Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel- Kì 101

 Ngừoi dịch: Ngô Vĩnh Viễn và bùi Phụng

“Hãy nghe đây, các đạo hữu.” Alvito nói với mọi người, lưng quay về phía họ.

“Chúng ta phán xử đạo hữu Joseph, đã đi với một con điếm của tỉnh này đêm qua, phá vỡ lời thề linh thiêng của sự vâng lời, làm mất tính thiêng liêng của linh hồn bất tử của đạo hữu đó, cương vị Jesuit, địa vị của đạo hữu đó tại nhà thờ. Trước mặt Chúa, tôi xin hỏi tất cả các bạn – các bạn có làm khác không?”

Họ đều lắc đầu.

“Các bạn có làm khác không?”

“Không, thưa cha.”

“Con là kẻ có tội! Trước mặt Chúa, con thú nhận tội lỗi của con?”

“Vâng, thưa cha, con đã…”

“Trước mặt Chúa, đây có phải lần đầu tiên của con không?”

“Không, đây không phải là lần đầu tiên”, Joseph nói

“Con… con đã đi với một người khác bốn đêm trước – ở Mishima.”

“Nhưng…nhưng hôm qua chúng ta có khóa lễ! Còn lời xưng tội của con hôm qua, đêm trước đó và đêm trước đó nữa, con không… Hôm qua chúng ta có khóa lễ! Lạy Chúa tôi, con không hề xưng tội gì hết, trong khi biết là đã phạm trọng tội.”

Đạo hữu Joseph xạm người vì xấu hổ. Anh ta đã sống cùng với người người Jesuit từ năm lên tám tuổi.

“Đây là… đây là lần đầu tiên, trình cha. Mới có bốn ngày trước. Suốt đời con không phạm tội. Con bị cám dỗ… và, xin Đức Mẹ tha thứ cho con, lần này con đã thất bại. Con ba mươi tuổi. Con là một người đàn ông – chúng ta đều là đàn ông. Xin cha, Đức cha không tha thứ được cho con? Chúng ta đều là đàn ông…”

“Chúng ta đều là những người đi tu!”

“Chúng tôi không phải là những tu sĩ thực sự? Chúng tôi chưa thành nghề – Chúng tôi thậm chí chưa được phong. Chúng tôi không phải là những Jesuit thực sự. Chúng tôi không thể lấy lời thề thứ tư như cha được thưa cha”, Joseph nói cau có,

“Tại sao lại…?”

“Câm mồm!”

“Tôi không!” Joseph nổi sung

“Xin cha tha lỗi cho, nhưng tại sao một số người chúng tôi không được phong chức?” Anh ta chỉ vào một đạo hữu, một người đàn ông cao, mặt tròn trông thanh khiết:

“Tại sao đạo hữu Michael không được phong chức? Ông ấy đã học tập từ năm mười hai tuổi. Bây giờ ông ấy ba mươi sáu và là người Cơ đốc giáo hoàn hảo, gần như là một ông thánh. Ông ấy đã cải tạo được hàng nghìn người nhưng ông ấy vẫn chưa được phong chức, tuy…”

“Nhân danh Chúa, ngươi sẽ…”

“Nhân danh Chúa, thưa cha, tại sao một người trong chúng ta lại không được phong chức. Phải có người dám hỏi cha điều đó!” Joseph lúc này đã đứng lên.

“Tôi đã rèn luyện mười sáu năm, đạo hữu Matêo hai mươi ba năm, Giuliao còn nhiều hơn nữa, suốt đời chúng tôi-nhưng năm vô kể. Chúng tôi thuộc kinh, thuộc giáo lý vấn đáp và những bài thánh ca hơn cả cha. Michael và tôi thậm chí nói tiếng Latin cũng như tiếng Bồ…”

“Thôi.”

“Portugal, và chúng tôi tiến hành tất cả việc cầu nguyện và tranh luận với những người theo Phật giáo và tất cả những người thuộc giáo phái khác và làm hầu hết việc cải đạo. Chính chúng tôi làm! Nhân danh Chúa và đức Mẹ, chúng tôi làm sao? Tại sao chúng tôi còn chưa đủ tốt để làm người Jesuit? Có phải chỉ bởi vì chúng tôi không phải là người Portugal hay Spain, hay bởi vì chúng tôi không có lông hoặc mắt tròn? Nhân danh Chúa, thưa cha, tại sao không có một người Jesuit Nhật Bản nào được phong chức cả?”

“Bây giờ ngươi có câm miệng đi không?”

“Chúng tôi cũng đã từng đến La Mã, Michael, Giuliao và tôi?” Joseph nói vung lên.

“Cha cũng chưa từng đến La Mã hoặc gặp Cha bề trên hay đức Giáo hoàng như chúng tôi…”

“Có một lý do khác ngươi nên hiểu hơn là tranh luận như thế này. Ngươi đã thề trinh bạch, nghèo túng, và vâng lời. Ngươi đã được chọn trong số nhiều người, được ân sủng, thế mà bây giờ ngươi để linh hồn mình vẩn đục đến nỗi…”

“Xin lỗi cha, nhưng tôi không nghĩ rằng chúng tôi được ân sủng tám năm tới đó và trở về nếu sau khi học tập như vậy, cầu nguyện như vậy, đợi chờ là thế mà không một ai trong chúng tôi được phong chức như được hứa. Tôi mười hai tuổi khi tôi ra đi, Giuliao mười một…”

“Ta cấm ngươi không được nói nửa lời! Ta ra lệnh cho ngươi thôi.” Rồi trong cái yên lặng khủng khiếp, Alvito nhìn những người khác đang đứng giáp vào tường đang nhìn và nghe chăm chú.

“Ngươi sẽ được phong chức lúc nào tới. Nhưng ngươi, Joseph, trước mặt Chúa, ngươi sẽ…”

“Trước mặt Chúa”, Joseph bật ra,

“Lúc nào?”

“Lúc Chúa…” Alvito quật lại, choáng váng vì sự phản loạn, ông bùng lên

“Q-u- ỳ x-u- ố-n-g.”

Đạo hữu Joseph trừng trừng nhìn lại, nhưng cuối cùng cơn giận của anh ta qua, anh ta thở hắt ra, quỳ xuống, cúi đầu.

“Chúa hãy thương xót ngươi. Ngươi đã tự thú tội lỗi bỉ ổi gớm ghiếc của người, phạm tội phá vỡ lời thề linh thiêng giữ gìn trong sạch, lời thề linh thiêng vâng lời bề trên, và phạm tội láo xược không thể tưởng tượng nổi. Sao ngươi dám căn vặn lệnh và giáo lý của nhà thờ?

Ngươi đã làm phương hại đến linh hồn bất tử của ngươi.

Ngươi là một điều điếm nhục đối với Chúa, với bạn hữu của ngươi, đối với nhà thờ, đối với gia đình của ngươi. Trường hợp của ngươi quá nặng nề. Phải để cha bề trên xét xử. Cho đến lúc đó, ngươi sẽ không được làm thông công, ngươi sẽ không được xưng tội, hoặc nghe xưng tội hoặc tham dự gì vào khóa lễ hết…” Đôi vai Joseph run lên với nỗi đau khổ ăn năn đang giày vò anh ta.

“Để làm cho phải ăn năn bước đầu, ngươi không được nói chuyện, ngươi sẽ chỉ có cơm và nước trong ba mươi ngày, trong ba mươi đêm, đêm nào ngươi cũng phải quỳ để cầu nguyện đức Mẹ tha thứ cho những tội lỗi ghê tởm của ngươi, và sau đó ngươi sẽ bị đánh roi. Ba mươi roi. Cởi áo thầy tu ra.”

Đôi vai thôi không run rẩy nữa, Joseph nhìn lên.

“Tôi xin nhận mọi đều cha đã ra lệnh, trình cha”, anh ta nói.

“Là tôi xin lỗi với tất cả tấm lòng của tôi, tất cả linh hồn tôi. Tôi xin cha tha thứ, cũng như tôi xin Người tha thứ cho tôi đời đời. Nhưng tôi sẽ không bị đánh như một tội phạm bình thường.”

“Ngươi sẽ bị đánh!”

“Xin tha lỗi cho tôi, thưa cha”, Joseph nói,

“Nhân danh đức Mẹ, không phải vì đau đớn. Đau đớn không có nghĩa lý gì đối với tôi, chết cũng không có nghĩa lý gì đối với tôi. Tôi bị nguyền rủa và sẽ bị đốt đời trong ngọn lửa địa ngục có thể là karma của tôi, và tôi sẽ chịu đựng. Nhưng tôi là Samurai. Tôi thuộc gia đình Chúa Harima.”

“Lòng tự hào của ngươi làm ta lợm giọng. Ngươi bị trừng phạt không phải là để chịu sự đau đớn mà là để gột cái lòng tự hào khó chịu của ngươi. Tội phạm bình thường? Lòng khiêm nhường của ngươi ở đâu? Chúa Jesus Crit của chúng ta đã từng chịu đựng điều sỉ nhục. Và Người đã chết cùng những tội phạm bình thường.”

“Vâng. Đó là một vấn đề lớn của chúng tôi ở đây, thưa cha.”

“Cái gì?”

“Xin cha tha lỗi cho sự nói thẳng của tôi, thưa cha, nhưng Vua của các Vua không chết như một tội phạm bình thường trên cây thập tự, các Samurai hẳn đã chấp nhận…”

“Thôi!”

“…Cơ đốc giáo dễ dàng hơn. Thánh Hội đã khôn khéo tránh cầu nguyện đức Chúa bị đóng đinh câu rút như những tội đồ khác…”

Như một thiên thần trả thù, Alvito giơ cây thánh giá lên một cái khiên trước mặt.

“Nhân danh Chúa, hãy im đi và vâng lời, nếu không ngươi sẽ bị rút phép thông công! Bắt lấy hắn và lột quần áo hắn ra!”

Những người khác sực tỉnh và tiến lên, nhưng Joseph chồm dậy. Một lưỡi dao xuất hiện trong tay anh ta dưới chiếc áo dài. Anh ta dựa lưng vào tường. Mọi người sững lại. Trừ đạo hữu Michael. Michael tiến lên chậm chạp và bình tĩnh, tay anh ta giơ ra.

“Xin đưa cho tôi lưỡi dao, người anh em”, anh ta nói nhẹ nhàng.

“Không. Xin tha lỗi cho tôi.”

“Vậy thì hãy cầu nguyện cho tôi đi, người anh em.”

Michael lặng lẽ tiến lên lấy vũ khí.

Joseph lùi lại mấy bước, rồi sẵn sàng lao vào.

“Tha lỗi cho tôi, Michael.”

Michael tiếp tục tiến.

“Michael, dừng lại! Để mặc anh ta.” Alvito ra lệnh. Michael tuân lệnh, chỉ còn cách lưỡi dao vung lên có vài

“Inh.”

Sau đó Alvito nói, mặt ông ta xám ngoét:

“Chúa hãy thương xót lấy ngươi, Joseph. Ngươi đã bị rút phép thông công. Quỷ Satan đã nhập hồn ngươi trên mặt đất này, cũng như nó sẽ nhập hồn ngươi sau khi ngươi chết. Hãy cút ngay!”

“Tôi không chấp nhận Chúa Cơ đốc! Tôi là người Nhật Bản – Tôi là Thần đạo. Bây giờ linh hồn tôi là của tôi. Tôi không sợ”, Joseph hét lên.

“Phải, chúng ta có niềm tự hào – không giống như lũ rợ mọi. Ngay cả nông dân của chúng ta cũng không phải là rợ mọi.”

Alvito long trọng làm dấu thánh giá, như để che chở cho tất cả mọi người và quay lưng lại lưỡi dao không hề sợ hãi.

“Các đạo hữu, chúng ta hãy cùng cầu nguyện. Qủy Satan đang ở giữa chúng ta.”

Những người khác cũng đã quay đi, nhiều người buồn bã, một số vẫn còn choáng váng. Chỉ Michael vẫn đứng y nguyên tại chỗ, đăm đăm nhìn Joseph.

Joseph giật chuỗi tràng hạt và cây thánh giá của mình ra. Anh ta sắp sửa liệng nó đi, nhưng Michael lại giơ tay ra.

“Người anh em, xin hãy đưa nó cho tôi – đó là một món quà đơn giản”, anh nói.

Joseph nhìn anh một hồi lâu, rồi anh ta đưa nó cho Michael.

“Xin tha lỗi cho tôi.”

“Tôi sẽ cầu nguyện cho các đạo hữu”, Mai cơn nói.

“Anh không nghe thấy sao? Tôi đã từ bỏ Chúa rồi!”

“Tôi sẽ cầu nguyện để Chúa không từ bỏ đạo hữu, Uraga noh. Taganasa-san.”

“Xin anh tha thứ cho tôi”, Joseph nói. Anh ta gài lưỡi dao vào thắt lưng, giật mở cửa, bước một cách mù lòa dọc hàng hiên vào trong hành lang. Mọi người nhìn anh ta một cách tò mò, trong đó có Mo, người đánh cá, đang đợi một cách kiên nhẫn trong bóng tối. Joseph đi qua sân, tiến về phía cổng. Mọi người Samurai đứng chắn đường.

“Đứng lại!”

Joseph dừng lại.

“Ông đi đâu thế?”

“Tôi xin lỗi, xin tha lỗi cho tôi, tôi – tôi không biết.”

“Tôi phục vụ Lãnh chúa Toranaga. Xin lỗi, tôi không thể không nghe những điều vừa xảy ra trong đó. Cả quán hẳn đã nghe thấy. Những hành động thật tởm lợm… người lãnh đạo của ông la hét lên như vậy và làm hỗn loạn cả lên. Và cả ông nữa. Tôi trực ở đây. Tôi nghĩ ông nên đến gặp người phụ trách gác của tôi.”

“Tôi nghĩ là – cám ơn ông, tôi sẽ đi đường khác. Xin tha thứ…”

“Xin lỗi, ông sẽ không đi đâu cả. Trừ gặp sĩ quan của tôi.”

“Cái gì? Ồ – Vâng. Tôi xin lỗi, tất nhiên.” Joseph cố làm cho đầu óc hoạt động.

“Tốt. Cám ơn.” Người Samurai quay đi, một người Samurai khác tới từ cầu và chào.

“Tôi được lệnh đưa Tsukku-san đến cho Lãnh chúa Toranaga

“Tốt. Người ta đợi ông.”

Lần đằng 102 trên VHP
 

 

 

 

CHƯƠNG 43

~ Toranaga ngắm nhìn người thầy tu cao lớn tiến đến qua cánh rừng thưa, ánh sáng bập bùng của những ngọn đuốc càng làm cho khuôn mặt gầy guộc của ông lạnh lẽo hơn trên nền đen của bộ râu. Chiếc áo dài Phật giáo màu da cam của người thầy tu trông thanh lịch, chuỗi tràng hạt và cây thánh giá mắc nơi thắt lưng.

Cách chừng mười bước, Cha Alvito dừng lại, quì xuống, cúi chào cung kính, bắt đầu những hình thức lễ nghi thông thường.

Toranaga đang ngồi một mình trên bệ đài, các vệ sĩ trong hình vòng cung chung quanh ông, xa không nghe được. Chỉ có Blackthorne là ở gần, anh tựa mình vào bụng như đã được ra lệnh, mắt anh nhìn xoáy vào người thầy tu. Alvito làm như không nhìn thấy anh.

“Được gặp Đại nhân thật là tốt đẹp, thưa Đại nhân”, cha Alvito nói lịch sự.

“Được gặp ông cũng vậy, Tsukku-san, Toranaga ra hiệu cho người thầy tu ngồi bên cái đệm được đặt trên chiếu dưới đất trước bục.

“Lâu lắm ta không gặp ông.”

“Vâng, thưa Đại nhân, có nhiều chuyện để kể”,

Alvito nhận thức sâu sắc, tấm đệm đặt trên đất chứ không phải trên bệ đài. Ông cũng nhận thức được một cách rõ ràng những thanh kiếm Samurai Blackthorne đeo

lúc này quá gần Toranaga và cái cung cách anh ta tha thẩn một cách thờ ơ.

“Tôi mang theo một lá thư riêng của cha Bề trên của tôi, Người kính cẩn chào Đại nhân.”

“Cám ơn ông. Nhưng trước hết, hãy nói về ông đã.”

“A, thưa Đại nhân”, Alvito nói, biết Toranaga quá sáng suốt để nhận ra nỗi ân hận đang giày vò mình, ông cố rũ nó đi mà không được.

“Đêm nay tôi muốn được phép cắt bỏ nghĩa vụ trần tục của mình, rút vào ở ẩn để cầu xin ân huệ của Chúa.” Ông xấu hổ vì sự thiếu khiêm nhường của bản thân mình. Mặc dù tội lỗi của Joseph là khủng khiếp, Alvito đã hành động vội vàng, giận dữ và ngu ngốc. Một linh hồn bị ruồng bỏ, bị mất mãi mãi, đó là lỗi của ông.

“Chúa của chúng tôi đã có lần nói,

“Xin cha hãy để cho cốc này qua con.” Nhưng ngay cả Người đã phải giữ lại hai chiếc cốc. Chúng tôi, trong thế giới này, chúng tôi hết sức cố gắng đi theo bước chân Người. Xin Đại nhân tha lỗi vì đã để vấn đề của tôi bộc lộ.”

“Chiếc

“Cốc” của ông là gì, ông bạn già?”

Alvito kể lại câu chuyện. Ông biết không có một lý do gì để giấu sự việc vì tất nhiên, chẳng bao lâu Toranaga sẽ nghe được nếu không phải là đã biết rồi và nghe sự thật bao giờ cũng tốt hơn là câu chuyện cắt xén.

“Thật là buồn khi mất một đạo hữu, khủng khiếp khi làm cho một người bị ruồng bỏ, dù tội lỗi có ghê gớm đến thế nào. Lý ra tôi phải kiên nhẫn hơn. Đó là lỗi của tôi.”

“Bây giờ ông ấy đâu?”

“Thưa Đại nhân, tôi không biết.”

Toranaga gọi một người gác.

“Hãy tìm người phản đạo mang ông ta tới gặp ta trưa mai.” Người Samurai vội vã đi.

“Tôi xin cho ông ấy lòng thương xót, thưa Đại nhân.”

Alvito nói nhanh, thật lòng. Nhưng ông biết những gì ông nói chẳng có tác dụng gì nhiều để thuyết phục Toranaga thôi không làm con đường ông ta đã chọn. Ông lại ao ước hội thánh có cánh tay thế lực mạnh mẽ để bắt và trừng phạt kẻ bội giáo, cũng như tất cả mọi nơi khác trên thế giới. Ông vẫn liên tục đề nghị như vậy, nhưng ông luôn luôn bị bại ở Nhật Bản và cả ở La Mã. Phải, nếu không có cánh tay thế lực, ông nghĩ một cách mệt mỏi, mình sẽ không bao giờ có thể áp dụng kỷ luật thật sự đối với các thầy dòng cùng môn phái.

“Tại sao không có các thầy tu được phong trong Hội của ông, Tsukku-san?”

“Bởi vì, thưa Đại nhân, chưa một thầy tăng nào của chúng tôi được huấn luyện đầy đủ. Chẳng hạn, tiếng Latin là một điều cần thiết bắt buộc bởi vì lệnh của chúng tôi đòi hỏi mỗi đạo hữu đi khắp nơi trên thế giới bất cứ lúc nào, và tiếng Latin, thật không may, học lại quá khó. Chưa có ai học được.”

Alvito thực lòng tin điều đó. Ông cũng cực lực chống lại việc người Nhật Bản được phong, ngược lại với cha Chánh.

“Thưa Đức cha”, ông luôn luôn nói.

“Con xin cha, đừng bị đánh lừa bởi bề ngoài khiêm nhường và lịch thiệp của họ. Ở trong lòng, họ đều là những người không thể tin cậy được, lòng kiêu ngạo và tính chất Nhật Bản của họ luôn luôn chế ngự. Họ sẽ không bao giờ là người người đầy tớ trung thành của Hội, hoặc những người lính đáng tin cậy của đức Giáo hoàng, vị cha Sở của Chúa Jesus trên mặt đất, chỉ biết tuân theo có một mình Người thôi.”

Alvito nhìn Blackthorne một thoáng rồi lại quay nhìn Toranaga. Toranaga nói

“Nhưng hai hay ba thầy tu tập sự nói được tiếng Latin? neh? và cả tiếng Portugal? Ông ta nói đúng, neh? Tại sao họ lại không được chọn?”

“Xin lỗi, những người đứng đầu Hội của chúng tôi không cho rằng họ đã chuẩn bị được đầy đủ. Có lẽ sự thất bại bi thảm của Joseph là một thí dụ.”

“Phá vỡ một lời thề thiêng liêng thật là tệ”, Toranaga nói. Ông nhớ lại cái năm ba thanh niên đã đi từ Nagasaki trong con Tầu Đen tới triều đình của vua Spain và triều đình tổng Giám mục, cái năm Goroda bị sát hại. Chín năm sau họ đã quay trở lại. Họ ra đi như những người theo Cơ đốc giáo trẻ tuổi, nhiệt tình, ngây thơ và trở lại, đầu óc cũng hẹp hòi, không hay biết gì như lúc họ ra đi. Thật là lãng phí ngu ngốc, Toranaga nghĩ, lãng phí mất một cơ hội mà Goroda đã từ chối không lợi dụng, dù ông đã cố gắng khuyên đến thế nào.

“Không, Tora-san, chúng ta cần những người Cơ đốc giáo chống lại những người theo Phật giáo”, Goroda đã nói,

“Nhiều người theo Phật giáo và các nhà sư là lính, neh? Hầu hết là vậy. Những người theo Cơ đốc giáo không phải, neh?”

“Tôi nói với ông là khuyến khích những người Cơ đốc giáo. Đừng làm tôi phiền với cái kế hoạch mười năm mà hãy đốt các chùa Phật giáo trong tầm với của mình. Những người theo Phật giáo như đàn ruồi trên xác chết đã thối và bọn Cơ đốc giáo cũng chỉ là một túi rắm.”

Giờ đây họ không phải như vậy đâu, Toranaga nghĩ, lòng càng thêm bực. Bây giờ họ là những con ong vò vẽ.

“Phải”, ông nói to.

“Phá vỡ lời thề, quát lác, làm mất sự yên tĩnh của một quán hàng là điều tệ hại.”

“Xin Đại nhân tha lỗi và tha thứ cho tôi đã đề cập tới những vấn đề của tôi. Cám ơn Đại nhân đã nghe. Bao giờ cũng thế, mối quan tâm của Đại nhân làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Tôi có được phép chào người hoa tiêu kia không?”

Toranaga đồng ý.

“Tôi xin có lời chúc mừng ông, ông hoa tiêu.” Alvito nói bằng tiếng Portugal.

“Gươm của ông rất hợp với ông”

“Cám ơn cha, tôi đang học cách dùng chúng”, Blackthorne trả lời.

“Nhưng rất tiếc phải nói rằng tôi sử dụng chúng chưa được thành thạo lắm. Tôi sẽ phải dựa vào súng lục, hoặc đoản kiếm hoặc đại bác nếu phải chiến đấu.”

“Tôi cầu nguyện để ông sẽ không bao giờ phải chiến đấu nữa, hoa tiêu, và mắt ông sẽ mở ra trước tình thương vô bờ bến của Chúa.”

“Mắt tôi vẫn mở. Mắt cha bị sương che.”

“Vì linh hồn của chính ông, hoa tiêu, ông hãy để cho mắt và tâm hồn ông mở. Có thể ông lầm lẫn. Nhưng cho dù vậy, tôi vẫn phải cảm ơn ông đã cứu mạng Lãnh chúa Toranaga.”

“Ai nói với cha như vậy?”

Alvito không trả lời. Ông ta quay lại Toranaga.

“Nói chuyện gì?” Toranaga hỏi phá vỡ sự yên lặng.

Alvito kể lại và nói thêm,

“Mặc dù ông ấy là kẻ thù của tín ngưỡng của tôi và là một tên hải tặc, tôi vẫn sung sướng vì ông ta đã cứu ngài, thưa Đại nhân. Chúa vận hành theo những con đường thật bí hiểm. Ngài đã làm cho ông ta được vinh dự bằng cách cho ông ta làm Samurai.”

“Ông ấy cũng còn là Hatamoto nữa.” Toranaga thích thú vì sự ngạc nhiên thoáng hiện của người thầy tu.

“Ông có mang theo từ điển không?”

“Có thưa Đại nhân, và rất nhiều bản đồ ngài cần, có một số căn cứ Portugal trên đường từ Goa. Cuốn sách ở trong hành lý của tôi. Tôi có thể cho người đi lấy, hay để tôi đưa cho ông ấy sau?”

“Đưa cho ông ấy sau. Tối nay hoặc mai. Ông cũng mang theo báo cáo đấy chứ?”

“Về súng ống được cho là từ Macao tới phải không ạ?”

“Cha Bề trên đang chuẩn bị, thưa Đại nhân.”

“Còn số lượng lính Nhật đánh thuê được sử dụng ở mỗi căn cứ mới của các ông?”

“Cha Bề trên đã yêu cầu một báo cáo hiện tại của tất cả bọn họ, thưa Đại nhân, khi nào xong, Người sẽ chuyển cho Đại nhân ngay.”

“Tốt. Bây giờ hãy nói cho ta biết làm sao ông biết ta được cứu thoát?”

“Không một điều gì xảy ra với Toranaga noh Minowara mà không là đầu đề bàn tán và là huyền thoại của mọi người. Từ Mishima, chúng tôi đã nghe nói Đại nhân chút nữa thì bị động đất nuốt chửng, nhưng

“Kẻ Rợ Mọi Lông Vàng” đã kéo Đại nhân ra. Và Đại nhân cũng làm như vậy cho ông ta và một phu nhân – Tôi chắc là phu nhân Mariko?”

Toranaga gật đầu nhanh.

“Đúng. Nàng đang ở Yokose này.” Ông nghĩ một lát rồi nói:

“Ngày mai, nàng muốn được xưng tội, theo như phong tục của các ông. Nhưng chỉ những điều phi chính trị. Tôi nghĩ là phải ngoại trừ mọi thứ có dính dáng tới tôi và những Hatamoto của tôi, neh? Ta cũng đã giải thích với nàng điều đó.”

Alvito cúi đầu tỏ vẻ hiểu.

“Với sự cho phép của Đại nhân, tôi có thể cầu nguyện cho tất cả các người theo đạo Cơ đốc ở đây, thưa Đại nhân? Tất nhiên là sẽ rất kín đáo. Ngày mai?”

“Ta sẽ cân nhắc chuyện đó.” Toranaga tiếp tục nói tới những vấn đề linh tinh không quan trọng một lúc rồi ông nói:

“Ông có một bức thư cho tôi? Của ông tu sĩ Trưởng của ông?”

“Thưa Đại nhân, xin cung kính trình với Đại nhân, đây là một lá thư riêng.”

Toranaga giả vờ suy nghĩ điều này, mặc dầu ông đã quyết định chính xác cuộc gặp gỡ sẽ tiến hành như thế nào và đã trao cho Anjin-san những chỉ thị đặc biệt phải hành động như thế nào và phải nói gì.

“Tốt lắm”, ông quay sang Blackthorne.

“Anjin-san, ông có thể đi và chúng ta có thể nói chuyện tiếp sau.”

“Thưa Đại nhân, vâng.” Blackthorne trả lời:

“Xin lỗi, con Black Ship. Đến Nagasaki.”

“À, phải rồi. Cám ơn”, ông trả lời, hài lòng vì câu hỏi của Anjin-san nghe không có vẻ như được diễn tập.

“Thế nào, Tsukku-san, nó đã cập bến chưa?”

Alvito giật mình vì tiếng Nhật của Blackthorne, và hết sức bối rối vì câu hỏi đó.

“Vâng thưa Đại nhân. Nó đã cập bến cách đây mười bốn hôm.”

“A, mười bốn?” Toranaga nói.”ông hiểu, Anjin-san?”

“Có. Xin cám ơn.”

“Tốt. Ông muốn biết gì khác, sau này có thể hỏi Tsukku-san, neh?”

“Vâng, thưa Đại nhân. Xin lỗi.” Blackthorne đứng lên, cúi chào và bỏ đi.

Toranaga nhìn theo anh.

“Một con người lý thú nhất – đối với một hải tặc. Nào, bây giờ, trước hết hãy nói cho ta nghe về con Black Ship.”

“Nó đã đến nơi an toàn, thưa Đại nhân, với số lượng lụa lớn nhất từ xưa đến nay.” Alvito cố gắng để giọng nói mình nghe có vẻ hăm hở.

“Sự sắp xếp giữa các Chúa Harima, Kyama, Onoshi và Đại nhân đã có kết quả. Kho tàng của Đại nhân sẽ giàu hơn hàng chục nghìn koban vào giờ này sang năm. Chất lượng của lụa là nhất, thưa Đại nhân. Tôi đã mang một tấm cho sĩ quan hậu cần của Đại nhân. Hạm trưởng Fêriêra gửi Đại nhân lời chào trân trọng và hy vọng sớm được tiếp kiến Đại nhân. Đó chính là lý do tôi đã chậm tới gặp Đại nhân. Tổng giám mục phái tôi đi từ Osaka tới Nagasaki để coi xem mọi thứ có trọn vẹn không. Ngay khi tôi rời Nagasaki, chúng tôi nghe nói Đại nhân đã rời Yedo để đi Izu, vì vậy tôi đã đi hết sức nhanh tới đây, bằng tàu biển đến cảng Nimazu trong một chiếc xuồng nhanh nhất của chúng tôi, rồi bằng đường bộ ở Mishima tôi đã gặp Chúa Zataki và xin phép được đi cùng Người.”

“Tàu của ông vẫn còn ở Nimazu?”

“Vâng, thưa Đại nhân. Nó sẽ đợi tôi ở đó.”

“Tốt.” Trong một giây, Toranaga tự hỏi không biết có nên gửi Mariko đi tàu đó tới Osaka không, rồi ông quyết định giải quyết vấn đề này sau.

“Làm ơn đưa mẫu hàng cho sĩ quan hậu cần tối nay.”

“Thưa Đại nhân, vâng.”

“Và công việc thu xếp cho các hàng hóa năm nay đã xong rồi chứ?”

“Vâng, hoàn toàn.”

“Tốt. Bây giờ đến phần khác. Phần quan trọng.”

Đôi bàn tay Alvito khô lại.

“Cả Chúa Kiyama và Onoshi không ai đồng ý bỏ tướng Ishido. Tôi xin lỗi. Họ không đồng ý nhập cờ của Đại nhân mặc dù chúng tôi đã hết sức có ý kiến.”

Giọng của Toranaga trở nên thấp xuống và tàn ác.

“Ta đã chia ra là ta yêu cầu nhiều hơn là ý kiến!”

“Tôi xin lỗi đã đưa lại tin tức xấu về phương diện này, thưa Đại nhân, nhưng không ai đồng ý công khai…”

“À, công khai, ông nói vậy? Thế còn riêng – bí mật thì sao?”

“Vì riêng thì họ đều cứng rắn như công…”

“Ông nói với họ riêng hay cùng một lúc?”

“Tất nhiên là cùng một lúc, và cả riêng nữa, một cách rất tâm tình, nhưng tất cả những điều chúng tôi gợi ý đều không…”

“Các ông chỉ gợi ý một phương hướng hành động? Tại sao ông không ra lệnh cho họ?”

“Như cha Tổng giám mục nói, thưa Đại nhân, chúng tôi không thể ra lệnh cho các Daimyo hoặc bất cứ…”

“A, nhưng ông có thể ra lệnh cho những người theo đạo của ông? Neh?”

“Vâng. Thưa Đại nhân.”

“Ông có doạ khai trừ họ không?”

“Không, thưa Đại nhân.”

“Tại sao?”

“Bởi vì họ không phạm phải một tội ác ghê gớm nào hết.” Alvito nói mạnh mẽ, như ông và Dell’Aqua đã đồng ý, nhưng lòng ông xốn xang và ông ghét phải đưa những tin khủng khiếp, bây giờ lại còn tệ hại hơn nữa bởi vì Chúa Harima, người chính thức được sở hữu Nagasaki, đã nói riêng với họ là tất cả của cải lớn lao và ảnh hưởng của ông sẽ đưa cho Ishido.

“Xin Đại nhân tha lỗi cho, nhưng tôi không lập ra những luật lệ thần thánh cũng như Đại nhân lập qui tắc cho võ sĩ đạo, con đường của các chiến binh. Chúng tôi, chúng tôi phải chiều theo…”

“Ông làm cho một kẻ tội nghiệp phải bị ruồng bỏ vì một hành động tự nhiên như chăn gối, nhưng khi hai người theo đạo của ông cư xử không theo tự nhiên – phải, thậm chí còn phản nghịch nữa – khi ta cần sự giúp đỡ của ông, sự giúp đỡ khẩn cấp – và ta là bạn của ông – thì ông lại chỉ

“Gợi ý.” Ông hiểu sự nghiêm trọng của vấn đề, neh?”

“Tôi xin lỗi Chúa công. Xin tha lỗi cho tôi, nhưng…”

“Có lẽ ta sẽ không tha lỗi cho ông, Tsukku-san. Điều này đã được nói từ trước: bây giờ mọi người đều phải chọn chỗ đứng”, Toranaga nói.

“Tất nhiên chúng tôi đứng ở phía Đại nhân. Nhưng chúng tôi không thể ra lệnh cho Chúa Kiyama hay Chúa Onoshi làm một điều…”

“May quá, tôi lại có thể ra lệnh cho những người theo đạo Cơ đốc của tôi.”

“Thưa Đại nhân?”

“Tôi có thể ra lệnh thả Anjin-san. Với tàu của ông ấy. Với đại bác của ông ấy.”

“Xin Đại nhân hãy cẩn thận ông ta. Người hoa tiêu đó khôn ngoan quỷ quái, nhưng ông ta là người dị giáo, một tên hải tặc, không thể tin…”

“Ở đây Anjin-san là Samurai và Hatamoto. Ở ngoài biển có lẽ ông ta là hải tặc. Nếu ông ta là hải tặc, ông ta có thể lôi cuốn nhiều tên cướp biển và wako về phía mình nhiều lắm. Cái gì một người nước ngoài làm ở trên biển là việc riêng của ông ta, neh? Đó luôn luôn là chính sách của chúng tôi. Neh?”

Alvito giữ yên lặng và làm đầu óc mình hoạt động. Không ai có thể lường được cái anh chàng Ingeles này lại trở nên gần gũi với Toranaga như vậy.

“Hai vị Daimyo theo Cơ đốc giáo không cam kết gì, dù là bí mật nữa sao?”

“Không, thưa Đại nhân. Chúng tôi đã cố gắng…”

“Không một thỏa hiệp nào hết?”

“Không, thưa Đại nhân…”

“Không mặc cả, không dàn xếp, không thỏa hiệp, không gì hết?”

“Không, thưa Đại nhân. Chúng tôi đã cố gắng dụ hoặc và thuyết phục. Xin Đại nhân tin cho.” Alvito biết đã mắc bẫy và ông đã để lộ chút ít thất vọng.

“Nếu đó là tôi thì, vâng. Tôi sẽ đe dọa rút phép thông công của họ, mặc dù đó sẽ chỉ là một sự đe dọa vờ, bởi vì tôi không bao giờ thực hành triệt để, trừ phi họ phạm phải một tội lỗi ghê gớm mà không sám hối, không xưng tội. Nhưng cho dù chỉ là đe dọa thôi, cũng là sai lầm. Tôi sẽ bị nguyền rủa suốt đời.”

“Có phải ông nói nếu họ phạm vào tín điều của ông thì ông sẽ khai trừ họ không?”

“Vâng. Nhưng tôi không nói điều đó có thể được sử dụng để đưa họ về phía ngài, thưa Đại nhân. Xin tha lỗi, nhưng họ… họ hoàn toàn chống lại Đại nhân lúc này. Tôi xin lỗi, nhưng đó là sự thực. Cả hai đều nói rất rõ, cùng nhau và từng người một. Trước đức Chúa, tôi cầu cho họ thay đổi ý kiến. Chung tôi xin.hứa với Đại nhân, chúng tôi sẽ cố gắng, cha Tổng giám mục và tôi. Chúng tôi đã thực hiện lời hứa. Trước Chúa, chúng tôi đã thất bại!”

“Vậy tôi sẽ thua”, Toranaga nói.

“Ông biết điều đó, phải không ông? Nếu họ đứng lên liên minh với Ishido, tất cả các Daimyo theo Cơ đốc sẽ đứng về phía ông ấy. Vậy ta phải thua. Hai mươi Samurai chống lại một của ta. Neh?”

“Vâng.”

“Kế hoạch của họ là gì? Khi nào họ sẽ tấn công tôi?”

“Tôi không biết, thưa Đại nhân.”

“Nếu biết, ông có nói với tôi không?”

“Có Vâng, có.”

Ta ngờ lắm, Toranaga nghĩ, ông nhìn vào đêm, nỗi lo lắng dường như đang nghiền nát ông. Cuối cùng phải là

“Bầu trời đỏ thắm” chăng, ông tự hỏi một cách vô vọng? Cuộc tấn công ngu ngốc, chắc chắn sẽ thất bại,vào Kyoto?

Ông căm ghét chiếc lồng đầy tủi nhục mà ông đã ở trong. Giống như Taiko và Goroda trước đó, ông phải tha thứ cho những thầy tu Cơ đốc bởi vì những thầy tu này không thể tách khỏi những lái buôn Portugal như ruồi với ngựa. Không có các thầy tu, không có thương mại. Thiện chí của họ làm những người thương lượng và môi giới trong chiến dịch chiếc Black Ship là rất quan trọng bởi vì họ nói ngôn ngữ của hai bên và được cả hai phía tin tưởng và, nếu như các thầy tu bị cấm hoàn toàn ở vương triều này, thì tất cả những người rợ sẽ ngoan ngoãn giong buồm bỏ đi. Không bao giờ quay trở lại nữa. Ông nhớ lại có một lần Taiko đã cố tìm cách đuổi các tu sĩ đi nhưng vẫn khuyến khích thương mại. Trong hai năm liền, không có Tầu Đen nữa. Gián điệp đã báo cáo, vị tướng lĩnh khổng lồ của các cha cố ngồi giống như một con nhện đen chứa đầy nọc độc ở Macao, đã ra lệnh chấm dứt buôn bán để trả đũa Sắc lệnh trục xuất của Taiko, biết rằng cuối cùng Taiko cũng phải nhún. Đến năm thứ ba, ông ta đã cúi mình trước điều không thể tránh khỏi và mời các thầy tu trở lại, làm ngơ trước Sắc lệnh của chính mình, trước sự phản phúc và dấy loạn mà các thầy tu đã ủng hộ.

Không thể trốn tránh thực tại đó, Toranaga nghĩ, không thể được. Ta không tin những điều Anjin-san nói – rằng buôn bán cũng thiết yếu đối với những người rợ như đối với chúng ta và tính tham lam của họ làm họ phải buôn bán, bất kể chúng ta có làm gì đối với các thầy tu. Sự liều lĩnh.này quá lớn để thể nghiệm và không có thì giờ, mà ta cũng không có quyền. Chúng ta đã thể nghiệm một lần và đã thất bại. Ai biết được? Có lẽ các thầy tu sẽ đợi chúng ta mười năm, họ cũng đủ tàn bạo. Nếu các thầy tu ra lệnh không buôn bán, ta tin rằng sẽ không có buôn bán. Chúng ta không thể đợi mười năm. Ngay cả năm năm nữa. Và nếu chúng ta trục xuất tất cả những người rợ thì phải mất hai mươi năm, rợ người Anh mới lấp được chỗ trống, nếu Anjin-san nói tất cả sự thật, và nếu – và đó là một chữ nếu mênh mang – nếu người Trung Hoa đồng ý buôn.bán với họ đổi lại với những người rợ phương Nam. Ta tin người Trung Hoa không thay đổi phương thức của họ. Họ không bao giờ làm như thế. Hai mươi năm quá lâu. Mười năm cũng quá lâu.

Không thể trốn tránh được thực tại đó. Hoặc thực tại tồi tệ nhất, cái bóng ma đã bí mật làm Goroda và Taiko hóa đá, bây giờ lại ngóc cái đầu kinh tởm của nó lên: các thầy tu Cơ đốc giáo cuồng tín và không hề biết sợ hãi, nếu bị đẩy quá xa, sẽ để tất cả ảnh hưởng và quyền lực thương mại, sức mạnh trên biển, đằng sau một trong những Daimyo Cơ đốc giáo vĩ đại nhất. Sau đó, họ sẽ ủng hộ lực lượng xâm lược gồm những kẻ chinh phục cuồng tín, có vũ khí hiện đại nhất để ủng hộ vị Daimyo Cơ đốc giáo duy nhất này – giống như họ đã làm lần trước. Bản thân họ, bất kể số lượng bọn rợ xâm lăng nào và các thầy tu của họ cũng không phải là mối đe dọa đối với các lực lượng hợp nhất áp đảo của chúng ta. Chúng ta đã đập tan binh đoàn của Kublai Khan và chúng ta có thể đương đầu với bất cứ kẻ xâm lăng nào. Nhưng liên kết với một người trong chúng ta, một Daimyo lớn theo Cơ đốc giáo với những đạo quân Samurai, tiến hành những cuộc nội chiến trên khắp vương triều, điều này cuối cùng sẽ cho vị đaiymô này sức mạnh tuyệt đối đối với tất cả chúng ta.

Kiyama hay Onoshi? Bây giờ đã rõ, đó phải là kế hoạch của thầy tu. Thời điểm đã hoàn hảo. Nhưng Daimyo nào?

Lúc đầu cả hai đều được Harima của Nagasaki giúp đỡ. Nhưng ai sẽ mang lá cờ cuối cùng? Kiyama – bởi vì Onoshi , người bị hủi sẽ không ở lâu trên mặt đất này, Kiyama sẽ là cuộc sống được bảo đảm, không đau đớn, vĩnh hằng trong thiên đường Cơ đốc giáo với một chỗ ngồi thường xuyên phía tay phải Chúa Cơ đốc.

Bây giờ họ có bốn trăm nghìn Samurai. Căn cứ của họ là Kyushu và bán đảo đó an toàn thoát khỏi vòng kiểm soát của ta. Hai người này hợp nhau lại có thể dễ dàng khống chế toàn đảo, rồi họ sẽ có cơ man là quân đội, cơ man là lương thực, tất cả binh thuyền cần thiết cho cuộc xâm lăng, tất cả lụa là và Nagasaki. Trên khắp đất nước, có lẽ có năm hoặc sáu trăm nghìn người Cơ đốc nữa. Trong số này hơn một nửa, – những người cải đạo-là Samurai, tất cả đều thành thạo, một bọn rất đông những kẻ phản bội, gián điệp, hoặc sát nhân – các thầy tu có ra lệnh không. Mà tại sao họ lại không? Họ sẽ có được những cái họ cần hơn chính cả cuộc sống quyền hành tuyệt đối đối với tất cả những linh hồn của chúng ta và như vậy đối với linh hồn của mảnh đất này của các vị thần linh thừa hưởng mảnh đất của chúng ta và tất cả những gì nó chứa đựng – đúng như Anjin-san đã giải thích, điều ấy đã xảy ra năm mươi lần trong Thế giới mới của họ…Họ đã cải đạo một nhà vua, rồi sử dụng vua chống lại người của chính mình, cho đến khi tất cả mảnh đất này bị nuốt chửng.

Thật dễ dàng cho họ chinh phục chúng ta, cái lũ thầy tu rợ mọi nhỏ xíu này. Họ có bao nhiêu trên khắp nước Nhật? Năm mươi hay sáu mươi? Nhưng họ có sức mạnh và họ tin tưởng. Họ đã chuẩn bị để chết một cách sung sướng cho những tín điều của họ, với lòng tự hào và dũng cảm, với tên của Chúa trên môi họ. Chúng ta thấy điều đó ở Nagasaki khi mà thử nghiệm của Taiko đã tỏ ra là một sai lầm khủng khiếp. Không một thầy tu nào rút lui, hàng chục nghìn người đã chứng kiến những vụ hỏa thiêu, hàng chục nghìn người cải đạo và sự

“Tử vì đạo” đã làm cho thanh danh của Cơ đốc giáo nổi như tồn, những thầy tu Cơ đốc giáo vẫn sống nhờ vào đó cho đến nay.

Đối với ta, các thầy tu đã thất bại, nhưng điều đó không ngăn cản họ theo con đường tàn bạo của họ. Đó cũng lại là một sự thật.

Vậy thì đó là Kiyama.

Kế hoạch đã được thiết lập chưa, Ishido kẻ bị bịp, phu nhân Ochiba và cả Yaemon cũng thế? Harima đã bí mật nhào về phía họ chưa? Không biết ta có nên tung Anjin-san vào chiếc Black Ship và Nagasaki ngay lập tức không?

Ta sẽ phải làm gì?

Không hơn bình thường. Hãy kiên nhẫn, hãy tìm sự hài hòa, hãy gạt bỏ tất cả những ưu tư về Ta hay Người, Cái Sống hay Cái Chết, Sự Quên Lãng hay Kiếp Sau, Hiện Nay hay Lúc Ấy, và hãy đẩy một chương trình hành động. Chương trình gì, ông muốn hét to lên trong tuyệt vọng. Không có một chương trình nào hết!

“Hai người đó đứng về phía kẻ thù thật sự, điều ấy làm ta buồn.”

“Tôi thề là chúng tôi đã cố gắng; thưa Đại nhân.”

Alvito nhìn ông thương cảm, ông thầy tu đã thấy được sự nặng nề trong linh hồn của ông.

“Phải. Ta tin như vậy. Ta tin là ông và cha Tổng Giám mục đã giữ lời hứa trang trọng của mình vì vậy ta sẽ giữ lời hứa của ta. Ông có thể bắt đầu xây dựng nhà thờ của ông ở Yedo ngay lập tức. Đất đã được dành sẵn. Ta không thể ngăn cấm các thầy tu và những người lông lá khác vào vương triều, nhưng ít nhất ta cũng có thể không tiếp đón họ ở địa hạt của ta. Những rợ mới cũng sẽ không được đón tiếp như vậy, nếu như họ có tới. Còn đối với Anjin-san…” Toranaga nhún vai.

“Nhưng không biết bao lâu… ờ, đó là karma, neh?”

Alvito thầm hết sức cảm ơn Chúa vì ân xưng của Người trước sự ân xá đột ngột này.

“Cám ơn Đại nhân”, ông ta nói hầu như không thốt được nên lời.'”Tôi biết Đại nhân sẽ không phải hối tiếc điều đó. Tôi cầu nguyện cho kẻ thù của Đại nhân sẽ tan xác như trấu và Đại nhân sẽ gặt hái được những phần thưởng tự trên trời.”

“Tôi xin lỗi vì những lời lẽ gay gắt của tôi. Chúng đã được nói lên trong lúc giận dữ. Có quá nhiều…”

Toranaga đứng dậy trầm ngâm

“Ông được phép của tôi làm khóa lễ ngày mai, ông bạn già.”

“Cám ơn Đại nhân”, Alvito nói, cúi chào rất thấp, lòng thấy thương cái con người vốn uy nghi ấy.

“Cám ơn Đại nhân với tất cả tấm lòng của.tôi. Cầu cho đấng linh thiêng ban phước cho Đại nhân và bảo vệ Đại nhân.”

Toranaga bước vào trong quán, các vị tu sĩ của ông đi theo.

“Naga-san”

“Dạ, thưa phụ thân”, chàng trẻ tuổi nói, vội vã tiến lên.

“Phu nhân Mariko ở đâu?”

“Ở đó, thưa Đại nhân, cùng với Buntaro-san.” Naga chỉ vào phòng trà nhỏ có ánh đèn phía rào trong vườn, có những bóng người bên trong.

“Con có làm gián đoạn chanoyu không?” Chanoyu là một nghi thức Trà đạo hết sức long trọng.

“Không. Cái đó không bao giờ được can thiệp vào. Omi và Yabu-san đâu?”

“Họ ở trong quán của họ, thưa Đại nhân. Naga chỉ vào dãy nhà thấp bên kia sông, gần phía bờ tít xa.

“Ai chọn cái đó?”

“Con, thưa Đại nhân. Xin Đại nhân tha thứ, Đại nhân đã bảo con tìm cho họ một quán ở bên kia cầu. Con có hiểu sai ý Đại nhân không?”

“Còn Anjin-san?”

“Ông ấy ở trong phòng mình, thưa Đại nhân. Ông ấy đang chờ đợi xem Đại nhân có gọi không.”

Toranaga lại lắc đầu.

“Ta sẽ gặp ông ấy ngày mai.” Ngừng một lát rồi ông lại nói, vẫn bằng một giọng xa xôi ấy

“Bây giờ ta đi tắm một chút. Rồi ta không muốn bị quấy rầy cho tới sáng hôm sau, trừ phi…”

Naga chờ đợi bồn chồn, nhìn cha mình ngó mông lung vào khoảng trống, rất băn khoăn về cung cách của ông.

“Thưa phụ thân, phụ thân có làm sao không?”

“Cái gì? Ồ không sao, không sao. Tại sao vậy?”

“Không có gì hết – xin tha lỗi cho con. Phụ thân vẫn còn muốn đi săn sáng sớm không?”

“Đi săn? À phải, đó là một ý kiến hay. Cảm ơn con đã đề ra ý ấy, ờ, như vậy sẽ rất tốt. Con hãy để tâm việc đó, À, tạm biệt… À mà, Tsukku-san được lệnh của cha cho tổ chức một khóa lễ ngày mai. Tất cả những người theo Cơ đốc giáo đều có thể đi. Con cũng đi.”

“Thưa Đại nhân?”

“Ngày đầu năm mới, con sẽ trở thành người theo đạo Cơ đốc.”

“Con?”

“Ừ. Theo tinh thần tự nguyện. Hãy nói riêng với Tsuku-san!”

“Thưa Đại nhân?”

Toranaga thúc giục:

“Con điếc đấy à? Con không hiểu nổi điều đơn giản nhất nữa hay sao?”

“Xin cha tha lỗi. Vâng, thưa cha. Con hiểu.”

“Tốt.” Toranaga lại chìm trong trạng thái lơ đãng, rồi bước đi lang thang, vệ sĩ của ông lẽo đẽo theo. Tất cả các Samurai chào cứng người, nhưng ông không để ý gì đến họ.

Một sĩ quan đến chỗ Naga, cũng lo âu như vậy.

“Chúa công của chúng ta có chuyện gì vậy?”

“Tôi không biết, Yoshinaka-san?” Naga nhìn lại cánh rừng thưa. Alvito vừa đi tiến về phía cầu, chỉ có một Samurai đi cùng ông.

“Phải có điều gì xảy ra với Người.”

“Tôi chưa bao giờ thấy Lãnh chúa Toranaga bước đi nặng nề như thế. Chưa bao giờ. Họ nói là – họ nói là người thầy tu rợ mọi đó là một nhà phù thủy, một người có ma thuật. Hẳn là ông ta nói ngôn ngữ của chúng ta quá giỏi, neh? Liệu ông ấy có bỏ bùa cho Chúa công của chúng ta không?”

“Không. Không bao giờ. Cha tôi thì không bao giờ.”

“Bọn mọi rợ làm cho xương sống tôi run lên, Naga-san. Ông có nghe nói đến chuyện cãi nhau không – Tsukku-san và bọn của ông ta la thét và cãi nhau như những người nông dân vô giáo dục?”

“Có Thật là tởm. Tôi chắc cái con người đó đã phá mất sự hài hòa của cha tôi.”

“Nếu ông biết ý kiến của tôi, thì một mũi tên vào cổ tên thầy tu đó sẽ tránh được cho chủ chúng ta nhiều chuyện phiền hà.”

“Đúng.”

“Có lẽ chúng ta nên nói với Buntaro-san biết về Lãnh chúa Toranaga? Ông ấy là cấp trên của chúng ta.”

“Tôi đồng ý, nhưng để sau. Cha tôi nói rõ là tôi không được làm ngắt quãng chanoyu. Tôi sẽ đợi cho đến khi ông ấy xong.”

*

Trong cái yên ả và thanh bình của ngôi nhà nhỏ, Buntaro cẩn thận mở hộp trà nhỏ bằng đất nung từ đời Đường, và cũng hết sức cẩn thận như vậy, anh ta cầm cái thìa bằng tre lên, bắt đầu giai đoạn cuối cùng của nghi thức. Một cách thật khéo léo, anh ta xúc một thìa đúng số lượng chính xác chất bột màu xanh, đổ vào một chiếc tách bằng sứ không quai. Một chiếc siêu bằng gang cổ đang reo vui trên lò than. Với một vẻ duyên đáng trầm tĩnh, Buntaro đổ nước sôi lục bục vào trong tách, đặt siêu nước lên kiềng, rồi nhẹ nhàng quấy trà lên cho thật đều.

Anh ta thêm một thìa nước mát vào, cúi chào Mariko, đang quì trước mặt anh, và dâng trà. Nàng cúi chào đáp lễ đỡ lấy chén trà cũng bằng một dáng vẻ thanh lịch như vậy thưởng thức chất nước xanh, nhấm ba lần, nghỉ, rồi lại nhấm tiếp cho đến hết. Nàng dâng lại chiếc tách. Anh ta lại lặp lại cách pha trà như trước và lại dâng. Nàng xin anh ta hãy nhấm trà, như nàng đã nhấm. Anh ta nhấm rồi lại nhấm và uống hết. Rồi anh ta pha một tách thứ ba rồi tách thứ tư. Sau đó thì người được mời từ chối một cách lịch sự.

Một cách hết sức cẩn thận, theo nghi thức, anh ta rửa sạch và lau khô chiếc tách, dùng một miếng vải bông tinh tươm rồi đặt cả hai chiếc tách vào chỗ của nó. Anh ta cúi chào nàng và nàng chào anh. Chanoyu đã kết thúc.

Buntaro hài lòng vì đã làm hết sức mình và giờ đây, ít nhất là lúc này, hòa bình đã có giữa hai người. Buổi trưa hôm nay không có được một chút nào hết.

Anh ta đã đón kiệu của nàng. Ngay lập tức, vẫn như bao giờ, anh ta cảm thấy thô lỗ, vụng về tương phản với sự hoàn hảo mong manh của nàng-giống như một con người rừng, man rợ, của bộ lạc Ainu (người cổ sơ của Nhật Bản, mầu da rất vàng) đã có một thời sống trên mảnh đất này nhưng bây giờ đã bị đẩy lên tận phương Bắc, qua bên kia eo biển, tới bán đảo chưa được khai phá của Hôkaiđô. Tất cả những lời nói đã suy nghĩ kỹ đã rời bỏ anh ta, anh ta vụng về mời nàng dự Chanoyu, và nói thêm

“Đã biết bao năm nay chúng ta… tôi chưa bao giờ tổ chức cho bà nhưng đêm nay sẽ thuận tiện.” Rồi anh ta nói buột ra, không có ý định như thế, biết rằng nó ngu ngốc, không lịch thiệp và là một sai lầm lớn.

“Lãnh chúa Toranaga nói đã đến lúc chúng ta nói chuyện.”

“Nhưng Đại nhân thì không, thưa Đại nhân?”

Mặc dù quyết tâm của mình, anh ta đỏ bừng mặt, giọng nói của anh ta gai gai.

“Tôi thích sự hòa hợp giữa hai chúng ta, phải, và hơn thế nữa. Tội không bao giờ thay đổi, neh?”

“Tất nhiên, thưa Đại nhân, tại sao Đại nhân lại thay đổi? Nếu như có khuyết điểm gì thì không phải Đại nhân thay đổi mà chính là thiếp. Nếu như một khuyết điểm nào đó tồn tại là tại thiếp, xin hãy tha lỗi cho thiếp.”

“Tôi phải tha lỗi cho nàng”, anh ta nói, đứng sững sững cao lớn bên cạnh kiệu và nhận thấy một cách sâu sắc những người khác đang nhìn, trong đó có Anjin-san và Omi. Nàng kiều diễm quá, nhỏ bé quá và độc đáo, tóc nàng búi cao, đôi mắt cúi xuống dường như khép nép, nhưng đối với anh ta vẫn là cái băng giá màu đen bao giờ cũng làm anh ta nổi điên lên một cách mù quáng và bất lực, làm anh ta muốn giết, muốn thét muốn quật, muốn đập nát và cư xử theo một cách mà người Samurai không bao giờ làm.

“Tôi đã dành phòng trà cho đêm nay”, anh ta bảo nàng.

“Cho đêm nay, sau bữa ăn chiều. Chúng ta được lệnh cùng ăn bữa chiều với Lãnh chúa Toranaga. Tôi sẽ rất lấy làm vinh dự nếu sau đó nàng sẽ làm khách của tôi.”

“Chính thiếp là người được vinh dự”, Nàng cúi chào, và chờ đợi vẫn với đôi mắt cúi xuống, và anh ta muốn đập nàng cho đến chết ở dưới sân này rồi quay đi, rồi rạch lưỡi dao ngang dọc vào bụng mình và để cho nỗi đau muôn thuở rửa sạch sự giầy vò khỏi linh hồn anh ta.

“Anh ta thấy nàng ngước lên nhìn anh ta một cách sâu sắc.

“Còn gì nữa không, thưa Đại nhân?” nàng hỏi quá nhẹ nhàng.

Mô hôi chảy ròng ròng xuống lưng và hai bắp đùi ướt đẫm cả kimono, ngực cũng đau đớn như đầu anh ta.

“Nàng sẽ – nàng sẽ ở trong quán đêm nay.” Anh ta đã rời nàng và bố trí cẩn thận cho cả đoàn hành lý. Ngay sau khi có thể, anh đã trao lại nhiệm vụ của mình cho Naga vào rảo bước với một vẻ hùng dũng giả vờ xuống bờ sông, và khi còn lại một mình, anh trần truồng lao vào trong dòng thác, không để ý tới sự an toàn, vùng vẫy trong dòng sông cho đến khi đầu anh ta quang sáng và cơn đau giần giật tan đi.

Anh ta nằm trên bãi, trấn tĩnh lại. Giờ đây, sẽ bắt đầu thì phải tiếp tục. Còn ít thì giờ. Anh lấy lại sức mạnh, đi trở lại cổng vườn rồi đứng lại đó, suy nghĩ một lúc kế hoạch. Đêm nay anh ta muốn mọi sự được hoàn hảo. Rõ ràng căn nhà không hoàn hảo, cũng giống như cảnh vườn của nó. Không sao, anh ta suy nghĩ, lúc này đã hoàn toàn bận bịu với công việc của mình, công việc sẽ phải tiến hành. Đêm tối sẽ che đi nhiều khuyết điểm và ánh sáng sẽ tạo ra hình dáng nó thiếu.

Đầy tớ đã mang đến những thứ anh ta ra lệnh – chiếu, đèn dầu bằng sứ, dụng cụ lau chùi – đẹp nhất Yokose, mọi thứ đều mới nhưng nhã nhặn, kín đáo và không khoa trương.

Anh cởi kimono ra, đặt những thanh kiếm xuống, bắt đầu kỳ cọ. Trước hết là phòng tiếp khách nhỏ xíu, bếp và hàng hiên. Rồi đến lối đi uốn khúc, những phiến đá lát, cuối cùng là mảnh vườn bao quanh. Anh ta kỳ cọ, quét dọn, lau chùi cho đến khi tất cả mọi thứ nhẵn bóng. Cúi mình làm công việc lao động chân tay đó chính là phần mở đầu của chanoyu, chính một mình chủ nhân phải làm cho tất cả trở nên hoàn hảo. Việc đầu tiên là phải làm cho thật sạch.

Đến xẩm tối, anh ta đã làm xong phần lớn sự chuẩn bị. Rồi anh ta tắm rửa thật cân thận, ráng chịu bữa ăn tối và tiếng hát. Ngay sau khi có thể được, anh đã thay quần áo màu xẫm hơn và vội vã trở lại vườn. Anh gài cổng lại. Trước tiên, anh để một cây nến nhỏ vào đèn dầu. Rồi cẩn thận vẩy nước lên những phiến đá và cây cối, đây đó có những ánh sáng lung linh cho đến khi mảnh vườn nhỏ xíu trở thành một miền tiên giới có những giọt sương giỡn múa trong hơi ấm của cơn gió mùa hè. Anh sắp xếp lại một số đèn lồng. Cuối cùng đã mãn nguyện, anh mở then cửa và đi ra tiền sảnh. Những miếng than được lửa chọn cẩn thận xếp chính xác theo hình chóp trên cát trắng vẫn cháy theo đúng qui cách. Những bông hoa dường như bày rất đúng theo Takonama. Một lần nữa, anh lại lau những vật dụng đã nhẵn bóng. Siêu nước bắt đầu reo, anh hài lòng với âm thanh càng tôn lên vì anh đã để những miếng sắt ở dưới.

Tất cả đã sẵn sàng. Điều đầu tiên của chanoyu là sự sạch sẽ, hai là tính đơn giản hoàn toàn. Điều cuối cùng và quan trọng nhất là sự thích hợp đối với một vị khách hoặc những vị khách.

Anh nghe tiếng chân nàng trên những phiến đá lát, tiếng tay nàng theo nghi thức nhúng vào bể chứa nước sông mới và lau khô chúng. Ba bậc nhẹ nhàng lên hàng hiên. Thêm hai bước nữa lên cửa buông rèm. Ngay cả nàng cũng vẫn phải cúi mới qua được cánh cửa nhỏ xíu được cố ý làm như để cho tất cả mọi người phải khiêm tốn. Trong một bữa chanoyu, tất cả đều bình đằng, chủ và khách, vị Daimyo cao nhất cũng như một Samurai bình thường. Ngay cả một nông dân nữa, nếu anh ta được mời.

Trước tiên, nàng quan sát cách cắm hoa của chồng. Anh ta đã chọn hoa của một cành hồng trắng dại chỉ nở một bông, một giọt nước trên chiếc lá xanh và đặt trên nền đá đỏ. Mùa thu đang tới, anh đã nêu lên ý ấy trong bông hoa, nói qua bông hoa, chớ khóc cho mùa lá rụng, cho mùa chết khi bắt đầu ngủ; hãy hưởng giây phút ban đầu sống cái dịu mát huy hoàng của mùa thu trong buổi tối hè… Chẳng bao lâu nước mắt sẽ tan đi, cả bông hồng nữa, chỉ những tảng đá sẽ còn lại – chẳng bao lâu nữa, cả em và tôi sẽ tan đi, chỉ những tảng đá sẽ còn lại.

Anh ngắm nhìn nàng, lạc thần trí, gần như trong một cơn mê mà ông chủ bữa trà đôi khi may mắn cảm nhận được tất cả đều hòa hợp với ngoại giới. Nàng cúi chào bông hoa để tỏ lòng tôn kính rồi tới quì đối diện với anh. Kimono của nàng màu nâu sẫm, một sợi chỉ vàng cháy ở đường viền làm tôn thêm cổ và mặt nàng; thắt lưng của nàng màu xanh thẫm thật hợp với chiếc kimono trong của nàng; tóc nàng đơn giản, chải hất ngược, không điểm trang.

“Xin mời nàng”, anh nói, cúi chào và nghi thức bắt đầu.

“Đây là niềm vinh dự của em” nàng đáp lại, chấp nhận vai trò của mình.

Anh phục vụ món ăn tí xíu, trên chiếc khay khảm, đôi đũa được đặt trên, những miếng cá bé tí để trên cơm, để tăng thêm hiệu quả, một vài bông hoa dại anh đã tìm được gần bờ sông, rải rác xô lệch một cách hoàn hảo. Khi nàng ăn xong, anh nâng khay lên, mỗi cử động đều nghi thức hóa – nhất nhất đều được quan sát, xét đoán và ghi lại – đưa nó qua khung cửa thấp vào trong bếp.

Khi còn lại một mình, thoải mái, Mariko nhìn ngọn lửa một cách xét đoán, những viên than, một ngọn núi đỏ rực trên một biển cát trắng tinh dưới chiếc kiềng, tai nàng nghe tiếng rít của lửa hòa với tiếng thở dài của siêu nước ở trên, và từ nhà bếp không nhìn thấy tiếng xì xì của vải trên đồ sứ, và tiếng nước rửa những thứ đồ sạch rồi. Cuối cùng mắt nàng lang thang nhìn từ những chiếc rui cong queo đến những cây tre, cây bương trên mái nhà. Những cái bóng do mấy chiếc đèn anh đặt dường như ngẫu nhiên đã làm cái nhỏ thành lớn, cái vô nghĩa thành quí giá; toàn bộ là một sự hài hòa tuyệt đối. Sau khi đã nhìn ngắm tất cả, đo linh hồn nàng vào tất cả, nàng lại đi ra vườn, tới cái bể cạn, thiên nhiên đã được tạo trong đá. Nàng lại rửa tay và miệng trong nước mới và mát, lau khô đôi tay bằng một chiếc khăn mới.

Khi nàng trở lại chỗ của mình, anh nói:

“Có lẽ bây giờ mời nàng dùng trà?”

“Đó là niềm vinh dự của thiếp. Nhưng xin chàng đừng quá bận tâm vì thiếp.”

“Đây là niềm vinh dự của tôi. Nàng là khách của tôi.”

Và anh đã phục vụ nàng. Bây giờ là hết.

Trong cái đêm yên lặng, Mariko không cử động một giây và vẫn trong tư thế bất động, nàng không muốn chấp nhận sự kết thúc hoặc khuấy động cái thanh thản bao quanh nàng. Nhưng nàng cảm thấy sức mạnh đang lớn dần trong mắt anh. Chanoyu đã kết thúc. Bây giờ cuộc sống phải bắt đầu trở lại.

“Chàng làm thật hoàn hảo”, nàng thì thào, buồn tràn ngập lòng. Một giọt nước mắt rơi khỏi mắt nàng, nước mắt rơi xé rách tim anh.

“Không. Không! Xin tha lỗi cho tôi.. nàng mới là hoàn hảo… nó cũng bình thường thôi”, anh nói, giật mình vì lời khen bất ngờ.

“Tuyệt vời nhất, thiếp chưa bao giờ thấy như thế”, nàng nói, xúc động vì sự ngay thật trong giọng nói của anh.

“Không, không, xin tha lỗi cho tôi, nếu như nó có được chỉ là bởi vì nàng, Mariko-san. Nó chỉ được thôi – nàng làm cho nó đẹp hơn.”

“Đối với thiếp, nó thật là hoàn hảo. Mọi thứ. Thật là buồn thay, những người khác xứng đáng hơn thiếp mà không được chứng kiến cảnh này!” Mắt nàng ướt trong ánh sáng lung linh.

“Nàng đã chứng kiến. Đó là tất cả. Nó chỉ để riêng cho mình nàng. Những người khác hẳn đã không hiểu nổi.”

Nàng thấy những giọt nước mắt nóng bỏng trên đôi má. Bình thường hẳn nàng đã lấy làm xấu hổ nhưng bây giờ nó không hề làm nàng bối rối.

“Cảm ơn chàng, em biết cám ơn chàng thế nào đây?”

Anh cầm một cành xạ hương dại lên, ngón tay anh run rẩy, nghiêng người, nhẹ nhàng đón lấy một giọt nước mắt của nàng. Anh lặng lẽ nhìn xuống giọt nước mắt ấy và cành cây trông như bé đi vì cổ tay khổng lồ của anh.

“Công việc của tôi – bất cứ một công việc nào – cũng chẳng thể đầy đủ đối với cái đẹp này.Cám ơn em.”

Anh ngắm nhìn giọt nước mắt trên lá. Một mẩu than rơi xuống núi và không suy nghĩ, anh cầm cái kẹp để lại nó vào chỗ. Một vài tàn lửa từ đỉnh núi giỡn đùa trong không gian, và nó trở thành một núi lửa phun.

Cả hai nổi trôi trong một nỗi thương nhớ dịu ngọt, cùng gắn bó vì cái đơn giản của một giọt nước mắt, cùng hài lòng trong cái bình yên, gắn bó trong sự khiêm nhường, biết rằng cái đã được cho đã được trả lại trong trinh trắng.

Sau đó anh nói:

“Nếu nhiệm vụ chúng ta không ngăn cấm, tôi sẽ xin nàng cùng đi với tôi vào cõi chết. Bây giờ.”

“Em sẽ đi với chàng. Vui vẻ” Nàng trả lời ngay.

“Chúng ta hãy cùng đi vào cái chết. Bây giờ.”

“Chúng ta không thể làm như thế. Nhiệm vụ của chúng ta là cho Lãnh chúa Toranaga.”

Nàng lấy ra một lưỡi dao nhỏ trong thắt lưng và cung kính đặt nó lên chiếu.

“Vậy xin hãy để thiếp chuẩn bị đường đi.”

“Không. Như vậy chúng ta sẽ buông lơi nhiệm vụ.”

“Cái gì phải đến, sẽ đến. Chàng và em không thể quay lại cán cân.”

“Đúng. Nhưng chúng ta có thể không đi trước chủ của chúng ta. Cả nàng cũng như tôi. Người cần mỗi chư hầu có thể tin cậy được trong một thời gian lâu hơn nữa. Xin hãy tha lỗi cho tôi, tôi phải ngăn cấm điều đó.”

“Em sẽ rất vui lòng được ra đi đêm nay. Em sẽ sẵn sàng. Còn hơn thế nữa, em hoàn toàn ao ước sang thế giới bên kia. Vâng. Linh hồn em tràn ngập vui sướng.” Một nụ cười do dự.

“Xin chàng tha thứ cho em vì đã ích kỷ. Chàng hoàn toàn đúng về nhiệm vụ của chúng ta.”

Lưỡi dao sắc ngọt lung linh trong ánh nến. Họ ngắm nó, lạc trong suy tưởng. Rồi anh phá vỡ niềm yên lặng này.

“Tại sao lại Osaka, Mariko-san?”

“Có những việc cần phải làm ở đó mà chỉ riêng em mới làm được.”

Lông mày anh cau lại khi ngắm ánh sáng của một ngọn nến rơi xuống giọt nước mắt phát ra thành muôn màu sắc.

“Những việc gì?”

“Những việc có liên quan tới tương lai của nhà chúng ta phải do em làm.”

“Trong trường hợp đó thì nàng phải đi” . Anh nhìn nàng dò hỏi.

“Nhưng chỉ nàng thôi chứ?”

“Vâng. Em muốn thu xếp tất cả công việc gia đình cho đâu vào đấy giữa chúng ta và Chúa Kiyama cho đám cưới của Saruji. Tiền và của hồi môn, đất đai, vân vân. Còn thái ấp của nó được chính thức hóa. Chúa Hiromatsu và Lãnh chúa Toranaga đòi hỏi phải làm điều đo. Em chịu trách nhiệm cho ngôi nhà.”

“Đúng”, anh nói chậm chạp,

“Đó là nhiệm vụ của nàng.” Đôi mắt anh giữ lấy nàng.

“Nếu Lãnh chúa Toranaga nói nàng có thể đi. Vậy hãy đi, nhưng hình như nàng không được phép tới đó. Dù vậy… em phải trở về nhanh. Rất nhanh. Ở lại Osaka một phút nào lâu hơn sự cần thiết là thiếu khôn ngoan”

“Vâng.”

“Đi đường biển sẽ nhanh hơn đường bộ. Nhưng em vẫn từng ghét đường biển.”

“Em vẫn còn ghét đường biển?”

“Em có cần phải đến đó nhanh không?”

“Em nghĩ là nửa tháng hoặc một tháng cũng không hề gì. Có lẽ thế, em cũng không biết nữa. Em chỉ cảm thấy em nên đi ngay.”

“Vậy thì chúng ta hãy để thời gian và việc đi cho Lãnh chúa Toranaga quyết định – nếu người cho phép em đi. Với sự việc Chúa Zataki ở đây và hai lá thư, thì điều đó chỉ có nghĩa là chiến tranh. Đi như vậy sẽ quá nguy hiểm.”

“Vâng. Cám ơn chàng.”

Sung sướng vì sự việc đã xong, anh nhìn chung quanh căn phòng nhỏ một cách hài lòng, lúc này không để ý tới cái hình dáng xấu xí của mình chế ngự không gian, mỗi đùi của anh to hơn vòng lưng của nàng, cánh tay của anh lớn hơn cổ nàng.

“Đây là một căn phòng đẹp, tốt hơn điều tôi dám hy vọng. Tôi thích ở đây. Tôi đã được nhắc lại cho hiểu là một thân thể không là gì khác, chỉ là một căn lều ở nơi hoang vu. Cám ơn em đã tới đây. Tôi rất mừng em đã tới Yokose, Mariko-san. Nếu không có em, tôi đã chẳng bao giờ mở một chanoyu ở đây và không bao giờ lại cảm thấy mình là một với cõi vô cùng.”

Nàng ngập ngừng rồi e thẹn cầm chiếc ấm trà đời Đường. Nó là một chiếc ấm đơn giản, không có hoa văn. Buntaro đã mua của Sen Nakada, người trà đạo nổi tiếng nhất từ xưa tới nay với giá hai mươi nghìn Koku.

“Đẹp quá”, nàng thì thầm, sung sướng sờ chiếc ấm.

“Quá hoàn hảo cho bữa trà này.”

“Đúng.”

“Chàng đúng là bậc thầy đêm nay, Buntaro-san.

Chàng đã cho em quá nhiều hạnh phúc.” Giọng nàng nhỏ, tha thiết và nàng hơi nghiêng người về phía trước một chút.

“Em thấy mọi thứ thật là hoàn hảo, khu vườn và chàng đã khéo dùng nghệ thuật để khắc phục những khuyết tật bằng ánh sáng và bóng tối. Và cái này” – nàng lại sờ chiếc ấm.

“Mọi thứ thật hoàn hảo, ngay cả nét chữ chàng viết trên khăn,

“Ái” – tình thương. Đối với em đêm nay, tình thương là một từ hoàn hảo.” Nước mắt lại rơi trên má nàng.

“Xin tha lỗi cho em”, nàng nói và gạt nước mắt.

Anh cúi chào, lúng túng vì lời khen ngợi đó. Để giấu sự lúng túng, anh bất đầu gói ấm trà trong bao lụa của nó. Khi nói xong, để nó vào trong hộp và đặt nó một cách cẩn thận trước mặt nàng.

“Mariko-san, nếu nhà ta có vấn đề khó khăn về tiền, hãy cầm lấy cái này. Bán nó đi.”

“Không bao giờ!” Đó là gia sản độc nhất, ngoài những thanh kiếm và chiếc cung anh có trong đời này.

“Đó sẽ là vật cuối cùng để phải bán!”

“Xin tha thứ cho tôi, nhưng nếu việc trả tiền cho các chư hầu của tôi gặp khó khăn thì hãy cầm lấy nó.”

“Nếu cẩn thận thì sẽ đủ cho tất cả họ. Cả những vũ khí tốt nhất, cả ngựa tốt nhất. Điều đó, gia đình chúng ta mạnh. Không, Buntaro-san, chiếc ấm đời Đường là của chàng.”

“Chúng ta không còn nhiều thì giờ với nhau. Tôi sẽ đem nó làm di vật cho ai? Saruji?”

Nàng nhìn những phiến than và ngọn lửa thiêu huỷ núi lửa.

“Không. Chờ cho đến khi nó làm bậc thầy của trà đạo đã, cho ngang được với cha nó. Em khuyên chàng nên để chiếc ấm đời Đường cho Lãnh chúa Toranaga, Người xứng đáng, và hỏi người trước khi người chết để phán xét xem con chúng ta có xứng đáng với nó hay không.”

“Và nếu chúa Toranaga thua và chết trước mùa đông, như tôi chắc người sẽ thua, thì sao?”

“Cái gì?”

“Ở đây, trong chốn riêng tư này, tôi có thể nói khẽ với em sự thật đó, không chút vờ vịt. Phải chăng một phần của chanoyu là không có sự vờ vịt? Phải, ông sẽ thua, trừ phi ông được Kiyama và Onoshi và Zataki.”

“Trong trường hợp đó, hãy viết trong di chúc của chàng chiếc ấm đời Đường sẽ được gửi cùng với đoàn tùy tùng tới Thánh thượng xin Người hãy nhận. Rõ ràng chiếc ấm đời Đường xứng đáng với Thánh thể.”

“Đúng. Đó là một sự lựa chọn hoàn hảo.” Anh ngắm nghía con dao rồi nói thêm giọng u buồn:

“A, Mariko-san không gì có thể làm được cho Lãnh chúa Toranaga. Karma của ông ấy đã được định rồi. Dù ông thắng hay thua. Ông thắng hay thua, thì sự giết chóc cũng sẽ rất lớn.”

“Vâng.”

Trầm ngâm, anh rời mắt khỏi con dao của nàng, và ngắm nghía cành xạ hương, giọt nước mất hãy còn trong trắng. Sau đó anh nói,

“Nếu ông chết trước khi tôi chết hoặc nếu tôi chết trước – tôi hoặc một tướng lĩnh của tôi, sẽ giết Anjin-san.”

Nét mặt nàng thanh tao in vào bóng tối. Cơn gió nhẹ lay động sợi tóc nàng, làm nàng trông càng như một pho tượng.

“Xin tha lỗi cho thiếp. Xin hỏi chàng vì sao?”

“Anh ta quá nguy hiểm nếu để sống. Tri thức của anh ta, ý kiến của anh ta mà tôi đã nghe lại… anh ta sẽ làm nhiễm độc cả vương triều này, ngay cả Chúa Yaemon. Lãnh chúa Toranaga đã bị anh ta mê hoặc, neh?”

“Lãnh chúa Toranaga thích kiến thức của ông ấy.” Mariko nói.

“Lúc Lãnh chúa Toranaga chết cũng là lệnh chết của Anjin-san. Nhưng tôi hy vọng Chúa của chúng ta sẽ sáng mắt trước lúc ấy.”

Ngọn đèn cạn phụt lên và tắt. Anh nhìn lên nàng.

“Em cũng bị hắn ta mê hoặc.”

“Ông ấy là một con người hấp dẫn. Nhưng đầu óc của ông ấy rất khác với đầu óc của chúng ta… những giá trị của ông ấy… vâng, đứng về nhiều mặt, khác với chúng ta quá, đến nỗi có những lúc không thể nào hiểu nổi. Có lần em đã cố gắng giải thích chanoyu với ông ấy, nhưng ông ấy chịu.”

“Sinh ra một tên rợ thật là khủng khiếp – khủng khiếp”, Buntaro nói.

“Vâng.”

Mắt anh cúi xuống nhìn lưỡi dao của nàng.

“Một số người nghĩ rằng Anjin-san kiếp trước là người Nhật. Anh ta không giống những người rợ mọi khác và anh ta… Anh ta đã cố gắng rất nhiều để nói và hành động như một người trong chúng ta, mặc dầu anh ta đã thất bại, neh?”

“Em ước giá như chàng nhìn thấy ông ta suýt nữa thì mổ bụng, Buntaro-san. Em… thật là lạ lùng. Em đã thấy cái chết đến với ông ấy. Nếu như kiếp trước ông ấy là người Nhật Bản điều ấy có thể cắt nghĩa được nhiều. Lãnh chúa Toranaga nghĩ, hiện nay ông ấy rất có giá trị đối với chúng ta.”

“Đã đến lúc nàng nên thôi không dạy anh ta nữa và hãy trở lại làm người Nhật đi.”

“Thưa Đại nhân.”

“Tôi nghĩ Lãnh chúa Toranaga bị hắn ta mê hoặc. Cả nàng nữa.”

“Xin tha lỗi cho thiếp, nhưng thiếp không nghĩ là thiếp bị mê hoặc.”

“Cái đêm ở Anjiro, cái đêm xấu xa ấy, cái đêm hôm ấy tôi cảm thấy nàng đứng về phía hắn, chống lại tôi. Tất nhiên đó là một ý nghĩ xấu xa, nhưng tôi cảm thấy điều đó.”

Đôi mắt nàng rời con dao. Nàng nhìn thẳng vào anh và không trả lời. Một ngọn đèn khác phụt lên ngắn ngủi và lụi tàn. Giờ đây căn phòng chỉ còn lại một ngọn đèn.

“Phải, tôi căm ghét hắn ta đêm hôm ấy”, Buntaro tiếp tục bằng một giọng nói bình tĩnh,

“Và muốn hắn chết – cả nàng và Fujiko-san nữa. Cây cung của tôi thì thầm với tôi, như thỉnh thoảng nó vẫn thì thầm đòi một sự chết chóc. Và khi buổi bình minh hôm sau, tôi thấy hắn đi xuống đồi với những khẩu súng ngắn hèn mạt đó, những mũi tên của tôi đòi uống máu hắn. Nhưng tôi đã dẹp việc giết chóc hắn và nhún mình, tự căm ghét thái độ cư xử của tôi hơn chính hắn, xấu hổ vì thái độ của tôi và vì rượu sake.” Cơn mệt nhọc của anh lúc này hiện ra,

“Có biết bao nhiêu là tủi hổ phải mang, em và tôi. Neh?”

“Vâng.”

“Em không muốn tôi giết hắn?”

“Chàng phải làm những gì chàng biết là nhiệm vụ của chàng”, nàng nói.

“Cũng như thiếp luôn luôn làm nhiệm vụ của thiếp.”

“Chúng ta ở lại quán đêm nay”, anh nói.

“Vâng.”

Và rồi bởi vì nàng là một người khách hoàn hảo và chanoyu là cái đẹp của anh đạt tới, anh đã đổi ý và trả lại nàng thời gian và sự yên tĩnh với một số lượng bằng với số lượng anh đã nhận được của nàng.

“Hãy đi vào trong quán. Hãy ngủ”, anh nói. Tay cầm lưỡi dao lên và dâng nó:

“Khi những cây thích trụi lá hay khi nàng từ Osaka trở về – Chúng ta sẽ bắt đầu trở lại. Như chồng như vợ.”

“Vâng. Cám ơn chàng.”

“Em có đồng ý một cách tự nguyện không, Mariko-san?”

“Có. Cám ơn chàng.”

“Trước mặt Chúa của em?”

“Vâng. Trước mặt Chúa.”

Mariko cúi đầu chào và lĩnh nhận con dao, để nó trở lại vào chỗ giấu trước đây, lại cúi chào và ra đi.

Tiếng chân nàng tắt dần. Buntaro nhìn xuống chiếc cành cây nhỏ vẫn còn trong nắm tay anh, giọt lệ vẫn còn kẹt trong một chiếc lá nhỏ xíu. Những ngón tay anh run run khi anh nhẹ nhàng đặt cành lá lên lớp than cuối cùng. Những chiếc lá xanh trong trắng bắt đầu quằn lại và cháy sém. Giọt nước mắt biến đi với một tiếng rít khẽ.

Rồi trong yên lặng, anh bất đầu khóc với lòng căm giận, đột nhiên, tận trong cõi lòng mình, anh chắc nàng đã phản bội anh với Anjin-san.

*

Blackthorne trông thấy nàng ra khỏi vườn, đi qua sân. sáng rực ánh đèn. Anh nín thở trước mầu trắng của sắc đẹp nàng. Bình minh đang len vào bầu trời phía Đông.

“Chào Mariko-san.”

“Ôi, chào Anjin-san! Anh – xin lỗi, anh làm em giật mình – em không nhìn thấy anh ở đó. Anh dậy muộn.”

“Không. Gomen nasai, tôi đúng giờ.” Anh mỉm cười và chỉ vào cảnh ban mai đang hiện dần.

“Đây là một thói quen tôi tập được ở biển, tỉnh dậy trước bình minh, đủ thì giờ để đi lên ngắm bắn mặt trời.” Nụ cười anh thắm lại.

“Chính em mới dậy muộn.”

“Em không nghĩ là… là đêm đã đi qua.” Những Samurai đứng gác ở các cổng và tất cả lối cửa, ngắm nhìn họ một cách tò mò, Naga ở trong số đó. Giọng nàng hầu như không nhận ra được khi nàng chuyển sang tiếng Latin.

“Cẩn thận đôi mắt của anh, em van anh. Ngay cả đêm tối cũng mang mầm tai họa.”

“Anh xin tha thứ.”

Họ quay nhìn , khi những cón ngựa gõ móng, tiến lên cổng chính. Những người giữ chim ưng, đoàn săn và lính gác. Toranaga thẫn thờ từ trong đi ra.

“Mọi thứ đã xong, thưa Đại nhân”, Naga nói.

“Con có thể đi cùng Đại nhân không?”

“Không, không, cám ơn. Con nghỉ một chút. Mariko-san, bữa chanoyu thế nào?”

“Đẹp nhất, thưa Đại nhân. Đẹp hết chỗ nói.”

“Buntaro-san là bậc thầy. Bà thật may mắn.”

“Vâng, thưa Đại nhân.”

“Anjin-san! Ông có thích đi săn không? Ta muốn biết ông thả chim ưng thế nào?”

“Thưa Đại nhân?”

Mariko dịch ngay.

“Vâng, cám ơn”, Blackthorne nói.

“Tốt”, Toranaga vẫy anh ra ngựa.

“Ông đi với tôi.”

“Vâng, thưa Đại nhân.”

Mariko ngắm nhìn họ đi. Khi họ đã phi lên đường, nàng trở về phòng. Người hầu gái của nàng giúp nàng cởi quần áo, gột trang điểm, buông tóc nàng xuống. Rồi nàng bảo với người hầu ở lại trong phòng, và không đánh thức nàng cho đến trưa.

“Vâng, thưa bà!”

Mariko nằm xuống và nhắm mắt lại, cho phép thân thể rơi trong cái êm ái của chiếc chăn lông tơ chim.Nàng kiệt lực và thư duỗi. Bữa chanoyu đã đẩy nàng vào đỉnh cao kỳ lạ của sự thanh thản, và từ đó cái quyết định cao cả đầy niềm tin đi tới cái chết đã đưa nàng tới một đỉnh cao nữa chưa hề đạt tới trước đây. Từ trên đỉnh cao trở về cuộc sống đã làm nàng nhận thức được cái đẹp không thể tin nổi của cái đẹp được sống. Nàng dường như lạc tinh thần khi trả lời Buntaro một cách kiên nhẫn, chắc rằng câu trả lời của nàng cũng hoàn hảo như vậy. Nàng cuộn mình trên giường, rất vui vì lúc này đã có được sự yên bình… cho đến khi lá rụng.

Ôi, Đức Mẹ, nàng cầu nguyện tha thiết, con xin cám ơn Người vì Người đã cho con một ân sủng huy hoàng. Con cám ơn Người và tôn thờ Người với tất cả trái tim và linh hồn con đời đời, vĩnh viễn.

Nàng lặp lại kinh cầu Ave Maria trong sự khiêm cung, và xin sự tha thứ của Chúa công của nàng vì đã để Chúa của nàng trong khoảng trí nhớ.

Mình sẽ làm gì, nàng thầm hỏi trước khi giấc ngủ chiếm lấy nàng, nếu như Buntaro đề nghị ngủ chung?

Mình hẳn là từ chối.

Thế ngộ nhỡ chàng đòi, theo đúng quyền của chàng thì sao?

Mình hẳn là giữ lời hứa với chàng. Ồ đúng. Không có gì thay đổi.

(Kho tư liệu của Hội Nhà văn HP)

Bài viết khác

amazon greens powder