.” Rồi anh chỉ vào bà ta :

“Tên bà là gì?”

Bà ta nhìn anh không hiểu.

“Blackthorne”

Anh nhắc lại một cách cẩn thận, chỉ vào mình rồi lại chỉ vào bà ta.

“Tên bà là gì?”

Bà ta chau mày, rồi chợt hiểu, bà ta chỉ vào người và nói :

“Onna! Oana!”

“Onna!” anh nhắc lại, tự hào về mình cũng như bà ta tự hào về mình.

“Onna.”

Bà ta gật đầu sung sướng:

“Onna!.”

Khu vườn không giống bất cứ một cái gì anh đã từng nhìn thấy: một thác nước nhỏ, một dòng suối, một cây cầu nhỏ, một lối đi rải sỏi tỉa tót, đá hoa và những bụi cây. Nó sạch sẽ quá, anh nghĩ thế. Sạch sẽ quá.

“Không thể tin được.”, anh nói.

“Ko…tin…da…?” Bà ta ướm lại.

“Không có gì”, anh nói. Rồi không biết làm gì nữa anh ra hiệu để bà ta đi. Ngoan ngoãn, bà ta cúi chào lễ phép và bước đi.

Blackthorne ngồi trong ánh nắng ấm áp, tựa mình vào một chiếc cột. Cảm thấy mình còn rất yếu , anh ngắm nhìn ông già rẫy cỏ trong khu vườn đã sạch. Không hiểu những người khác ở đâu? Hạm trưởng còn sống không? Mình ngủ bao nhiêu ngày? Mình nhớ mình đã thức dậy, ăn và ngủ lại, ăn không được thoải mái như trong những giấc mơ.

Trẻ con líu ríu đuổi nhau chạy qua. Anh thấy lúng túng thay cho chúng vì sự trần truồng của người làm vườn, bởi khi ông ta nghiêng người hoặc cúi xuống thì người ta nhìn thấy tất cả. Anh ngạc nhiên khi thấy lũ trẻ tỏ ra không để ý gì hết. Anh nhìn thấy những mái ngói và mái gianh của những tòa nhà khác bên ngoài tường và xa xa là những dãy núi cao. Một cơn gió hanh khô lướt qua bầu trời xô đẩy những đám mây chuyển động. Ong đang làm mật và đây là một ngày xuân tuyệt đẹp. Cơ thể anh đòi được ngủ nữa nhưng anh cố vươn thẳng người và đi ra cửa vườn. Người làm vườn mỉm cười, cúi chào, chạy tới mở cửa, rồi lại cúi chào và khép cửa lại.

Xóm làng trải quanh bến cảng hình lưỡi liềm trông về phía Đông. Hơn hai trăm nóc nhà không giống bất cứ ngôi nhà nào anh đã từng trông thấy, nép vào nhau ở đầu mỏm núi tỏa xuống bờ biển. Phía trên là những thửa ruộng vuông vức ,với những con đường bụi bặm dẫn về phía Bắc và phía Nam. Bên dưới, khu cảng rải đá cuội và một bờ dốc bằng đá để bốc dỡ hàng hoá chạy thẳng xuống biển. Một bến cảng tốt, an toàn và một cầu tàu bằng đá; đàn ông, đàn bà rửa cá, đan lưới, một chiếc thuyền kiểu dáng độc đáo đang được đóng ở phía Bắc. Những hòn đảo ở ngoài biển xa, nằm về phía Đông và phía Nam. Những mạch đá ngầm sẽ ở đấy hoặc ở bên kia chân trời.

Trong bến, có nhiều tàu, hình thù kỳ quái, hầu hết dùng cho nghề đánh cá. Một vài chiếc có buồm lớn, vài chiếc khác có mái chèo. Những người chèo thuyền đứng đẩy thuyền ra khơi, chứ không ngồi kéo như anh sẽ làm ở địa vị mình. Một vài con thuyền hướng ra biển, những thuyền khác hướng mũi về cầu tàu.

Chiếc Erasmus thả neo gọn gàng, cách bờ 50 bộ, nước vừa đủ với ba dây cáp:

“Ai đã làm như vậy?” anh tự hỏi.

Có những chiếc thuyền bên cạnh nó, anh có thể nhìn thấy những người bản xứ trên thuyền. Nhưng không có người nào của anh.

“Họ đi đâu cả nhỉ?” Anh nhìn quanh làng và bắt đầu để ý thấy nhiều người đang nhìn anh. Khi họ biết anh để ý đến họ, tất cả đều chào. Mặc dầu không thoải mái, anh vẫn chào lại. Rồi họ lại vui vẻ bình thường qua lại, mặc cả chào nhau, hình như quên khuấy mất anh. Tất cả giống như những con bướm muôn màu.

Nhưng anh bỗng cảm thấy có những con mắt đang dò xét anh, từ mỗi khung cửa, khi anh bước về phía bờ biển.

Tại sao họ lại kỳ quái như vậy? Anh tự hỏi, không phải nghĩ về quần áo và hành vi của họ. Đó là họ không có vũ khí, anh nghĩ một cách kinh ngạc. Không kiếm, không súng! Tại sao vậy?

Những cửa hiệu ngoài trời đầy hàng hóa, những kiện hàng kỳ lạ bày dọc phố nhỏ. Sàn nhà cao, người bán và người mua quỳ hoặc ngồi xổm trên những sàn gỗ sạch. Anh thấy hầu hết đều đi guốc hoặc dép cói, bàn chân dày tẽ giữa ngón cái và những ngón khác để giữ những sợi dây đan nhưng họ để guốc dép bẩn ngoài cửa, chùi chân và xỏ vào những đôi dép sạch để trong nhà. Nếu suy nghĩ, mình sẽ thấy như vậy rất hợp lý, anh tự nhủ, thán phục.

Sau đó, anh thấy một người trọc đầu tiến lại. Một nỗi sợ lướt thót người từ dái đến dạ dày anh. Người thầy tu này rõ ràng là người Portugal hoặc Spain và mặc dù chiếc áo dài lòa xòa màu da cam, chuỗi tràng hạt và chiếc thánh giá ở thắt lưng, sự thù hận lạnh lẽo vẫn lộ rõ trên nét mặt gã. Chiếc áo dài có nhiều vết loang lổ và đôi ủng kiểu Châu Âu của gã bê bết bùn. Gã ngó ra bến cảng, nhìn chiếc Erasmus, Blackthorne biết gã hẳn đã nhận ra đó là tàu Holland hoặc England, một loại tàu mới lạ đối với hầu hết mặt biển. Nó thon hơn, nhanh hơn, một loại tàu buôn chiến đấu được đóng theo khuôn mẫu cải tiến của những tàu Anh, đã giáng bao nhiêu.thất bại trên luồng biển Spain. Cùng đi với gã thầy tu còn có mười người bản xứ, tóc đen, mắt đen, một người ăn mặc như gã, chỉ trừ đôi dép buộc dây. Những người khác mặc áo dài màu sắc khác nhau và quần rộng hoặc chỉ đóng khố. Nhưng không ai có vũ khí.

Blackthorne muốn bỏ chạy trong khi còn kịp nhưng anh biết anh không có sức và cũng không có chỗ nào để trốn. Chiều cao, khổ người và màu mắt của anh làm anh xa lạ trong cái thế giới này. Anh ngả lưng dựa vào tường.

“Anh là ai?” Gã thầy tu hỏi bằng tiếng Portugal.

Gã là một người to béo, ngăm đen, ở tuổi hăm lăm hăm bảy, râu dài.

“Anh là ai?” Blackthorne nhìn lại.

“Tàu đó là tàu Holland. Anh là một tên Holland dị giáo. Các anh là hải tặc. Chúa thương xót lấy các anh.”

“Chúng tôi không phải hải tặc, chúng tôi là những người lái buôn hòa bình, trừ đối với kẻ thù của chúng tôi. Tôi là hoa tiêu của tàu đó. Anh là ai?”

“Cha Sebastio. Làm sao các anh tới được đây? Làm sao?”

“Chúng tôi bị gió thổi giạt vào bờ. Chỗ này là chỗ nào? Có phải những người Nhật Bản không?”

“Đúng. Nhật Bản. Người Nhật.” Gã thầy tu nói một cách sốt ruột.

Gã ta quay lại một người nhiều tuổi hơn những người khác nhỏ và mảnh, có đôi cánh tay khỏe mạnh và bàn tay chai, đầu hói cao, tóc buộc lại thành một cái đuôi màu xám như lông mày của anh ta. Gã thầy tu vừa nói ngập ngừng với anh ta bằng tiếng Nhật, vừa chỉ vào Blackthorne. Tất cả có vẻ sửng sốt, một người làm dấu thánh.

“Người Holland dị giáo, bọn phản loạn, bọn hải tặc. Tên anh là gì?”

“Đây là một khu của người Portugal à?”

Mắt gã thầy tu đanh lại và vằn máu.

“Trưởng làng nói ông ta đã báo cáo với nhà cầm quyền về các anh. Tội ác của các anh sẽ bị trừng trị. Những người còn lại trong thủy thủ đoàn các anh đâu?”

“Chúng tôi bị gió thổi chệch hướng. Chúng tôi cần thức ăn, nước và thời gian để sửa lại tàu. Rồi chúng tôi sẽ đi. Chúng tôi có thể trả cho mỗi…”

“Những người còn lại trong thủy thủ đoàn của các anh đâu?”

“Tôi không biết. Trên tàu. Tôi chắc họ ở trên tàu?.”

Gã thầy tu hỏi viên trưởng làng, người này trả lời và chỉ về phía cuối làng, giải thích một thôi một hồi. Gã thầy tu quay lại Blackthorne:__

“Người ta đóng đinh câu rút những tội phạm ở đây. Hoa tiêu! Anh sắp chết. Daimyo sắp tới cùng với những Samurai của mình. Chúa hãy rủ lòng thương xót anh.”

“Daimyo là cái gì?”

“Lãnh chúa phong kiến. Ông ta thống lĩnh cả địa hạt này. Làm sao anh tới được đây?”

“Thế Samurai?” .

“Những lính chiến – những người lính – những người thuộc đẳng cấp lính chiến.” Gã thầy tu mỗi lúc một

thêm bực tức.

“Anh từ đâu đến và các anh là ai?”

“Tôi không nhận ra giọng anh”, Blackthorne nói để làm gã mất cảnh giác.

“Anh là người Spain?”

“Tôi là người Portugal.” Gã thầy tu nổi đóa, bị mắc lừa.

“Tôi đã nói với anh, tôi là cha Sebastio, người Portugal. Anh học tiếng Portugal ở đâu tốt vậy hả?.”

“Nhưng Portugal và Spain bây giờ là một nước”, Blackthorne nói khiêu khích.

“Các anh cùng một vua.”

“Chúng tôi là một nước khác. Chúng tôi là một dân tộc khác. Muôn đời vẫn là như vậy. Chúng tôi cắm cờ riêng. Sở hữu ở nước ngoài của chúng tôi là riêng, phải, riêng. Vua Philip đã đồng ý như vậy khi ông ta ăn cắp nước tôi.”

Cha Sebastio cố gắng kìm mình, ngón tay gã run run:

“Ông ta đã dùng vũ lực chiếm nước tôi hai mươi năm trước đây! Binh lính của ông ta và tên quỷ bạo chúa Spain, quận công Alva! Chúng đánh bại nhà vua chân chính của chúng tôi. Bây giờ con trai của Philip thống trị nhưng ông ta cũng không phải là vua thật sự của chúng tôi. Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ đón nhà vua chúng tôi trở lại.”.

Rồi gã nói một cách cay độc.

“Anh biết đó là sự thật Cái mà con quỉ Alva muốn làm với đất nước anh, hắn đã làm đối với đất nước tôi.”.

“Không đúng. Alva là một tai họa đối với Holland, nhưng ông ta không bao giờ chinh phục được nó. Holland còn được tự do. Mãi mãi sẽ tự do. Nhưng ở Portugal, ông ta chỉ mới đập gẫy một đội quân nhỏ mà cả đất nước đã đầu hàng. Không có gan. Các anh có thể tống cổ người Spain đi nếu các anh muốn, nhưng các anh sẽ không bao giờ làm điều đó. Không có danh dự. Không có cojones (hột dái-tiếng Spain). Các anh chỉ biết thiêu sống những người vô tội dưới danh nghĩa Chúa.”

“Chúa hãy thiêu đốt ngươi trong ngọn lửa địa ngục đời đời.” Gã thầy tu nổi giận.

“Quỷ Satan đã xổng và sẽ bị đập nát. Những kẻ dị giáo sẽ bị đập nát. Các người bị nguyền rủa trước Chúa.”

Bất giác, Blackthorne cảm thấy một nỗi kinh hoàng tôn giáo dâng lên trong anh.

“Lũ thầy tu các người không có cái tai của Chúa, không nói bằng giọng của Người. Chúng ta đã thoát khỏi ách thối tha của các người và chúng ta sẽ thoát mãi mãi.”.

Mới bốn năm trước đây, Mary Tudor Khát Máu là hoàng hậu của England và Spain, Philip II, Philip Bạo Tàn, là chồng của bà ta. Người đàn bà sùng đạo một cách điên rồ này, con-của Henry VIII, đã đem trở về những thầy tu Thiên Chúa giáo, những tòa án dị giáo, những cuộc xét xử dị giáo, sự ngự trị của Giáo hoàng nước ngoài đối với England đã đảo ngược sự kiềm chế của vua cha, những thay đổi lịch sử đối với tòa thánh La Mã ở Anh, ngược lại ý nguyện của đa số. Bà ta đã ngự trị năm năm và vương quốc bị xé nát bởi lòng căm thù, nỗi sợ hãi và sự đổ máu. Nhưng bà ta đã chết và Elizabeth trở thành Nữ hoàng năm hai mươi bốn tuổi.

Blackthorne lòng tràn đầy kinh ngạc và tình quí mến sâu xa khi anh nghĩ tới Elizabeth. Trong bốn mươi năm bà đã chiến đấu với thế giới. Bà đã khôn ngoan và chiến thắng nhiều Giáo hoàng, đế quốc La Mã thần thánh, Pháp và Spain kết hợp lại. Bị rút phép thông công, bị phỉ nhổ, bị sỉ vả ở nước ngoài, bà đã dẫn dắt Anh quốc đến bến – an toàn, hùng mạnh, độc lập.

“Chúng tôi tự do”, Blackthorne nói với gã thầy tu.

“Các anh đã bị bẻ gẫy, bây giờ chúng tôi đã có trường riêng, sách riêng, kinh thánh riêng, nhà thờ riêng của chúng tôi. Người Spain của các anh thì vẫn thế. Rác rưởi! Bọn thầy tu các anh vẫn thế. Một bọn người tôn thờ tượng thần.”

Gã thầy tu nâng cây thánh giá, giơ lên chắn giữa Blackthorne và gã, như một cái khiên.

“Ôi, lạy Chúa, hãy che chở chúng tôi khỏi sự độc ác này! Tôi không phải người Spain, nói để anh biết! Tôi là người Portugal. Và tôi không phải là thầy tu. Tôi là một người anh em của hội Jesus!.”

“À, một tên Jesuit.”

(Jesuit – Hội viên của hội Thánh La Mã -The Society of Jesus. Do Ichnatius Loyota thành lập năm 1534 mục đích là để bảo vệ chế độ Giáo Hoàng và Thiên Chúa giáo chống lại sự cải cách).

“Phải. Cầu Chúa thương xót lấy linh hồn của ngươi”, cha Sebastio nói giật giọng câu gì đó bằng tiếng Nhật và mấy người kia lao tới Blackthorne. Anh tựa lưng vào tường, đấm mạnh một người nhưng bị những người khác vây chặt Anh thấy mình bị ngạt thở.

“Nanigoto da?” (Có chuyện gì?-Tiếng Nhật)

Đột ngột cuộc loạn đả ngừng lại.

Một người trẻ tuổi đứng cách xa chừng mười bước. Anh ta mặc quần ống túm, đi guốc, mặc kimono mỏng, hai thanh kiếm tra trong vỏ giắt ở thắt lưng. Một thanh trông giống như dao găm. Thanh kia, dài và hơi cong. Bàn tay phải của anh ta để thờ ơ trên đốc kiếm.

“Nanigoto da?” anh ta hỏi gay gắt khi không ai trả lời ngay.

“Nanigoto da?.”.

Những người Nhật quỳ rạp xuống, đầu cúi sát đất. Chỉ có thầy tu đứng. Gã cúi chào và bắt đầu giải thích ấp úng, nhưng người đàn ông ngắt lời gã một cách khinh bỉ và chỉ tay vào người đứng đầu:

“Mura!”

Mura, trưởng làng, đầu cúi thấp, bắt đầu giải thích nhanh. Mấy lần ông ta chỉ vào Blackthorne, một lần vào con tàu và hai lần vào gã thầy tu. Lúc này, ngoài phố không động tĩnh gì hết. Tất cả những người có mặt đều quỳ, đầu cúi thấp. Trưởng làng đã nói xong. Người đàn ông có vũ khí hỏi thêm ông ta một cách ngạo mạn, người này trả lời cung kính và nhanh. Sau đó, người đeo kiếm nói điều gì đó với trưởng làng, vung tay với vẻ khinh miệt lộ liễu đối với gã thầy tu rồi với Blackthorne và trưởng làng, nói mấy lời với gã thầy tu, gã này đỏ mặt.

Gã đeo kiếm thấp hơn và trẻ hơn Blackthorne nhiều, bộ mặt đẹp trai, hơi rỗ, chằm chằm nhìn người lạ.

“Onushi ittai doko kara kitanoda? Doko no kuni no monoda!.”

Gã thầy tu nói một cách lo ngại :

“Kasigi Omi-san hỏi anh từ đâu tới và quốc tịch gì?”

“Có phải Omi-san là Daimyo không?” Blackthorne hỏi, bất giác nhìn những thanh kiếm.

“Không. Ông ấy là một Samurai, một Samurai chịu trách nhiệm làng này. Họ của ông ấy là Kasigi, Omi là tên. Ở đây người ta luôn luôn để họ lên trước.

“San” nghĩa là

“Ngài”, người ta thêm vào tên gọi để tỏ sự lễ độ. Anh nên học để có lễ độ – và tìm một cung cách cư xử. Ở đây người ta không tha thứ sự thiếu lễ độ.” Giọng gã đanh lại.

“Nhanh lên, trả lời đi!”

“Amsterdam. Tôi là người Anh.”

Cơn bàng hoàng của cha Sebastio lộ rõ. Gã nói:

“Người Anh. Nước Anh” với Samurai và bắt đầu giải thích nhưng Omi nóng nảy ngắt lời và tuôn ra một tràng.

“Omi-san hỏi anh có phải lãnh đạo không? Ngài trưởng làng nói có một vài kẻ dị giáo các anh còn sống và hầu hết đều bị ốm. Có hạm trưởng không?”

“Tôi là người chỉ huy”, Blackthorne trả lời, mặc dù bây giờ khi họ đã ở trên bờ rồi thì hạm trưởng là người chỉ huy.

“Tôi chỉ huy”, anh nói thêm, biết hạm trưởng Spillbergen chẳng chỉ huy được gì hết, dù ở trên bộ hay trên biển, ngay cả khi ông ta khoẻ mạnh.

Lại một tràng nữa của Samurai.

“Omi-san nói vì anh là chỉ huy, anh được phép đi lại tự do trong làng, muốn đi đâu thì đi cho đến khi ông chủ tới. Ông chủ của anh ta, một Daimyo, sẽ quyết định số phận của anh. Cho đến khi đó anh vẫn được phép sống như một vị khách trong nhà trưởng làng, đến và đi tùy thích. Nhưng anh không được rời khỏi làng. Nhóm thủy thủ của anh bị cầm cố trong nhà và không được phép rời nhà. Anh có hiểu  không?.”

“Có. Thủy thủ của tôi ở đâu?.”

Cha Sebastio chỉ tay mơ hồ về dãy nhà gần bên, rõ ràng gã bối rối bởi quyết định và sự nôn nóng của Omi.

“Đó! Hãy hưởng sự tự do của ngươi, tên hải tặc, sự xấu xa của ngươi xứng với…”

“Wakari masu ka?” Omi nói trực tiếp với Blackthorne.

“Chữ CÓ, anh có hiểu không?”

“Bằng tiếng Nhật nói thế nào?”

Cha Sebastio nói với Samurai:

“Wakari masu.”

Omi miệt thị vẫy họ đi. Tất cả đều cúi chào thấp. Trừ một người cố ý đứng yên không chào.

Nhanh đến lóa mắt, thanh kiếm rít lên làm thành một đường vòng cung ánh bạc, đầu người đàn ông không chào văng khỏi vai, một suối máu phun ra trên đất. Thân mình giãy giụa một lúc rồi lặng yên. Bất giác, người thầy tu lùi lại một bước. Không một người nào ở phố nhúc nhích mảy may. Đầu họ vẫn cúi thấp và bất động. Blackthorne cứng người, choáng váng.

Omi thờ ơ dẫm chân lên xác chết.

“Ikinasai!” Anh ta nói, hất tay cho mọi người đi.

Những người đàn ông đứng trước anh ta vẫn cúi sát đất. Rồi họ đứng lên và đi một cách trầm tĩnh. Đường phố bắt đầu vắng bóng người.

Cha Sebastio nhìn xuống cái xác chết, gã làm dấu thánh giá một cách long trọng và nói:

“In nomine Patris et Filii et Spiritus Sanci”

(TiếngLatin: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần).

Gã nhìn chăm chăm vào tay Samurai, lúc này gã không còn sợ hãi nữa.

“Ikinasai!” Đầu mũi kiếm sáng loáng dí vào cái xác chết.

Một lúc lâu sau đó, gã thầy tu quay người và bỏ đi. Vẻ tự trọng, Omi nheo mắt nhìn theo, rồi liếc nhìn Blackthorne.

Blackthorne lùi lại, rồi khi đã ở một khoảng cách yên ổn, anh nhanh chóng rẽ vào góc phố và biến mất.

Omi cười phá lên. Đường phố lúc này vắng không. Khi tiếng cười tắt, anh ta nắm chặt lấy đốc kiếm bằng cả hai tay và bắt đầu đều đặn băm cái xác thành từng mảnh nhỏ.
(còn tiếp)
(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác