Văn tế thập loại chúng sinh - Nguyễn Du

Văn tế thập loại chúng sinh (文祭十類眾生) còn gọi là Văn chiêu hồn (文招魂) hay Văn tế chiêu hồn (文祭招魂), đây là áng văn viết bằng chữ Nôm là một trong những tác phẩm xuất sắc của đại thi hào Nguyễn Du (1766-1820).Nhân rằm tháng Bảy năm Giáp Ngọ, vanhaiphong.com  trân trọng giới thiệu toàn bộ văn bản bằng bản dịch chữ quốc ngữ của GS Hoàng Xuân Hãn.

Đọc thêm...

NGUYÊN HỒNG :’’…Uống rượu giả vờ say’’ ! - Bài của Lê Xuân Quang

 

Một trong số những nhà văn nổi tiếng của Làng Văn chương Việt giai đoạn Tiền chiến (1930 – 1945) là Nguyên Hồng. Theo Wikipedia: Ông tên thật - Nguyễn Nguyên Hồng, sinh trong một gia đình nghèo, ở Nam Định, mồ côi cha từ nhỏ, theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống , ở trong xóm thợ nghèo Lạc Viên. Hồi kí Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết Bỉ vỏ  ra đời ngay ở đây mà trước nhà khi mưa xuống đầy  những vũng bùn lầy lội...

Đọc thêm...

Tư duy tiểu nông và văn hóa xe máy - bài của Patrick

Xe máy là một trong những “chiếc neo” đang kéo cả một đất nước Việt Nam đi chậm lại bởi vì nó khiến cho con người ta có lối suy nghĩ và hành động tiểu nông và gián tiếp gây ra hậu quả cho toàn bộ lĩnh vực kinh tế và xã hội..

Đọc thêm...

Tại sao cúng rằm tháng 7 và cúng như thế nào?

Nhu cầu tâm linh là một trong ba trục của văn hóa. Do vậy để cúng rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm thế nào cho chuẩn, cho đúng và văn hóa, chúng tôi biên soạn một số điều về ngày lễ này và các bài khấn để các anh các chị tham khảo...

Đọc thêm...

Tư Mã Tương Như - trích Trung Quốc thông sử

Truyện tình yêu của Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân nảy sinh ở thời Hán Vũ Đế. Lúc đó, tự do yêu đương là một việc kinh thiên động địa, cho nên câu chuyện của họ  vô cùng hấp dẫn mọi người...

Đọc thêm...

Phim "Chủ tịch tỉnh" tập 17

 

Mời các bạn xem phim Chủ tịch tỉnh tập 17 trên vanhaiphong.com

 

(Phim được chiếu ở video clip lề bên phải trang web vanhaiphong.com; Tập 18 sẽ được trình chiếu vào thứ 7 tuần sau, mời các bạn tiếp tục đón xem)

 

 

VHP

Số phận buồn thảm của những nhà văn nổi tiếng - Bài của Bích Ngọc

Họ là những con người tài năng nhất trong giới văn chương nhưng cũng đồng thời là những con người có số phận bi đát không kém...

Đọc thêm...

Phim "Chủ tịch tỉnh" tập 16

 

Mời các bạn xem phim Chủ tịch tỉnh tập 16 trên vanhaiphong.com

 

(Phim được chiếu ở video clip lề bên phải trang web vanhaiphong.com; Tập 17 sẽ được trình chiếu vào thứ 7 tuần sau, mời các bạn tiếp tục đón xem)

 

VHP

Người yêu cuối cùng của nhà thơ Lưu Quang Vũ - bài của Nguyễn Việt Chiến

Tác gia kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ đã mất cách đây 25 năm (27.08.1988) nhưng các tác phẩm kịch đồ sộ của ông cho đến ngày hôm nay vẫn còn mang tính thời sự...

Đọc thêm...

Tô Hoài ở Vũng Tàu - Trần Đức Tiến

Người ta đã nói nhiều về tính chuyên nghiệp trong việc viết văn viết báo của Tô Hoài. Ông viết cả khi đang họp, thậm chí đang trên ghế chủ tịch đoàn...

Đọc thêm...

Tìm về nguồn cội - Truyện ký của Đỗ Thị Hoa Lý

Vanhaiphong.com: Đỗ Thị Hoa Lý (thường lấy bút danh Nguyễn  Đỗ Thùy Dương)  là Hội viên Hội VHNT Việt Nam bên Liên bang Nga, hiện đang ở Kiev - Ucraina. Chi là Biên tập báo Nguoixunghekiev.vn kiêm Đại diện của báo Tác phẩm mới tại Ucraina. Là một trong những người con đất Việt đang oằn lưng chống chọi với hoàn cảnh khó khăn của đất nước bạn nhưng vẫn một lòng hướng về tổ quốc...

Đọc thêm...

Vũ tộc Việt Nam trong cộng đồng Bách Việt

alt

Lâu nay, không ít người vẫn nghĩ và nói rằng người Việt Nam là cộng đồng bị Hán hóa vì người ta cho rằng Việt Nam là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm. Đó là quan niệm hết sức sai lầm và một sự ngộ nhận đáng tiếc do những người đó, thậm chí cả giới sử học trong và ngoài nước chưa hiểu biết tường tận về quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Bởi vậy qua nghiên cứu, tìm hiểu về cội nguồn dòng họ Vũ (Võ) Việt Nam đã phần nào giúp chúng ta cắt nghĩa về nguồn gốc của cộng đồng Việt tộc.

Theo các nhà nhân chủng học, thời đại đá mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hỗn chủng giữa hai đại chủng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu. Sang thời đại Đồng – Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam. Như mọi người đã biết, khoảng 3 – 4 vạn năm trước, người Bách Việt thuộc chủng Indonesien và Melennesien có mặt khắp lưu vực sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trung Quốc). Khoảng thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên, người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc vượt Hoàng Hà vào chiến đất của người Việt (người Việt là do các gọi của người Hán, nguyên thủy họ gọi là người Vượt vì do phải vượt sông Hoàng Hà mới tiếp cận với cộng đồng cư dân này, sau do đọc chệch âm thành Việt). Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương Nam. Trải hàng nghìn năm,, sau khi bình định xong lưu vực sông Hoàng Hà, người Hán vượt Dương Tử lấn tiếp đất của người Việt. Qúa trình tranh chấp lâu dài này đã dẫn đến sự lai giống giữa người Mongoloid phương Nam với người Việt và chuyển hóa phần lớn người Việt sang nhóm loại hình Đông Nam Á. Đến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành nhóm loại hình Đông Nam Á) tràn xuống lục địa cũng như hai đảo Đông Nam Á.

Cả bằng chứng khảo cổ lẫn bằng chứng di truyền học cho thấy, từ 2000 năm trước thời kỳ Bắc thuộc, người Hán ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Đến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta – chủ yếu là người Đông Việt, Tây Việt và Nam Việt trước đây – thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt.

Vùng Trung nguyên xưa nay vẫn được xem như cái nôi của nền văn minh Trung Hoa (còn gọi là văn minh Hoàng Hà), văn hóa Lưỡng Thiều và văn hóa Long Sơn dẫn đến hình thành nên nhà Thương. Trong khi đó, việc phát hiện được các di chỉ mộ táng có quan tài thuyền độc mộc rất phổ biến ở phía nam Trung Quốc và vùng Đông Nam Á. Cư dân Việt cổ thuộc các nền văn hóa trong hệ thống Bách Việt là những người chuyên đánh bắt cá, tôm, trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm, đi thuyền, sống trên những nhà sàn. Bách Việt là những tộc người có truyền thống biển, giỏi đi biển Ngược lại, cư dân Trung Nguyên vốn là dân du mục, chuyên chăn nuôi gia súc, trồng kê và đậu nành, giỏi cưỡi ngựa, sống trong các ngôi nhà đất, trồng bông…

Theo học giả Đào Duy Anh, thời Chiến quốc có tới 500 tộc Bách Việt sống rải rác ở Hoa Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Việt Nam, Bắc Lào. Căn cứ vào gia phả họ Vũ làng Mộ Trạch (Hải Dương), cụ thủy tổ là Vũ Công Huy thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân, làm quan thời nhà Đường, quê ở huyện Lộng Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, vợ chồng đã cao tuổi nhưng chưa có con. Vũ Công xin về chí sĩ. Nhân chuyến du ngoạn ở nước ta (lúc bấy giờ gọi là Giao Châu), cụ đến trang Mạn Nhuế (thuộc huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách), thấy đất tốt, người thuần hậu, bèn lưu lại. Tại đây, Vũ Công lấy vợ kế là thôn nữ Nguyễn Thị Đức. Cụ lại đến đống Già hay còn gọi là đống Rờm ở phía nam trang Mạn Nhuế, thấy huyệt đất tốt, liền đem di cốt thân mẫu an táng ở đây.

Ngày 8 tháng Giêng năm Giáp Thân, niên hiệu Trinh Nguyên 20 (804), bà Đức sinh thần nhi, đặt tên là Vũ Hồn. Vũ Hồn là người thông minh xuất chúng, chăm chỉ học hành. Năm 17 tuổi về nước, thi Đình, khoa Canh Tý, trúng tuyển, được nêu bảng vàng (820).Vua Đường Nguyên Hòa xét tài năng, phong chức Lễ bộ Tả thị lang, sau hai năm thăng lên Đô đài ngự sử; năm Ất Tỵ, Bảo Lịch nguyên niên (825), thăng Thứ sử Giao Châu; năm Hội Xương thứ 10 (841) thăng An Nam đô hộ phủ.

Năm 843, Vũ Hồn bắt dân đắp sửa thành phủ, tướng sĩ vì gian khổ đã làm loạn, đốt lầu thành, cướp kho phủ, Vũ Hồn phải chạy về Quảng Châu, sau lại quay về An Nam.

Những năm làm quan ở An Nam, Vũ Hồn thường về Dương Tuyền thăm mộ tổ tại Mạn Nhuế. Có lần ông về trang Nạp Trạch, huyện Đường An, thấy phía tây trang có khu đất tốt, liền cắm đất, lập ấp, đặt tên là Khả Mộ. Năm Hội Xương 13 (843), Vũ Hồn từ quan, mang gia quyến về ấp Khả Mộ cư trú lâu dài. Ngày 3 tháng Chạp năm Qúy Dậu (853) Vũ Hồn qua đời, con cháu an táng tại cánh đồng phía bắc làng, nơi ấy sau này gọi là đống Mả Thần. Mộ ấy cùng miếu thờ ông nay vẫn còn. Đến đời Hậu Lê, Vũ Hồn được phong làm Thành hàng làng.

Con cháu Vũ Hồn cư trú tại làng Mộ Trạch đến nay đã 12 thế kỷ, thời nào cũng có người thành đạt, đặc biệt là học vấn. Từ thời Trần đến thời Nguyễn, Mộ Trạch có 39 tiến sĩ, nếu tính cả Vũ Hồn là 40, chỉ tính những người họ Vũ còn cư trú tại Mộ Trạch đã có 32 người đỗ tiến sĩ, trong đó Vũ Hồn đỗ ở Trung Quốc.

Gia phả họ Trần do thống tôn đời thứ 27 của Trần Ích Tắc là Trần Định Nhân ở thị trấn Lạc Dương bên hồ Động Đình (Hồ Nam – Trung Quốc) lưu giữ (hậu duệ của Trần Ích Tắc bao gồm 18 nhánh sống rải rác ở Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương, Liễu Châu thuộc Trung Quốc) cung cấp: Năm 227 TCN, Phương Chính Hầu Trần Tự Minh đang làm quan cho Triệu Đà, vì mâu thuẫn với người Hán nên đã đem theo dòng Bách Việt di cư xuống phương Nam. Tự Minh được vua An Dương Vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba, cùng Cao Lỗ giúp chống lại Triệu Đà…

Theo tài liệu dân tộc học, về mặt nguồn gốc, Nguyễn là vùng đất ở Thiểm Tây, Trung Quốc, thời Ân (1401-1122 TCN) chưa có khái niệm quốc là nước. Người Ân gọi các vùng xung quanh mình là phương. “Nguyễn phương” đã xuất hiện trong các văn giáp cốt, sau này trở thành họ của những người cư trú ở đấy. Hầu hết họ Nguyễn thuộc tộc Bách Việt.

Trần Phương

Giá trị nhân văn trong tác phẩm văn chương và báo chí - dịch giả Ngọc Châu

Vanhaiphong.com: Nhân lễ trao Giải báo chí quốc gia lần thứ VII và kỷ niệm 88 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam, VHP xin giới thiệu vài suy nghĩ của nhà văn – dịch giả Ngọc Châu trích trong một tham luận đã đọc tại Hội thảo Báo chí thành phố HP...

Đọc thêm...

Đảo mùa gió (tiếp theo) - Nhà văn Đình Kính

... Đêm ấy chúng tôi đốt lửa đi tìm Anh khắp đảo. Mênh mông những sóng, những nước thế này biết Anh ở đâu? Hú lên một tiếng như những ngày nào hò gọi nhau "đi bắt vích đi, anh Nhương ơi!".

Đọc thêm...

Đảo mùa gió - Nhà văn Đình Kính

Vanhaiphong.com - Nhà văn Đình Kính là một trong số không nhiều các nhà văn đã ra Trường Sa ngay từ những ngày mới giải phóng. Năm 1981, tác phẩm Đảo mùa gió của ông được nhà xuất bản quân đội nhân dân ấn hành...

Đọc thêm...

Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi, giặc Trung Quốc xâm lược nhất định thất bại - Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

Trong không khí sục sôi căm thù, cả nước ra trận, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã chấp bút bài kêu gọi toàn dân và toàn quân đứng lên đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc.

Đọc thêm...

Nam quốc sơn hà Nam đế cư - vanhaiphong.com

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;...

Đọc thêm...

Đoản văn - Trần Đức Tiến

MƯA PHÙN

 

Hai mươi năm trước, hai người chia tay nhau. Một cuộc chia tay buồn, thật buồn, nhưng cả hai đều cố giấu nỗi buồn. Anh chuyển hẳn vào Nam sinh sống. Thỉnh thoảng vẫn điện thoại cho chị. Mùa đông ngoài Bắc mưa phùn gió bấc. Quên làm sao những lần đi chơi về khuya mưa đẫm tóc. Má môi chị cũng lạnh đi vì mưa... Tiếng chị nghe thảng thốt trong máy: “Anh bảo trong ấy đang nắng to à”? “Ừ, nắng chang chang. Như giữa mùa hè ngoài Bắc”. Chị lặng người. Thật khó hình dung ra trong một nước, chỉ cách nhau hai đầu dây nói, mà một đầu thì lạnh lẽo u ám, một đầu thì nóng bức chói chang.

Sang tuổi ngũ tuần anh mới có một lần ra Bắc, tình cờ đúng vào vụ rét. Phố nhỏ đèn khuya mưa giăng mờ. Chị tiễn anh ra cửa: “Cầm lấy chiếc ô này che tạm. Để đầu trần, ngấm mưa thì khổ”. Anh cười cười, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lưa thưa sót lại trên đỉnh đầu: “Tôi bỏ ra bao nhiêu tiền chỉ cốt mua lấy cái mưa phùn này thôi”. Rồi không để ý đến cặp mắt loáng ướt của chị, anh quay đầu, vội vã bước.

Mưa phùn! Mưa phùn!

Đi hết đời người chưa chắc đã hết mưa!

 

 

THÁNG NGÀY THONG THẢ

 

Anh hẹn: thứ ba mình lên nhà Phương chơi. Thứ ba, thứ ba! Tại sao lại thứ ba mà không phải là thứ tư, thứ năm hay thứ bảy? Anh quên rồi. Lời hẹn cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, thành quen. Bắt đầu từ mùa khô năm ngoái. Dạo đó, hình như Phương không có giờ lên lớp vào ngày thứ ba. Có nhiều chuyện muốn kể cho Phương nghe lắm. Nhất định mình sẽ đến.

Nhưng một mùa khô nữa sắp qua…

Mà đâu chỉ có chuyện hẹn đến nhà Phương? Còn bao việc khác nằm yên đó. Trồng thêm cái cây ở góc vườn. Mua đôi giày vải để tập leo núi. Viết một cuốn sách mới… Những dự định riêng nho nhỏ. Chẳng công to việc lớn gì. Chẳng ảnh hưởng ghê gớm gì đến ai. Tặc lưỡi một cái là có thể bắt đầu. Ấy thế mà vẫn chưa bắt đầu được. Chưa bắt đầu, không phải vì thiếu thời gian. Trái lại, thời gian đến là dài. Ngày nọ nối ngày kia tuần tự.

Sáng nay chợt thức dậy, nghe văng vẳng tiếng kèn ò í e. Mở cửa, thò đầu sang hỏi thăm ông hàng xóm:

- Ai thế?

- À, ông hàng gạo ở đầu phố.

- Hàng gạo nào?

- Ông chủ cửa hàng bán gạo đó! Cái ông sáng sáng vẫn tập thể dục, huỳnh huỵch chạy qua đây. Hôm qua đi rồi.

Anh khép cửa, bàng hoàng. Người như thế đã “đi”, bất ngờ nhỉ? Ôi, mà biết thế nào được! “Tai họa như trẻ con trên mặt đất”. Anh lẩm bẩm câu thơ theo thói quen. Rồi thẫn thờ nhấc máy điện thoại. Thẫn thờ bấm số máy.

- Phương đấy à? Ừ mình đây. Thứ ba có bận không? Thứ ba mình đến nhé!… Không, không có chuyện gì…

 

 

CHUYỆN ỄNH ƯƠNG

 

Hồi anh mới chuyển đến, thành phố còn thưa người, nhà cửa lúp xúp, những bãi hoang xen lẫn ao chuôm. Trận mưa đầu mùa trút xuống trong đêm, tiếng ễnh ương mừng nước gọi nhau náo nức. Anh nằm không ngủ, tưởng như mình đang sống lại những ngày thơ ấu ở làng.

Những mùa mưa nối nhau qua. Tiếng ễnh ương tắt lịm từ mùa mưa nào cũng không ai để ý. Một buổi chiều, anh cùng vợ lên núi. Vừa dứt một trận mưa to. Dưới tán rừng ướt đẫm, bất chợt vang lên những tiếng inh uôm rời rạc, âm u như vọng ra từ vách đá. A, thì ra những chú ễnh ương đã bỏ phố cho người, nhà cửa, đường sá, xe cộ… để sơ tán lên núi cao. Thành phố không còn chỗ cho các chú!

- Ngày xưa mưa xong không chỉ có ễnh ương kêu đâu nhé! - Anh lại nổi cơn thương nhớ đồng quê, quay sang nói với chị - Ếch nhái, chẫu chuộc, kèng kẹc, ễnh ương, mỗi loài một giọng. Dế gáy ran trong bụi cúc tần. Những con giun nằm ngủ sâu dưới đất cũng cất giọng ri ri hát…

- Nhớ thế thì về quê mà ở!

- Chưa biết chừng. Đợi ít năm nữa, có tuổi, bắt chước ễnh ương bỏ phố về làng.

Chị bật cười:

- Không phải ễnh ương nào cũng bỏ phố! Ngay trong sân nhà mình, vẫn còn một chú, sống dưới gốc mai.

- Sao không bao giờ thấy nó kêu?

Chị vẫn cười cười:

- Đi mà hỏi nó! Chỉ thấy suốt ngày nằm im như cục đất. Mỗi lần tưới nước cho mai, cu cậu rụt hết cổ lại. Có lẽ sống lâu dưới phố, quanh năm tứ đời nhốn nháo ầm ĩ như thế, lại thành câm điếc mất rồi…

 

 

VÁY

 

Chị mặc thử chiếc váy, xoay xoay mấy vòng trước gương, rồi quay lại nhìn anh, nét mặt rạng rỡ như một cô gái:

- Đẹp không?

- Không đẹp.

- Không đẹp cũng mặc! Lại còn thế nào nữa mới đẹp?…

Vẻ rạng rỡ đã bị thay bằng thất vọng, vùng vằng. Anh cau mặt, không khoan nhượng:

- Đã bảo không đẹp là không đẹp.

Mà đúng thế, không đẹp thật. Váy không hợp với chị, đơn giản vậy thôi. Chiếc váy không có tội. Nhiều năm nay nó không còn xa lạ với chị em mình. Chính anh cũng thấy nhiều bà, nhiều cô mặc váy trông rất đẹp. Chiếc váy chị mới mua đâu có phải loại xoàng. Thế mà mặc vào trông vẫn thấy sường sượng… Bao nhiêu năm chỉ biết chung thủy với “mốt” áo bà ba quần ống xéo. Để đi chợ, đi chơi, đến những chỗ có công có việc… Tuổi trẻ qua đi. Một thời nghèo khó, thiếu thốn, chịu đựng cũng qua đi. Bộ bà ba đã quá quen với chị. Quen đến nỗi tưởng chừng không còn gì có thể thay thế được.

Đầu giờ chiều, chị trở dậy, lẳng lặng thay đồ rồi lấy chiếc váy mới mua ra, gấp lại. Lẳng lặng cho vào túi. Lẳng lặng đội nón, xách túi, khép cửa. Chị đem trả lại chiếc váy. Rốt cuộc, chị cũng nhận ra anh nói đúng, cho dù hơi phũ phàng.

Anh nằm yên trên giường, nhắm mắt, nghe và thấy tất cả.

Có những điều đã đến, đã đi, đã mất.

Vĩnh biệt váy!

 

 

CON TÒ VÒ

 

Chiếc máy tính đang làm việc bình thường, bỗng dưng giở chứng, tắt lịm. Màn hình tối đen. Loay hoay cả buổi sáng vẫn không sao cứu vãn nổi. Công việc ùn tắc, chồng đống lên nhau, giống như nạn kẹt xe giữa giờ cao điểm. Mà hình như cái máy này cũng biết nhè những lúc như vậy để trêu ngươi anh.

Đành phải kêu thợ đến. Tay thợ chữa máy ria con kiến, kính cận 8 đi-ôp, nhoay nhoáy tuốc-nơ-vít trong tay, tháo tung tất cả. Sờ mó, săm soi một thôi một hồi, rồi lắp vào y như cũ. Không được. Lại tháo, lại soi, lại rút ra cắm vào… Hồi lâu ngước lên, hai tròng kính nhấp nháy: “Có thế chứ! Thủ phạm đích thị là mày!”.

Anh há mồm không hiểu. Tay thợ chí cái móng tay dài vào một điểm trên tấm “cạc” màn hình: “Nó đấy. Cái tổ con tò vò. Nó đẻ trứng vào trong tổ, làm cho chập mạch”.

Ôi trời! Giống côn trùng thổ tả. Khá khen cho nhà ngươi khéo chọn nơi gửi gắm thế hệ tương lai. Vì cái trứng bé xíu của nhà ngươi mà cả bộ óc điện tử phải ngừng hoạt động.

Hai ngày sau, tay thợ mang đến một chiếc “cạc” màn hình. Máy vẫn trục trặc. Lại ngờ hỏng “men-bo”. Mất thêm năm ngày tìm một “men-bo” tương thích. Máy chưa chịu chạy. Đem máy về tiệm để test. Thêm ba ngày. Cuối cùng, thay luôn cả CPU cho đảm bảo…

Mày làm khổ ông, khổ ông”… Mất đứt hai tuần ngồi chơi xơi nước, giờ đây mỗi lần vận hành cái máy chắp chắp vá vá, cà giựt cà lăm như máy đi mượn, anh lại nghiến răng rủa thầm con tò vò.

Bạn anh nghe chuyện, cười sằng sặc: “Cái máy mua đã ngót mười năm, bắt nó cày hùng hục như trâu, đến trâu cũng phải lăn ra chết từ tám hoánh. Chẳng qua chỉ tại cậu là tên nhà văn quèn, làm đồng nào xoẳn đồng ấy mới khổ thế. Đừng chửi oan con tò vò”.

 

TĐT

Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn

Gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến khác nhau về luận văn thạc sĩ "Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa" của Đỗ Thị Thoan. Để bạn đọc tham khảo nhằm hiểu thêm vấn đề, Vanhaiphong.com xin đăng toàn văn bản nhận xét phản biện của PGS.TS Phan Trọng Thưởng tại Hội đồng thẩm định luận văn do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập, và bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Đức...

Đọc thêm...

Luận văn Nhã Thuyên: tiếng nói của một số người trong cuộc - Bài viết của Nguyễn Hiếu Quân

Luận văn Thạc sĩ “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan (dưới đây gọi tắt theo tên phổ biến hơn là Luận văn Nhã Thuyên - LVNT) đang được dư luận quan tâm đặc biệt...

Đọc thêm...

Làng Đông Môn, cái nôi ca trù đất Cảng


Theo các vị cao niên địa phương, nghệ thuật ca trù xuất hiện ở Đông Môn khoảng hơn 200 - 300 năm nay (muộn nhất là từ thế kỷ XVIII). Hơn thế nữa ở Đông Môn có đền thờ tiên sư, tiên thánh (gọi là phủ từ hay đền Ca công) mà hàng năm ngày hội chính mở vào 24-3 âm lịch, "con cháu nhà thánh" ở các nơi như Hà Nam, Phủ Lý, Bắc Ninh, Kinh Môn, Kim Thành...về làm lễ rất đông. Vào thập niên 30-40 của thế kỷ trước, trong làng xuất hiện nhiều ca quán do những gia đình, dòng họ đứng ra thành lập và lấy nghiệp hát làm nghề kiếm sống…  Ca trù là một môn nghệ thuật đặc sắc của dân tộc ta, có từ lâu đời, với nhiều tên gọi khác nhau như hát ả đào, hát cửa đình, hát nhà tơ... Có nhà nghiên cứu cho rằng nghệ thuật ca trù có từ thế kỷ XV. Tập thể tác giả sách "Lịch sử Việt Nam" tập I (Uỷ ban Khoa học xã hội xuất bản năm 1971), căn cứ kết quả nghiên cứu của các bộ môn như: lịch sử, nghệ thuật, mỹ thuật.. lại cho rằng hát ả đào đã xuất hiện từ thời Lý (?). Nhà sử học Ngô Đăng Lợi, hội viên Hội VNDG Việt Nam (Chi hội Hải Phòng) cho rằng: Qua rà soát thần tích làng Đào Đặng, tổng Cao Lương, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên thấy làng này thờ Trần Liễu. Chuyện bà Đào làng này mở ca quán thời thuộc Minh, tuyển ca nương có tinh thần yêu nước, cam đảm, lừa bọn quan quân nhà Minh uống rượu say khướt rồi bỏ vào bao liệng xuống sông. Các làng thờ Tổ nghề ca trù Đinh Dự và vợ là Mãn Đường Hoa công chúa như: Đông Môn tổng Lương Kệ, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương thờ ở phủ từ (từ của phủ Kinh Môn gồm 7 huyện); Lỗ Khê tổng Hà Lỗ, huyện Từ Sơn, xứ Kinh Bắc; làng Cung Chúc tổng Viên Lang, huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) thờ tượng 2 tổ nghề ở miếu. Trong chiến tranh chống Pháp (1945-1955), miếu, đình làng đã bị phá hủy. Hai bản sắc phong năm Chiêu Thống thứ 2 (1788) cũng bị mất. Nghệ thuật ca trù ở đây đã thất truyền. Hai làng Lỗ Khê tổng Hà Lỗ, huyện Từ Sơn và làng Thanh Lương tổng Khương Tự, huyện Thuận Thành, xứ Kinh Bắc đều nổi tiếng về nghệ thuật ca trù và có đền thờ tổ nghề Đinh Dự - Mãn Đường Hoa công chúa. Nhưng theo Linh Chi trong Địa chí Hà Bắc, các làng này có tục thờ thần Bạch Mi (lông mày trắng), một dâm thần mà tác giả truyện Kiều mô tả rõ. Nghệ thuật ca trù nước ta có từ thế kỷ XV có căn cứ hơn. Cũng theo Ngô Đăng Lợi, tất cả các làng có nghề hát ca trù nước ta đều thờ vợ chồng tổ nghề là Đinh Dự và Mãn Đường Hoa công chúa. Bản thần tích hai vị ở đền Ca công làng Lỗ Khê do Đông Các Đại học sĩ Đào Cử vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn năm Hồng Đức thứ 7 (1476) cung cấp: Về đời vua Lê Thái Tổ có người họ Đinh tên Lễ, người động Hoa Lư, huyện An Khánh, phủ Trường Yên, đạo Thanh Hoa (tức Thanh Hoa ngoại trấn, nay thuộc tỉnh Ninh Bình) theo vua Lê dấy nghĩa ở Lam Sơn, theo vua chống đô hộ nhà Minh 10 năm. Vợ ông là Trần Thị Minh Châu, vốn dòng thi lễ, một đêm nằm mơ thấy con rắn xanh lọt vào lòng, rồi mang thai. Đến ngày mồng sáu tháng tư năm Qúy Tỵ (1413) sinh một trai diện mạo khôi ngô đặt tên là Đinh Dự. Khi Đinh Lễ đem quân đánh giặc Minh đã dựng đồn trại ở lang Lỗ Khê, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc. Đinh Dự học vấn tinh thông, cầm kỳ thi họa, xướng họa hơn người. Một hôm Đinh Dự đến chỗ cha đóng quân, thăm chùa Thiên Thai gặp cô thiếu nữ Đường Hoa sắc đẹp như tiên giáng trần. Hai người kết duyên chồng vợ. Có lần vua mắc bệnh nặng, hai vợ chồng đến đàn hát cho vua nghe, vua khỏi bệnh nên phong cho chức tước, ban cho 4 chữ “Sinh từ tự điển” – nghĩa là được thờ khi còn sống. Bức hoành phi ghi 4 chữ trên, hiện đền Lỗ Khê còn giữ…

Về thời gian xuất hiện của nghệ thuật hát ca trù còn có ý kiến khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất về thời điểm phát triển cao của nó là vào thế kỷ XVIII - XIX. Nhiều nhà thơ sành thơ nôm cũng là những tác giả của nhiều bài hát nói khá phổ biến như Nguyễn Công Trú (1778-1858), Cao Bá Quát (? - 1855), Nguyễn Quý Tân (1811-1856), Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), Trần Tế Xương (1870 - 1907), Phan Bội Châu (1867 - 1940)...Ca trù vốn là một thứ nhạc vui. Xã hội cũ dùng nó vào dịp lễ nghi, khánh tiết, khao vọng, cưới xin, yến tiệc. Các nhà nho còn quan niệm ca trù là thú chơi thanh nhã của tao nhân, mặc khách. Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành “phường”, “giáo phường” do trùm phường và quản giáp cai quản. Tham gia hát ca trù ít nhất gồm 3 người: một ca sĩ là nữ gọi là (đào hay ca nương) hát theo lối nói và phách lấy nhịp (phách là một nhac cụ làm bằng gỗ hoặc tre, được gõ bằng 2 que); một nhạc công nam giới gọi là (kép) đệm đàn đáy cho người hát- đàn đáy là một loại đàn cổ dài gồm 3 sợi dây tơ và 10 phím đàn; một người chơi trống hoặc đánh trống chầu gọi là (quan viên- thường là tác giả bài hát). Sự tán thưởng của quan viên qua bài hát, người hát biểu hiện bằng cách, đánh vào thành trống nhiều lần biểu hiện đắc ý, nếu không hài lòng với người hát, quan viên đánh 2 nhịp trống. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, hát ca trù là một nghề kiếm sống của người dân ở Đông Môn, xã Hoà Bình (Thuỷ Nguyên). Theo ông Trần Bá Sự - nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn thì- ca trù xuất hiện ở Đông Môn từ đầu thế kỷ XIX, người đưa ca trù về Đông Môn là cụ kép đàn Tô Tiến Trọng - là trùm phường của một giáo phường Kinh Môn (Hải Dương) thuộc ty giáo phường Bắc Thạch (Bắc Ninh). Được sự đồng ý của giáo phường Kinh Môn, ông trùm phường Tô Tiến Trọng đã rước thần tượng, chân nhang và sắc phong nhị vị tổ nghề Đinh Dự Thanh Xà đại vương - Mãn Đường Hoa công chúa về  phủ từ Đông Môn để bốn mùa hương khói. Khi về Đông Môn, cụ Tô Tiến Trọng đã dạy ca trù cho người thân trong họ, con em trong làng ngoài xã, biến làng Đông Môn thành một ca quán nổi tiếng khắp cả nước. Ở Đông Môn, nhiều vọng tộc lớn như: Tô, Phạm, Nguyễn...duy trì tục lệ mỗi khi có đứa trẻ lớn lên đều được ông bà, cha mẹ truyền nghề theo lối truyền miệng để trở thành “ca nương”, “kép đàn”…Sau khi được ông Tô Tiến Trọng dạy cho nghề hát ca trù, nhiều gia đình, dòng họ tự đứng ra thành lập các giáo phường (bố đàn con hát, cháu đánh trống). Người thì mở cơ sở hát tại nhà, có người lên Hà Nội, sang Hải Phòng, ra Quảng Yên. Cũng có người đi hát trong hàng tổng, hàng huyện, hàng tỉnh từng đợt theo lời mời của những nơi cần. Đào, Kép ở Đông Môn nổi tiếng đàn ngọt hát hay. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Đông Môn có những đào nương có giọng hát tốt như bà Hỗ, bà Tân, bác Xuyến...và những người đàn giỏi như cụ Bốn, cụ Bút, ông Tăng, ông Nghị...Nhà hát của cụ Cửu Tuế, người Đông Môn mở ở Khâm Thiên (Hà Nội) nổi tiếng nhờ có nhiều đào kép có trình độ nghệ thuật cao tuyển chọn ở quê nhà đưa lên. Đối với những người ham mê ca trù thuở trước, có lẽ cái tên Quán Bà Mau đã trở nên rất quen thuộc bởi nơi đây một thời từng là nơi tụ hội của các đào hát, kép đàn có tiếng của Hải Phòng như: kép Phượng, kép Cổn, kép Thìn, đào Khầm, đào Thắm, đào Út… Lúc bấy giờ, ngoài làng Đông Môn – Thủy Nguyên là nơi thờ tổ nghề ra, các ca quán thường tập trung tại hai khu vực chính trong nội thành là Cánh gà trong – dọc đường Dư Hàng Kênh và Cánh gà ngoài – dọc đường Lạch Tray. Vào canh hát, các đào nương mặc áo the thâm, tóc vấn cao ngồi xếp bằng đĩnh đạc giữa phản; kép đàn thì đơn giản hơn có thể mặc áo sa hay áo the tùy ý, ôm đàn đáy ngồi vắt chân chữ ngũ bên trái đào nương. Cho dù quan viên sang hèn gì thì các canh hát cũng phải đĩnh đạc, chỉn chu và giữ được nề nếp, phong cách nghề. Phủ từ (ngôi từ của hàng phủ) - nhân dân trong vùng quen gọi là đền Ca công tuy không lớn nhưng xinh xắn, đẹp đẽ. Đồ thờ, tế khí, nghi trượng đẹp vào loại nhất huyện. Năm 1968 do lâu ngày không sửa chữa, đền bị dột nát, hợp tác xã phải dỡ đi, đồ thờ bị hư hỏng gần hết, chỉ còn bộ ngai, phù điêu thần tượng nhị vị Ca công và hòm sắc chuyển về đình Đông Môn. Về thần tích, thần phả đều bị thất lạc, chỉ còn bản thần sắc đời Gia Long (1802 - 1819), nội dung cho biết, hai thần Ca công ở Đông Môn được vua Gia Long phong tặng 2 lần, một lần vào ngày 15-2 năm Giáp Tý (1804) được tặng chữ đẹp (mỹ tự) và ngày 15-6 năm Gia Long thứ 9 (1810) được thăng trật. Thần sắc cũng cho biết vợ chồng công chúa này vốn là chính thần thuộc ty giáo phường Bắc Thành thờ và được các triều đại trước khen tặng (lịch triều bao tặng) về công lao dạy nghề. Lòng sắc ghi: Thánh nữ tiên sư trinh tĩnh từ hụê phương dung cẩn khiết khuông hành Mãn Đường Hoa công chúa - Quốc tế tiên sư thông minh dũng quyết anh uy trợ quốc dịch vụ giáo dân thần khoan minh mẫn Đinh Thanh Xà đại vương. Theo lệ cổ, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày hội đền Ca công được tổ chức đều đặn hàng năm. Chương trình ngày hội gồm hai phần chính. Ban ngày, sau khi làm lễ thánh có cuộc thi hát giữa nghệ nhân các vùng nhằm mục đích đua tài, trao đổi kinh nghiệm. Đây còn là dịp kiểm tra tay nghề, lựa chọn kết nạp hội viên mới. Người muốn ra nhập giáo phường phải qua đào tạo theo hình thức truyền nghề (các nghệ nhân cũ trực tiếp kèm cặp với thời gian ít nhất là 2 năm cho người học đàn, 3 năm cho người học hát). Trước ngày hội người phụ huynh hay người đỡ đầu người muốn xin ra nhập giáo phường phải trình trước ông thủ bạ của giáo phường và nộp một khoản lệ phí nhỏ. Ban ngày hôm lễ chính có dành thời cần thiết cho người xin nhập giáo phường biểu diễn trình nghề trước nhà Thánh và đông đảo hội viên. Việc kiểm tra tay nghề trong lễ "mở xiêm áo" cho các cô đào trẻ tuy nhẹ nhàng, không quy định thể thức, tiêu chuẩn chặt chẽ, những công chúng đều là những nghệ nhân sành sỏi, trình độ thẩm âm cao, luôn có ý thức giữ gìn uy tín nghề nghiệp của nhà thánh nên muốn vượt qua "cửa" này đòi hỏi phải có quá trình khổ luyện, thực sự say mê nghề hát. Chương trình buổi tối ngày hội là nghi lễ tế thánh được cử hành nghiêm trang, trọng thể. Người tham gia từ chủ tế, bồi tế...cho đến người phục vụ buổi tế phải là hội viên chính thức do giáo phường cắt cử. Người ngoài dù chức tước, địa vị xã hội thế nào cũng không được dự tế. Lễ phẩm không có gì đặc biệt gồm hương đăng, hoa quả, xôi thịt... chi phí do các đệ tử đóng góp. Tiếc rằng, do chiến tranh loạn lạc, từ khoảng những năm 1950 ca trù Đông Môn bị dần mai một.

Với mong muốn bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, năm 1993 chính quyền địa phương đã đứng ra thành lập CLB ca trù Đông Môn thuộc (xã Hoà Bình) với sự đóng góp của nghệ nhân hát ca trù Tô Thị Chè (dạy hát), ông Tô Văn Nghị (kép đàn) và rất nhiều những người đam mê ca trù cùng tham gia. Ông Trần Bá Sự - nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn nhớ lại: “Nhận thấy môn nghệ thuật truyền thống của ông cha ngày càng bị mai một, địa phương đã xin chính quyền xã thành lập CLB lưu giữ và truyền lại nghề cho các lớp con cháu trong làng. Những ngày đầu thành lập, do thiếu người chúng tôi đã vận động toàn bộ đội tế nữ quan, tế nam quan của đình làng vào hoạt động. Nhạc cụ trang bị cho CLB những ngày đầu là chiếc đàn đáy mua của nghệ nhân Nguyễn Văn Hãn ở Hải Phòng về sửa lại, trống và phách do thành viên trong CLB đóng góp trang bị cho việc dạy học và sinh hoạt của CLB…”. Về quá trình khôi phục nghệ thuật ca trù ở Hải Phòng, nhà sử học tài danh Ngô Đăng Lợi nhớ lại: Nhà nghiên cứu Giang Thu (một trong những hội viên sáng lập của Chi hội VNDG Việt Nam thành phố Hải Phòng) là người có công đầu bỏ sức, bỏ tiền xây dựng CLB ca trù Hải Phòng. Ngày 30-7-2002, Giám đốc sở Văn hóa Thông tin Đào Trọng Vinh ký Quyết định số 139 QĐ/SVHTT thành lập Tổ sưu tầm ca trù Đông Môn, gồm: ông Đoàn Văn Chương, Phó giám đốc sở VHTT làm Tổ trưởng; các tổ viên gồm các ông bà: Đỗ Ánh, Trưởng phòng VHTT cơ sở; Lê Thị Thu, Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính; Phạm Khương – Chủ tịch Hội VNDG Hải Phòng kiêm Chi hội trưởng chi hội VNDG Việt Nam; Giang Thu, hội viên Hội VNDG Việt Nam (Chi hội Hải Phòng). Trở lại từ buổi đầu, năm 1997, hai bác Mạnh Thu, Giang Thu và tôi (Ngô Đăng Lợi) thấy cần khôi phục, bảo tồn, phát huy văn nghệ dân gian phong phú, đặc sắc của Hải Phòng nên đã có đơn xin Giám đốc sở VHTT Hồ Chu cho thành lập CLB ca trù. Do tình hình chính trị - xã hội lúc ấy phức tạp nên lãnh đạo sở giao cho Giám đốc Nhà Văn hóa trung tâm Vũ Văn Du ra quyết định thành lập CLB ca trù trực thuộc Nhà văn hóa trung tâm. CLB có các tổ chuyên môn: sưu tầm thơ ca dân gian, trong đó có hát nói. Bác Giang Thu và tôi (Ngô Đăng Lợi) là Phó chủ nhiệm. Sở dĩ tôi có vinh dự này vì năm 1985, đồng chí Đoàn Duy Thành, Bí thư Thành ủy yêu cầu phải nghiên cứu về nghệ thuật ca trù Đông Môn, huyện Thủy Nguyên. Tôi đã về Đông Môn gặp các nghệ nhân già, khảo sát cặn kẽ phủ từ thờ hai vị tổ nghề…và viết bài đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3 năm 1985. Ba chúng tôi đã tòm gặp các ca nương lão luyện mời vào CLB; các cụ sẵn sàng tham gia, nhưng có cụ kêu sức yếu, tuổi cao. Đặc biệt có cụ nổi tiếng một thời, vợ lẽ của một ông tri phủ khen chúng tôi nhiệt tình, có trách nhiệm, lại giới thiệu bạn đồng nghiệp cũ, nhưng cụ kiên quyết không tham gia, còn con cháu cụ kiên quyết phản đối không muốn nhắc lại nghề cô đầu cùa bà mẹ. Lại còn khó khăn về đạo cụ, bác Giang Thu phải về quê ở Thái Bình đốn hạ cây mít ở nhà thờ tiểu chi mình để làm vỏ trống chầu; tôi giới thiệu cụ Ngô Duy Thẫm làng Trà Phương, một phụ huynh học sinh trường cấp II Kiến Thụy. Cụ Thẫm là nghệ nhân đàn đáy nổi tiếng lại giữ được chiếc đàn cổ, cụ vui lòng tham gia và tặng CLB cây đàn gia bảo…Do cùng chí hướng nên chỉ một thời gian ngắn nhiều nghệ nhân lão luyện như: cụ Trần Phương Thảo, nghệ nhân đàn đáy nổi tiếng, cựu tù chính trị Côn Đảo (CLB thiếu người chơi đàn nguyệt, cụ xin phụ trách và truyền nghề cho lớp trẻ); cụ Nguyễn Thị Chín, ca nương nổi tiếng quê ở Đông Môn; cụ Đào Thị Thẩm, nghệ nhân ca trù quê chốn tổ Lỗ Khê; cụ Phạm Văn Biện, nghệ nhân chơi đàn nức danh đất Cảng; cụ Trần Trọng Quế, tay đàn đáy lão luyện; cụ Tô Thị Chè, danh ca hậu duệ của dòng họ có công đào tạo ca nương của làng cổ Đông Môn; cụ Phạm Quanh Thanh, nhà giáo quê làng Dư Hàng, am hiểu âm luật, nổi tiếng cầm chầu; bác Nguyễn Thị Ngọc Bích ở Kiến Thụy tích cực tham gia, lại khuyên con cái tham gia học tập kế thừa nghề của tổ tiên; nghệ sĩ chèo Đỗ Quyên chuyển sang ca trù đã khổ luyện thành tài, góp công xây dựng nghệ thuật ca trù của thành phố; nghệ sĩ Lê Thị Thanh Vân, nghệ sĩ tuồng cổ…Lớp trẻ có Quỳnh Nhung, Đỗ Thị Bích Hạnh, Đỗ Thị Bích Thảo, Phạm Thị Hạnh…nhiệt tình với CLB, với nghệ thuật ca trù nay đều đã thành danh. Năm 1998, bác Giang Thu đề xuất thành lập CLB Ca trù và Dân ca, được Nhạc sĩ Vũ Thiệu Loan, Giám đốc sở VHTT, Chủ tịch Hội LHVHNT Hải Phòng khuyến khích, tạo điều kiện, lại phân công nhạc sĩ Phạm Khương, Chủ tịch Hội VNDG Hải Phòng trực tiếp chỉ đạo, vận động nghệ sĩ tuồng Doãn Tích cùng nhiều nghệ sĩ các Hội chuyên ngành cộng tác. CLB ngày càng được công chúng mến mộ qua các buổi công diễn, qua giới thiệu của báo Hải Phòng, báo ANHP, Đài PTTH Hải Phòng…Năm 1999, bác Giang Thu được Hội VNDG Việt Nam tài trợ kinh phí để biên khảo sách Nghệ thuật ca trù ở Hải Phòng, rồi công trình Hội mở mặt, hát đúm Hải Phòng (đều được ấn hành năm 2003). Nhà nghiên cứu Giang Thu còn được Bộ VHTT tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng; Hội VNDG Việt Nam tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp VNDGVN… Sau 20 năm hồi sinh và phát triển, nhờ được sự dạy bảo của các nghệ nhân tâm huyết với ca trù, đến nay CLB ca trù Đông Môn, CLB Ca trù – Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng đã dần tìm lại vị thế của mình là. Nhiều nghệ nhân, ca nương, kép đàn, trống chầu của CLB ca trù Đông Môn và CLB ca trù Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng đoạt Huy chương vàng, Huy chương bạc trong các hội diễn ca trù toàn quốc, được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân dân gian" quốc gia. Tiêu biểu là ca nương Đỗ Quyên, Tô Thị Ninh, Hoàng Minh Khánh, Nguyễn Thị Hằng, Phạm Thị Liên; kép đàn Tô Văn Tuyên, Phạm Thị Liên...Các nghệ nhân Tô Thị Chè, Nguyễn Văn Hãn... được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân dân gian"...Đặc biệt, mới đây ca nương Đỗ Quyên (Nguyễn Đỗ Quyên), Chủ nhiệm CLB Ca trù - Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú…

Trần Phương

Kỷ niệm 300 năm ngày sinh danh nhân Phạm Đình Trọng

 

Phạm Đình Trọng với sự nghiệp bảo vệ biên cương hải đảo

Phạm Đình Trọng sinh năm Giáp ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), quê làng Khinh Dao huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn xứ Hải Dương nay là thôn Khinh Dao xã An Hưng huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông vốn dòng dõi họ Phạm nổi tiếng văn hiến nước ta, gốc ở làng Kính Chủ huyện Giáp Sơn nay thuộc xã Phạm Mệnh huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương với anh em Phạm Mại, Phạm Ngộ, người là quan văn, người là quan võ giúp 3 đời vua Trần Nhân Tông, Anh Tông và Minh Tông, đều lập công lớn trong sự nghiệp giữ nước, dựng nước thời ấy. Con thứ hai Phạm Ngộ là Phạm Sư Mệnh (cũng đọc Mạnh) theo chí bác ruột học văn, là một học trò xuất sắc của Tiên sinh Chu Văn An. Ông đậu Thái học sinh năm 1325 đời Trần Minh Tông, làm quan tới chức Hành khiển (Tể tướng), là một tác gia lớn. Chi họ này đời Lê Sơ chuyển về làng Lê Xá huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn nay là xã Lê Xá xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy, Hải Phòng có Phạm Gia Mô đậu Tiến sĩ năm 1505 đời Lê Uy Mục, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, sau theo giúp Mạc Đăng Dung là một khai quốc công thần được phong chức Thái sư Hải Quốc công. Chi họ Phạm Đình làng Khinh Dao từ đời cao tổ, tằng tổ đều làm quan to tại triều, được ban tước Hầu. Thân phụ Phạm Đình Trọng đậu Hương cống vào học trường Quốc tử giám, sau được bổ nhiệm chức Tri phủ.

Phạm Đình Trọng thuở nhỏ học ở nhà, sau gia đình gửi theo học các nhà nho đức độ, tài năng nên mới 20 tuổi đã đậu Hương cống, khoa thi năm Bính thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1739) đậu Tiến sĩ, làm quan trải thăng từ chức Hiệu thảo Viện Hàn lâm đến chức Thượng thư bộ Binh, Thái tử Thái bảo, Thượng trụ quốc Thượng trật Hải quận công.

Phạm Đình Trọng là quan văn, nhưng vào đời vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh ăn chơi sa đọa, hoang phí, bỏ bê trễ chính sự, lại thiên tai liên tiếp, tệ tham quan ô lại, bán tước mua quan, mua bán bằng cấp… Vì vậy, nhân dân, đặc biệt là nông dân vô cùng cực khổ. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi, tiêu biểu là 2 cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, do Nguyễn Hữu Cầu phát động lãnh đạo. Triều đình Lê Trịnh nghiêng ngửa. Nhờ có một số quan văn võ tài giỏi, đặc biệt là Tiến sĩ Phạm Đình Trọng đã dẹp yên loạn lạc. Ông đã bắt được 2 thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Tuyển và Nguyễn Hữu Cầu. Những nơi ông đến trị nhậm đều chăm lo việc yên dân, trừ tệ cường hào ác bá, nên dân chúng mến mộ, có nơi ở Nghệ An còn lập đền thờ sống.

Chính vì thế, khi ông qua đời, Thượng thư Tiến sĩ Trần Danh Lâm viết bài văn tế, trong đó có câu:

Chưa đến bốn mươi, chức Thượng thư, với người là sớm, với Ngài là còn chậm.

Đội mũ nhà Nho mà làm tướng, với người là lạ, với Ngài đúng sở trường.

Không chỉ có công lớn về nội trị, Phạm Đình Trọng còn có công lo việc giữ yên biên giới đất liền, hải đảo tổ quốc. Bài phú Bắc môn tỏa thược (Then khóa cửa Bắc) của ông cho thấy Tổ tiên ta nhận thức rõ điều này nên căn dặn, nhắc nhủ:

Bắc môn cài cửa khóa then,

Giữ người lân quốc, chăn con triều đình.

Gia phả họ Phạm Đình làng Khinh Dao và một số sử liệu khác ghi sự kiện bọn phỉ Quan Lan chiếm cứ vùng Đầm Hồng, Vạn Ninh nay thuộc tỉnh Quảng Yên.

Chúng lợi dụng địa thế hiểm trở cướp phá, hoành hành suốt vùng biên giới Trung – Việt. Mấy năm liền, quan quân tỉnh Quảng Đông không đánh dẹp nổi. Nhân dân khổ sở vì bọn giặc này. Quan Trấn thủ Quảng Đông nhiều lần gửi thư tới quan Trấn thủ xứ Yên Quảng nước ta hẹn cùng phối hợp đánh dẹp. Nhưng suốt mấy năm liền chinh phạt mà không xong. Năm Mậu thìn (1748), triều đình phái Phạm Đình Trọng tuần tiễu vùng biển Đông Bắc. Sau khi thị sát tình hình kỹ lưỡng, ông cử bộ tướng Vĩnh Thọ hầu đem binh thuyền đến trước, phao tin sẽ hội họp với quan Tầu ở Quảng Đông để tiến đánh, nhưng ông lại bí mật bố trí quân ăn mặc dân chài mai phục ở Vân Đồn và đảo Bạch Long Vỹ. Quả nhiên, bọn phỉ mắc mưu, 7 tên đầu sỏ bị bắt gọn, giao cho quan tỉnh Quảng Đông. Đám phỉ hung dữ bị đánh tan. Nhân dân vùng biên giới vô cùng cảm kích. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên vua nhà Thanh, nhà vua khen ngợi, sai đem vàng lụa thưởng cho quân lính và mũ áo Thượng thư ban tặng Phạm Đình Trọng. Do đó, ông có chức Lưỡng quốc Thượng thư (Thượng thư hai nước).


Khi được tin ông mất, vua Càn Long nhà Thanh sai Tổng đốc Quảng Đông mang lễ vật và bài Văn tế sang viếng. Nội dung bản dịch văn tế như sau:

Vốn là chính khí Bắc phương,

Lại là Nam quốc lân bang trọng thần.

Ai hay gió cuốn mây vần.

Giờ người đã hóa cổ nhân mất rồi.

Rượu ngon còn nhớ mãi người,

Văn chương còn nhớ những lời thơ hay.

Suối vàng ai hỡi có hay,

Nước non gang tấc có ngày gặp nhau.

Miếu cổ Khinh Dao cũng thấy có câu đối ghi lại việc này.

Hiện nay, trong công cuộc bảo vệ biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời Tổ quốc, chiến tích cùng bài học của Danh nhân Phạm Đình Trọng cần nghiên cứu, học hỏi.

Ngô Đăng Lợi

Món ngon Đất Cảng

Vùng biển đảo Hải Phòng có rất nhiều tôm...

Đọc thêm...

Họa thư "Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ": Bức tranh lịch sử nổi tiếng

Mới đây, nhà sử học Dương Trung Quốc, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội KHLS Việt Nam tặng CLB Hải Phòng học bức ảnh sao chụp tranh “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ” (Đại sĩ Trúc Lâm rời núi). Họa thư “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ” dài 3,1m, rộng 0,4m; trong tranh có 82 nhân vật, đủ cả tăng sĩ, nho sĩ và đạo sĩ... GS.TS Lê Mạnh Thát, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (người dự lễ trao tặng bản sao bức họa thư cho Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại học Harvard - Hoa Kỳ) cho biết: Bức “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ” vẽ nội dung vua Trần Nhân Tông dời núi Vũ Lâm được Trần Giám Như vẽ năm 1363, sau được các doanh họa thời Minh thêm vào lời bình dẫn, tôn vinh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh - Trung Quốc. Bức họa thư bỗng nhiên được nhiều người biết đến là nhờ Công ty đấu giá quốc tế Poly (Bảo Lợi – Bắc Kinh) tổ chức cuộc đấu giá các tinh phẩm thư họa, trong đó có bức Trúc Lâm Đại sĩ (do một công ty ở Bắc Kinh phối hợp với Bảo tàng Liêu Ninh phục chế để triển lãm năm 2006). Tuy là bản phục chế nhưng đã được một người Việt Nam dấu tên mua với giá cao bất ngờ 1,8 triệu USD, gây chấn động, xôn xao dư luận, nhất là đối với các nhà nghiên cứu và giới thương nhân thế giới. Bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” miêu tả sự kiện Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo, rời khỏi động Vũ Lâm trở về, vua Trần Anh Tông cùng các quan ra nghênh đón. Họa phầm gồm 2 trường đoạn: trường đoạn thứ nhất mô tả cảnh Ngài đã xuống tóc, ngồi trên kiệu võng đốt trúc, tuổi trạc 50, trán cao, mày dài, ánh mắt sáng ngời thông tuệ, nhân từ. Lúc tọa thiền, mặc áo cổ tràng vạt, tay phải lần tràng hạt, xung quanh có đoàn tùy tùng, kẻ vác lọng tết bằng lá cọ, người gánh theo bộ đồ uống trà, kẻ cầm gậy long trúc, các nhà sư người Hồ mặc áo trật vai, thiền phái Nam tông, có hạc dẫn đường. Theo phía sau là đạo sĩ Lâm Thời Vũ cưỡi “đâu tử” và những người tâm giao của Đại sĩ ở phía sau. Các lão sư người Hồ dung mạo đầu hói, râu quai nón, dáng điệu thanh nhã, khoan thai, người cầm tích trượng, người bưng kim sách…; trường đoạn thứ hai, vẽ quan tứ trụ triều đình đứng tiền trạm, hoàng đế Trần Anh Tông nghênh đón vua cha cùng bách quan, quân lính mang kiệu, lọng, voi ngựa, rước Phật hoàng về kinh đô. Tranh vẽ thể hiện rất rõ về hình ảnh trang phục thời Trần. Hoàng đế Anh Tông nét mặt nghiêm cẩn, dáng vóc đường bệ, buộc khăn trên búi tóc bỏ núi phía sau, áo hoàng bào kép 5 thân tay thụng, cổ tròn hai lớp, quần dài chân đi giày cao cổ. Bách quan mặc áo gấm tía tay thụng, mũ chữ đinh kiểu lục lăng, có tai mũ quấn cong ra sau, đi giầy da. Các quân cẩm y vệ (thân quân) vác bảo kiếm hộ vệ, một đại quan vác thượng phương bảo kiếm đứng hầu. Bức tranh diễn tả phong cảnh thiên nhiên của vùng đất Ninh Bình hùng vĩ bằng nét bút thần diệu, mang đậm phong cách đồ họa Việt.

Về nguồn gốc bức họa thư, có ý kiến cho rằng: Vào giữa thế kỷ XV, nhà Nguyên suy thoái, đại loạn, dân Hán nổi lên chống lại khắp nơi. Từ 1345 có 3 cuộc khởi nghĩa lớn chống lại nhà Nguyên là các cuộc nổi dậy của Trần Hữu Lượng, Trương Hữu Thành và Chu Nguyên Chương. Trần Hữu Lượng nổi lên ở Bái Trạch năm 1354, Sau khi chiếm cứ một vùng Giang Tô, Hồ Quảng (Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông) rộng lớn, bèn sai sứ xin hòa thân với Đại Việt (Toàn thư, tập II, tr 134). Trần Hữu Lượng tự nhận mình là con trai thứ hai Trần Ích Tắc, cháu ruột vua Trần Nhân Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Anh Tông đã sai người lên phía Bắc để dò la xem hư thực..  Việc Trần Hữu Lượng giấu gốc tích, hoàng tộc Việt của mình khi khởi nghĩa được lý giải: Trần Ích Tắc đem gia quyến và quân đội đến đầu hàng nhà Nguyên năm 1295, được phong làm An Nam quốc vương, nhưng việc đưa về nước thất bại. Khi Nguyên Thế Tổ chết (1294) con nối ngôi là Nguyên Thành Tông thấy vai trò lịch sử của Ích Tắc đã hết nên đã hạ chỉ thu hồi ruộng đất đã cấp cho Ích Tắc và đưa toàn bộ gia quyến về Ngạc Châu. Sự thay đổi đột ngột khiến đời sống thiếu thốn, con cái li tán nhưng cha con Ích Tắc vẫn tin vào giấc mộng làm vua. Lúc bấy giờ, giới thầy bùa lan truyền giai thoại: Khi vua Thái Tông sinh Ích Tắc, vị thần ba mắt từ trên trời xuống nói bị thượng đế quở trách, xin thác sinh làm con vua, sau lại trở về phương Bắc. Khi Ích Tắc ra đời, giữa trán có vết lờ mờ hình con mắt, hình dáng giống hệt người trong mộng… (Toàn thư, tập II, tr 55). Sau khởi nghĩa, tháng 6 năm 1360 Trần Hữu Lượng xưng đế, lấy quốc hiệu là Hán, đặt niên hiệu Đại Nghĩa, đóng đô ở Nam Kinh, chiếm cứ một vùng rộng lớn Chiết Giang, Hồ Quảng (Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông). Trần Giám Như ở Hàng Châu thuộc vùng đất của Trần Hữu Lượng nên mới có thể vẽ tranh ca ngợi vua Trần Nhân Tông vị anh hùng đã hai lần chiến thắng giặc Nguyên xâm lược Đại Việt. Năm 1363 Trần Giám Như vẽ bức họa thư “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” nhằm ca ngợi hào khí Đông A (họ Trần) để cổ vũ tinh thần cho quân sĩ của Trần Hữu Lượng. Trần Giám Như là họa sĩ nổi tiếng vẽ chân dung ở Hàng Châu, nhưng giữ kín gốc tích của mình. Theo giới nghiên cứu mỹ thuật cổ Trung Quốc, bức chân dung danh sĩ Lý Tế Hiền nổi tiếng của nước Cao Ly (Triều Tiên) là do Trần Giám Như vẽ vào năm 1319, đời Nguyên Nhân Tông.

Sau khi Trần Hữu Lượng thất bại, bức họa thư “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ” là báu vật ngầm truyền trong hậu duệ họ Trần lưu lạc ở Trung Nguyên. Khoảng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420), bức tranh được tái xuất với chủ nhân là Trung thư xá nhân Trần Đăng và Giao Chỉ học nhân (nhà sư già người Giao Chỉ) Trần Quang Chỉ, đều là hậu duệ nhà Trần. Đặc biệt, Trần Quang Chỉ đã viết bài tán dưới tranh như sau: “Đại sĩ là con vua Trần Thánh Tông, trước khi sinh, vua cha đã mơ thấy Thượng đế ban cho thanh bảo kiếm. Khi sinh, Vua đẹp đẽ thông thái (mỗi ngày có thể đọc vạn lời), khi lớn lên thông tam giáo nhưng yêu thích đạo phật. Vương thông hiểu lịch số, binh pháp, y dược, âm luật, các môn đều thấu hiểu đến chỗ uyên bác. Trong việc trị nước, lấy tinh thần nhân ái để giải quyết mọi việc, lấy lòng thành thực đối đãi với bề tôi, coi họ như tay chân, phủ dụ trăm họ như con ruột, nhẹ hình phạt, thuế má, giữ chữ tín trong việc thưởng công, phạt tội. Tuổi hơn 40 thì “siêu nhiên”, bỏ ngai vàng, truyền ngôi cho thế tử, vào động Vũ Lâm tu đạo, mặc áo sư, rồi làm am trên đỉnh núi Yên Tử ở 6 năm không xuống núi, mặc áo cỏ, ăn lá cây cần khổ tích hạnh chân tu “các độ”. Sau đó trải rộng tính tình ở gò núi đi khắp nơi trong nước, nay các danh sơn thắng cảnh đâu cũng còn lưu dấu vết “trác tích” (tu hành) của người. Bấy giờ có đạo sĩ Lâm Thời Vũ trong nước cùng theo Đại sĩ đi khắp nơi, có lúc viễn du hóa độ lân quốc đến Chiêm Thành, khất thực trong quốc đô. Vua nước đó lấy lễ đón mời, đối đãi hết sức kính cẩn, lại sắm sửa thuyền bè, nghi trượng đầy đủ thân hành tiễn về nước. Sau đem đất hai châu cúng dàng nay là hai châu Thuận, châu Hóa vậy. Đến năm sau, đi không ngồi xe, đầu không đội nón, hình dung khô khan, áo bỏ vai lam lũ, người trong nước gặp không ai biết đấy là vua. Thiền Tông của Đại sĩ vốn từ hậu duệ của Thần Hội đời Đường, trong nước chưa phát triển thiền học rộng, đến Đại sĩ thì tông môn đại hưng thịnh, cho nên dòng áo đen một nước suy tôn là sơ tổ…khi nhập thất ngồi ngay ngắn lặng lẽ mà hóa…khi đốt có thần quang ngũ sắc bốc lên, suốt đêm không tan…người trong nước thấy cảm ứng linh thiêng, khắp nơi các chùa đều thờ phụng cúng dâng, cầu đảo đều ứng nghiệm. Sự tích Đại sĩ đã có sách truyền đăng lục ghi chép, người Giao Chỉ có thể truyền đạt. Tôi nhận thấy bức tranh này, dám biểu đạt một vài điều đại quát dưới tranh, may chi mọi người xem được khiến cho công hạnh của Đại sĩ không bị mai một - Vĩnh lạc năm 18, ngày thượng nguyên năm Canh tý - Người học Phật ở Lô Giang Trần Quang Chỉ - Tích phủ lạy hai lạy kính cẩn ghi...”  Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Nam thì Trần Quang Chỉ là người sở hữu bức tranh cho đến thời điểm năm 1420. Nguyên tác họa phẩm Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ đã từng lưu lạc chìm nổi trong tao loạn cho đến đời Thanh, bức họa được sưu tập và đưa vào lưu giữ trong cung đình. Sau cách mạng Tân Hợi (1911) của Trung Quốc. Phổ Nghi - hoàng đế cuối cùng của nước này thoái vị nhưng vẫn được cho lưu trú trong cung đình 11 năm. Phổ Nghi đã bí mật chuyển hơn ngàn cổ tịch, tác phẩm danh họa, thư pháp, lịch đại... ra khỏi hoàng cung. Bức Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ là một trong số các họa thư quý đã bị thất thoát khỏi cung khi ấy. Năm 1964, bức Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ được Dương Nhân Khải thu mua lại và cũng nhân đó được lưu giữ trong Bảo tàng Liêu Ninh (TrungQuốc) cho đến nay.

Trần Phương

Giá trị di sản Phật giáo

Di sản văn hóa Phật giáo với phát triển sản phẩm di lịch...

Đọc thêm...

Chuyện xưa ngẫm cho vui : Lã Bất Vi buôn ... vua - Đình Kính

Tháng 10 năm thứ 10, Tần Vương cách chức tướng quốc của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi tự liệu sẽ bị giết bèn uống thuốc độc tự tử. Không ai khác, Lã Bất Vị bị con mình ( Tân Thủy Hoàng) bức tử. Đấy là kết cục của kẻ buôn… vua.

Đọc thêm...

Kết quả cuộc thi câu đối tết năm Giáp Ngọ

Sân thi câu đối chỉ kéo dài trong vòng nửa tháng (từ  29 tháng chạp Quí Tỵ đến 13 tháng giêng Giáp Ngọ) nhưng đã...

Đọc thêm...

Cập nhật mục thi câu đối ngày xuân

Tin thi câu đối ngày xuân cập nhật chiều mồng 4 Tết...

Nhân dịp đón xuân Giáp Ngọ vanhaiphong.com (đại diện Hội Nhà văn Hải Phòng) phối hợp với Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng và Cung VHLD Hữu nghị Việt-Tiệp HP mở SÂN THI CÂU ĐỐI để  tao nhân mặc khách bốn phương cùng tham gia vui chơi, đồng thời gìn giữ nét đẹp truyền thống của đất Việt ta. Cha ông ta từ xưa đã quan niệm: "Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa", vậy nên Vanhaiphong.com xin được trương hai vế xuất coi là ĐỀ THI để bạn đọc gửi vế đối tới tham dự cuộc thi ngày Xuân vui vẻ này. Giải thưởng không có giá trị lớn về tiền bạc nhưng mang tính DANH DỰ - TÔN VINH TRÍ TUỆ SĨ PHU NAM BẮC là chính.

Cuộc thi sẽ kéo dài từ ngày 29 tết đến hết ngày Thơ Nguyên tiêu Hải Phòng (13 tháng giêng năm Giáp Ngọ), "Đối sĩ" thắng cuộc sẽ được tôn vinh và trao giải vào cùng ngày này tại Cung Văn Hóa Lao động Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng. (Tuy trao giải vào ngày đó nhưng tùy tình hình cụ thể cuộc chơi có thể sẽ kéo đến hết tháng giêng năm Giáp Ngọ)

Vanhaiphong.com cũng rất hân hạnh được nhận những  vế xuất hay do các "đối sĩ" các nơi gửi về thách đối (CÓ HOẶC KHÔNG CÓ GIẢI THƯỞNG).

Các vế đối và xuất đối mới xin mời gửi về  ĐÌNH KÍNH * ĐT: 0913 531 974 * Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. - Ngọc Châu * ĐT: 01269 284 620 * Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. -  Nguyễn Đình Minh * ĐT: 0912 808 927 * Emai: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Ban Biên tập sẽ phân công người trực đón mail của bạn đọc và kịp thời cập nhật lên Web VanHP

Hai vế xuất đối, coi là đề thi của Vanhaiphong.com như sau:

* VẾ XUẤT 1:

ĐÓN GIÁP NGỌ NGỰA SẮT THÁNH GIÓNG CHỞ THƠ VỀ HỘI THƠ MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG

* VẾ XUẤT 2:

VĂN HÓA DOANH NHÂN: NHÂN - VĂN - TÂM - TẦM -TRÍ - TÍN

A- Các Vế đối của bạn đọc gửi dự thi tính đến chiều mồng 4 Tết gồm:

Vế xuất 1

1- CHỜ NHÂM THÌN RỒNG VÀNG SÔNG HỒNG MANG VÕ NHẬP ĐÀN VÕ LONG QUẦN TỤ NGHĨA (Nguyễn Đình Minh)

2- MỪNG NHÂM THÌN RỒNG XANH ĐÔNG HẢI DÂNG KIẾM TẶNG ĐÀI KIẾM LONG VÂN GẶP HỘI (Ngọc Châu)

3- CHỜ CANH DẦN HÙM THIÊNG ĐÔNG ĐÔ BẺ VUỐT BỌN NANH VUỐT RỪNG NÀO CỌP NẤY (Ngọc Châu)

4- VỌNG QUÝ TỴ CHUYÊN CƠ ĐẠI TƯỚNG TIỄN NGƯỜI TỚI TRỜI VĂN NGẮM VÕ TUNG HOÀNH. (Nguyễn Thanh Tuyên)

5- MONG ẤT MÙI,  DÊ VÀNG LƯU LINH  DÂNG RƯỢU LÊN BÀN RƯỢU, DƯƠNG ĐĂNG THẮNG LỢI (Phạm Thanh Cải)

6- MONG CANH THÌN RỒNG THIÊNG KINH ĐÔ TRAO BÚT TẶNG THANH BÚT LONG CHƯƠNG PHƯỢNG TRIỆN (Nguyên Xuân- Đà Nẵng)

Vế xuất 2

ĐỨC TIN PHẬT ĐẠO: ĐẠO - ĐỨC - NHẪN - HỈ - THANH - THƯƠNG (Nguyễn Đình Minh)

BIỂN THƠ ĐẤT CẢNG: CẢNG - BIỂN - ĐẢO - NÚI - SÔNG - ĐỒNG (Nguyễn Thanh Cải)


B- Các vế đối của bạn đọc gửi thêm cho câu đối cổ

Xuất:

CON NGỰA ĐÁ CON NGỰA ĐÁ, CON NGỰA ĐÁ KHÔNG ĐÁ CON NGỰA (cổ)

Các vế đối mới:

Chú Bê thui chú bê thui, chú bê thui chẳng thui chú Bê (Thanh Cải)

Chú Sâm cầm chú sâm cầm, Chú sâm cầm chẳng cầm chú Sâm (Nguyên Xuân)

Chiếc đòn kê chiếc đòn kê, chiếc đòn kê chẳng kê chiếc đòn

(Thanh Cải)

Chiếc máy cưa chiếc máy cưa, chiếc máy cưa chẳng cưa chiếc máy
(Thanh Cải)


C- Cập nhật các vế đối của các "đối sĩ" các nơi tham gia vào sân chơi: (sáng mồng 5 Tết)

- Quí Tỵ qua, rắn độc hết thời, trườn mình về hang âm u, khuất khúc. (Phạm Vũ Lộc)

Nhâm Thìn tiễn, rồng đen còn thế, phóng thân đến cõi sáng rạng, mênh mang. (Diên Minh)

- Lừng danh Xích Thố(1) giúp người trung nghĩa thành tâm phò Hán. (Phạm Vũ Lộc)

Vang bóng Ngựa Thần* hộ đấng Thiên vương chiến thắng giặc Ân. (Nguyễn Văn)

- Kiến đậu cành Mơ bò cuống quýt

Trâu về đường Bưởi chạy lanh chanh (Nguyễn Khắc Ân)

- Kê là gà, gà ăn kê

Ấu cũng trẻ, trẻ chén ấu (Nguyễn Khắc Ân)

- Thơ ca làm giàu ngôn ngữ, bè bạn hân hoan, Tết đến Câu đối Tết tưng bừng trang mạng Tết.

Văn nghệ thư giãn tinh thần, gia đình vui vẻ, Xuân về Bài ca Xuân rộn rã tiếng đài Xuân. (Kim Liên)

D- Cập nhật các vế đối của các "đối sĩ" các nơi tham gia vào sân chơi: (tối mồng 6 Tết)

Trước khi cập nhật BBT xin được trao đổi đôi lời:

Vanhaiphong nhận được nhiều câu đối gửi đến tham gia vào trang THI CÂU ĐỐI NGÀY XUÂN, chúng tôi hết sức hoan nghênh và rất vui vì mục này đã được bạn đọc quan tâm yêu thích, có nhã ý muốn  đóng góp với VHP để trang nhà thêm phong phú.

Tuy nhiên một số câu đối gửi đến bị sai luật nhiều nên không thể đăng được, có lẽ là do các bạn thấy thích nhưng thời gian tìm hiểu về luật câu đối còn chưa có (hoặc hiểu về câu đối chưa đầy đủ), vậy nên trước khi đăng cập nhật tối mồng 6 Tết Ban Biên Tập xin được nêu ngắn gọn một số qui ước (từ ngày xưa để lại) để các bạn tham khảo như sau:

 

Với tên gọi là CÂU ĐỐI nên nguyên tắc cơ bản của loại hình này là phải

ĐỐI: Đối về ý (tứ của hai vế), đối về số chữ (số chữ phải bằng nhau giữa

hai vế), đối về thanh (Bằng phải đối với Trắc nhưng yêu cầu cụ thể còn

phù thuộc vào loại câu đối) và đối nhau về từ loại của các từ tương ứng

(Danh từ đối danh từ, chủ từ đối chủ từ, hư từ đối với hư từ, số lượng đối

số lượng, tên riêng đối tên riêng, âm thanh đối âm thanh, màu sắc đối màu

sắc, hình ảnh đối hình ảnh, tục ngữ đối tục ngữ, điển tích đối điển tích,

chữ nước ngoài đối với chữ nước ngoài v.v... )

Xin nêu một ví dụ:

Vế xuất: Năm Ngọ đến, tới phố Mã mua con ngựa giấy

Vế đối:   Tháng Thìn qua, thăm chợ Rồng kiếm chú giao long

Phân trích theo yêu cầu nêu trên sẽ thấy:

Về ý:

Xuất nói về  ngựa (là chủ thể của các năm Ngọ)

Đối nói về  rồng (là chủ thể của các năm Thìn)

Số chữ:

Hai vế đều cùng có 10 từ, mỗi câu đều có 1 dấu phẩy tách thành 2

phân  câu.

Về thanh:

Từ ở vị trí tương ứng giữa hai câu đều giữ đúng luật Bằng (gồm

những chữ không có dấu hoặc mang dấu huyền viết tắt là B) đối với

Trắc (là những chữ mang dấu sắc (') hỏi (?), ngã (~), nặng (.) viết tắt là T)

Chi tiết hơn:

Năm (B) đối với tháng (T)

Ngọ (T) đối với Thìn (B)

đến (T) đối với qua (B)

Phần sau dấu phẩy tuân theo biệt lệ của cặp đối trong thơ luật Đường nên

được phép du di về B với T (sẽ trình bày sau)

Về từ loại:

"Năm Ngọ" đối với "tháng Thìn" (cùng là tập hợp danh từ)

Động từ "đến" đối với động từ "qua"

Tìm hiểu một chút sẽ thấy các câu đối viết theo mục đích sử dụng

thường không khó như các câu mang tính trí tuệ mà các "đối sĩ" thường

phải nhăn trán nghĩ ra để đố và vui với nhau ở các sân chơi câu đối ngày

xuân. Nhưng xã hội dần Phú quí lên thì Lễ nghĩa cũng tăng theo, nhu cầu có

một cặp câu đối treo ngày tết, để mừng nhà mới, phúng viếng, thờ phụng,

đề tặng… sẽ ngày càng nhiều hơn...

Ví dụ để mừng ngày tết người ta viết những câu:

- Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc

Đời vui, sức khoẻ, tết an khang

- Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ

Xuân khắp dương gian, phúc khắp nhà

- Tết trong nhà, Tết ra ngoài phố

Lộc trên trời, lộc xuống nhân gian

Để mừng thọ người ta viết:

- Tuổi thọ chín mươi mừng phúc lộc

Hoa tươi muôn đóa chúc an khang

- Tám chục tuổi đời, người vẫn trẻ

Ngàn năm gia tộc, phúc vô biên

Câu đối ở đám tang:

- Nghĩa nặng gửi theo về chín suối
Tình sâu để lại đến ngàn thu

Có nghĩa là chúng ta ai cũng có thể nghĩ ra một vài vế đối dùng cho từng hoàn cảnh. Xin các bạn dựa vào luật CÂU ĐỐI nêu một cách tóm tắt trên để chỉnh lại các vế đối mình đã viết rồi gửi lại cho Ban Biên tập chúng tôi

CHÚC CÁC BẠN MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG!


CẬP NHẬT BÀI GỬI ĐẾN TỐI MỒNG 6 TẾT

 

Xuất 2:

VĂN HÓA DOANH NHÂN: NHÂN - VĂN - TÂM - TẦM -TRÍ - TÍN

Đối:

Sắc hương bích hồng: hồng sắc - Tịnh - toả- thơm - thanh (N Đình Minh)

Nghĩa tình bổn đạo: đạo lý - trực - trọng -  tha - trung (N Đình Minh)

 

Các vế đối của các "đối sĩ" các nơi tiếp tục tham gia vào sân chơi

Xuân Giáp Ngọ, bác Ngọ mặc áo giáp, vênh vang lên xe xuống ngựa, dạo phố Mã Mây, lễ đền Bạch Mã. (Ngọc Thanh)

Tết Đinh Mùi, thằng Mùi thửa đầu đinh, lọc lừa xuỵt chó thành dê, theo phường Dương Tử, thăm miếu Hoàng Dương. (Đông Thái Phan Tự Trí)

Tết Đinh Mùi, ông Mùi đi giày đinh, vội vã đến trại xem dê, chơi phường Dương Nội*, thăm bến Chương Dương. (Nguyễn Văn)

Tết Đinh Mùi cu Mùi dù lên đinh vẫn thích bịt mắt bắt dê ra đồng Dương Cỏn cầu cụ Hoàng Dương (Ngọc Châu)

- Tết Đinh Thìn, cô Thìn đi giầy đinh, lộng lẫy đua thuyền rồng, qua cầu Long Biên, thờ miếu Thăng Long. (Nguyễn Khắc Ân)

Tết Giáp Ngọ, ngồi xe tư mã, chơi bài tam cúc, mất xe - pháo - mã, buồn như "Tái ông mất ngựa". (Diên Minh)

Xuân Tân Mùi hám tiệc tam dương, hóng khúc bốn mùa, toi chó-trâu-dương, cực quá Tô Vũ chăn dê (Ngọc Châu)

 

MÃ YÊN CHÍNH NGỌ, MÂY TRẮNG HIỆN HÌNH NGỰA TRẮNG, TUNG BÒM

BAY BẠCH (NAM PHỤNG - CLB thơ luật Đường Hải Phòng)

LONG VĨ ĐẦU THÌN, NƯỚC XANH IN BÓNG RỒNG XANH, UỐN KHÚC

LƯỢN THANH LONG (NAM PHỤNG )

 

Khách phương xa mời đối:

Xuất:

1-LÊN MÃ YÊN MUA NGỰA, MUA NGỰA PHẢI XEM MÃ NGỰA

(Nguyễn Đình Tự Số 1, ngõ 17, phố Thành Bắc, TP Bắc Ninh)

2-   NGỌ NGOẠY LIÊN HỒI, TUNG VÓ PHI NHANH NGỰA ÔNG ĐÂU PHẢI ĐỒ HÀNG MÃ. (Nguyễn Đình  Tự)

 

CẬP NHẬT TOÀN BỘ CÁC VẾ ĐỐI GỬI DỰ THI ĐẾN TỐI NGÀY 12 THÁNG GIÊNG TẾT GIÁP NGỌ

Xuất 1: (đề thi)

ĐÓN GIÁP NGỌ NGỰA SẮT THÁNH GIÓNG CHỞ THƠ VỀ HỘI THƠ MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG

Các vế đối 1: (gửi dự thi)

1- CHỜ NHÂM THÌN RỒNG VÀNG SÔNG HỒNG MANG VÕ NHẬP ĐÀN VÕ LONG QUẦN TỤ NGHĨA (Nguyễn Đình Minh)

2- MỪNG NHÂM THÌN RỒNG XANH ĐÔNG HẢI DÂNG KIẾM TẶNG ĐÀI KIẾM LONG VÂN GẶP HỘI (Ngọc Châu)

3- CHỜ CANH DẦN HÙM THIÊNG ĐÔNG ĐÔ BẺ VUỐT BỌN NANH VUỐT RỪNG NÀO CỌP NẤY (Ngọc Châu)

4- VỌNG QUÝ TỴ CHUYÊN CƠ ĐẠI TƯỚNG TIỄN NGƯỜI TỚI TRỜI VĂN NGẮM VÕ TUNG HOÀNH. (Nguyễn Thanh Tuyên)

5- MONG ẤT MÙI,  DÊ VÀNG LƯU LINH  DÂNG RƯỢU LÊN BÀN RƯỢU, DƯƠNG ĐĂNG THẮNG LỢI (Phạm Thanh Cải)

6- MONG CANH THÌN RỒNG THIÊNG KINH ĐÔ TRAO BÚT TẶNG THANH BÚT LONG CHƯƠNG PHƯỢNG TRIỆN (Nguyên Xuân- Đà Nẵng)

7- MONG ẤT MÙI, DÊ VÀNG LƯU LINH DÂNG RƯỢU LÊN BÀN RƯỢU, DƯƠNG ĐĂNG THẮNG LỢI (Phạm Thanh Cải)

8- Tiễn Nhâm Thìn, cầu mới Hạ Long nối nhịp dáng Long chầu, rồng thiêng phủ phục (Vũ Nam)

9- CHÀO BÍNH THÂN KHỈ ĐÁ TỀ THIÊN TUNG CHƯỞNG LOẠN QUẦN CHƯỞNG HẦU PHONG CHIẾN THẮNG* (Phạm Vũ Minh- Đôn Thư Hà Nội)

* 侯 HẦU 1 : tước hầu. Các nhà đế vương đặt ra năm tước để phong cho bầy tôi, tước hầu là tước thứ hai trong năm tước. Hầu cũng có nghĩa là con Khỉ. (Theo Hán Việt từ điển Wikisource)
*Quần chưởng : đấu trường – tập thể thi đấu võ
* Khỉ đá : Tề thiên vốn xuất thân là con khỉ đá trong núi.
* Chiến thắng : sau khi cùng Tam tạng thỉnh kinh về, Tề thiên được Phật tổ phong chức Đấu Chiến Thắng Phật.

10- CHÀO NHÂM THÌN RỒNG VÀNG SƠN TINH MANG GIÓ ĐẾN BIỂN GIÓ LONG PHI THẮNG LỢI (Ngọc Thanh- Đôn Thư Hà Nội)

11- CHÀO NHÂM THÌN RỒNG VÀNG THẦN TIÊN ĐEM BÚT TỚI THÁP BÚT LONG PHI THẮNG LỢI (Trần Đình Hòe- CLB thơ Hoa Trúc Hải Phòng)

12a- ĐỢI ẤT MÙI DƯƠNG GIÀ NÚI NON MANG LỘC TỚI ĐỐNG LỘC- RẮN MỪNG NO BỤNG.

12b- ĐUỔI RẮN GIÀ HỔ MANG CỔ BÀNH LÈ NỌC LẠI LE NỌC- XÀ ĐI TRÓT LỌT.
12c-  MỪNG NĂM XÀ RẮN LƯỜI LÁCH LƯƠN MANG XÚI QUẨY ĐỐNG XÚI VÀO HANG- VẠN SỰ NHƯ Ý. (Phan Thị Thanh Minh - Hà Nội tham gia 3 vế đối) 

Xuất 2: (đề thi)

VĂN HÓA DOANH NHÂN: NHÂN - VĂN - TÂM - TẦM -TRÍ - TÍN


Đối cho đề thi 2:

1- ĐỨC TIN PHẬT ĐẠO: ĐẠO - ĐỨC - NHẪN - HỈ - THANH - THƯƠNG (Nguyễn Đình Minh)

2- SẮC HƯƠNG BÍCH HỒNG: HỒNG SẮC- TỊNH- TOẢ -THƠM- THANH (ĐM)

3- BIỂN THƠ ĐẤT CẢNG: CẢNG - BIỂN - ĐẢO - NÚI - SÔNG - ĐỒNG (Nguyễn Thanh Cải)

4- LỄ NGHI TÔN GIÁO : GIÁO – LỄ – NGHĨA – NGƯỠNG – TRUNG – UY ( Phạm Vũ Minh  Đôn Thư Hà Nội)

(Ngưỡng: ngưỡng mộ, thành kính; Trung : trung thành,  Uy: tôn nghiêm)

5- THỂ THAO QUÂN ĐỘI: ĐỘI - KHỐI - NHÓM - HẠNG - MÔN - HÀNG (Ngọc Thanh - Đôn Thư Hà Nội)

6- VÕ CÔNG HIỂN THÁNH, THÁNH VÕ, ĐỨC ĐỘ, THANH LIÊM (Trần Đình Hòe CLB Hoa Trúc HP)

 

7a- ĐẠO THẦY NHÀ GIÁO: GIÁO-ĐẠO-NHÂN-DÂN-TIN-YÊU.
7b- SĨ PHU ĐẤT VIỆT: VIỆT-SỸ-TRI-MỸ-THIỆN-NHÂN.
7c- VĂN NHÂN ĐẤT MỎ: MỎ-VĂN-SÁNG-LẠN-THĂNG- HOA
(Phan Thị Thanh Minh - Hà Nội tham gia 3 vế đối)

8a- BIỆT TÀI KĨ NGHỆ: NGHỆ - BIỆT - CẦN - CỐ - CƯƠNG - CƯỜNG

8b - QUYẾT TÂM LẬP NGHIỆP: NGHIỆP - QUYẾT - NHẪN - NHÚN - NHẠY - NHANH (Thu Hằng - Nhà thơ Đồ Sơn - Hải Phòng tham gia hai vế đối)

(Sẽ  cập nhật lần cuối vào sau ngày thơ Nguyên Tiêu 13 tháng giêng kèm  kết quả chấm giải của Ban Tổ chức)

 

 

L.NTônxTôi với câu hỏi: “Đời tôi là gì”- Thanh Thảo

Tuyệt nhiên không phải là những “lời thú tội” những “tự bạch” hơi có chút làm dáng của một số nhà văn nổi tiếng khác, những lời của Tônxtôi ở đây chân thành đến đau đớn, đến tuyệt đối, đến mức rơi vào một cực đoan vô phương tháo gỡ.

Đọc thêm...

Những vụ án thơ trong lịch sử - Phạm Thuận Thành

 

Năm Gia Long thứ 13 (1814), có vụ án “Văn chương phản nghịch” mà hậu quả kinh người khiến cho bài học câu chữ không thể xem thường, vượt xa vụ án thơ thời Lê Thánh Tông rất nhiều về mức độ.

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Người ta có thể định nghĩa rất khác nhau về tình yêu, nhưng chắc chắn có...
Hình ảnh
Chào mừng kỷ niệm 128 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch; Mời các bạn cùng xem phim...
Hình ảnh
Bác sĩ Zhivago là cuốn sách tái hiện lại lịch sử nước Nga những năm đầu...
Hình ảnh
Lúc hiểu ra mình vừa làm gì, cơn giận tan biến đâu mất, chỉ còn nỗi sợ ...
Hình ảnh
Ngày 18/5/2018 tại hội sở số 15/174 đường Văn Cao, TP Hải Phòng; đã diễn ra...
Hình ảnh
Chiều 14/5/2018, UBND quận Hồng Bàng tổ chức khởi công dự án chỉnh trang sông ...
Hình ảnh
Ngày 18/5/2018 tại trung tâm tổ chức sự kiện Tập đoàn Tây Âu số 189 Hàng...
Hình ảnh
Bật dậy…Một quyết định xin ra khỏi biên chế, ra khỏi lộ trình quan chức ...
Hình ảnh
Nhạc : cố nhạc sĩ Triệu Lam Châu https://www.youtube.com/watch?v=MkVbGH3eLT4

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2120
mod_vvisit_counterHôm qua4451
mod_vvisit_counterTất cả10072044
Hiện có 186 khách Trực tuyến