Trả hận – truyện ngắn của Cầm Sơn

“Em làm được gì? em đâu muốn/ thôi đành chạy trốn, mặc anh ôm hận bỏ ra đi/ Hãy bay trên trời cao, cánh chim Bằng lộng gió/ Còn em gái nhỏ, chốn quê nhà, mãi mãi biệt ly.

Rồi em cũng ra  đi, chìm vào cõi vĩnh hằng/ Em sẽ mang đi tất cả, mang cả bóng hình anh/ Chỉ bỏ lại thần chiến tranh/ Với bộ mặt hung thần méo mó, còn lẩn khuất đâu đó/ Nơi góc trời, vần vũ sắc da cam.”..

Em làm được gì? em đâu muốn/ thôi đành chạy trốn, mặc anh ôm hận bỏ ra đi/ Hãy bay trên trời cao, cánh chim Bằng lộng gió/ Còn em gái nhỏ, chốn quê nhà, mãi mãi biệt ly.

Rồi em cũng ra  đi, chìm vào cõi vĩnh hằng/ Em sẽ mang đi tất cả, mang cả bóng hình anh/ Chỉ bỏ lại thần chiến tranh/ Với bộ mặt hung thần méo mó, còn lẩn khuất đâu đó/ Nơi góc trời, vần vũ sắc da cam.”

Bôn ba ngụp lặn nơi đất khách quê người hơn hai chục năm trời, cũng  có được một mái ấm gia đình và đời sống tạm coi là sung túc. Lần này về thăm quê, hai vợ chồng Bình và đứa con gái cùng về với mục đích khảo sát tình hình làm ăn để chuyển hẳn về nước. Sau mấy ngày nghỉ ngơi, Bình đưa vợ và con sang ở nhà ông bà ngoại rồi thuê một chiếc xe bốn chỗ  đi một mình lên thăm nơi anh đã từng sinh sống và học tập thời trẻ trai. Quê Bình ở Bắc Ninh nhưng những năm chiến tranh cả gia đình sơ tán và định cư  ở một huyện miền núi phía Tây Bắc. Bố Bình hy sinh trong chiến trường miền Nam rồi mẹ Bình cũng mất từ khi Bình còn đang học cấp ba trường huyện. Anh trai nuôi Bình bằng xuất trợ cấp liệt sĩ của bố. Học hết phổ thông, hết nghĩa vụ quân sự trở về, Bình nhận một vé xuất khẩu lao động rồi lấy vợ và định cư luôn ở nước ngoài.

Hôm ở quê, Bình gặp bà Tám là người cùng làng, cùng đi sơ tán và xây dựng quê hương mới. Gia đình bà vẫn ở trên quê mới, bà về quê mời họ hàng lên dự đám cưới con trai út. Đương nhiên là bà Tám cũng mời Bình rồi. Điều quan tâm của Bình là bà Tám có mời ông bà đại tá về hưu Trần Lượng không. Bà Tám bảo :

– Có chứ, sao lại không! Tuy ông bà ấy bây giờ ra ở ngoài thị trấn phố huyện nhưng vẫn có quan hệ tốt với làng xóm. Công to việc nhỏ nào ở làng ông bà ấy đều về cả đấy. Mấy lị bây giờ đường bê tông chạy đến tận cuối làng rồi, giao thông đi lại cũng thuận tiện lắm!

– Thế thì khi đi qua thị trấn cháu sẽ đón ông bà ấy. Có điều bác Tám cứ nói là sẽ có xe đón chứ đừng nói là cháu.

– Ôi! Thế thì tốt quá. Cám ơn cậu nhé! bây giờ tôi vội đi mời mấy nhà nữa rồi còn ra bến  cho kịp chuyến xe ngược.

Trời cuối đông se lạnh, mưa phùn bám vào làm nhòe mờ cửa kính. Bao nhiêu năm cạnh tranh bươn chải nơi đất lạ, nay được ngồi một mình ở ghế sau xe chạy trên đường đất quê mình, trong lòng chợt trào lên những ký ức về quê hương. Bình nhắm mắt tựa lưng vào thành ghế. Mặc cho những ảnh hình của quá khứ đan trộn cả ngọt bùi ấm áp lẫn buốt giá chua cay lúc chầm chậm, lúc vùn vụt, lúc mờ ảo huyễn hoặc, lúc sáng rực lung linh hiện ra trên màn hình não bộ…

Xóm Thanh Hà là khu hành chính mới được lập ra từ khi có các gia đình dưới xuôi lên miền núi xây dựng quê hương mới. Xóm có trên ba mươi gia đình quây quần ven một quả đồi, xóm gồm những hộ thuộc hai làng ở hai tỉnh dưới xuôi lên, có nhiều hộ còn là anh em họ tộc với nhau. Từ trung tâm xã sang xóm phải lội qua sông Bần, mùa hạ thì nước sâu lại hay bị lũ, mỗi lần qua sông phải đứng trên một cái mảng bằng những cây bương ghép lại với nhau, Hợp tác xã cử một người ra đẩy mảng được tính công điểm như một lao động chính. Mùa đông nước cạn thì không cần phải có mảng nhưng lội dưới nước buốt lạnh thấu chân. Đường  đi vẫn là con đường mòn nhỏ do dân đi làm nương rẫy trước đây mà thành, cả người đi, cả trâu, bò, dê, ngựa cũng đi trên con đường mòn đó. Những ngày mưa dài, con đường ngầu sục trộn lẫn đất đá với phân súc vật nhoe nhoét lầy lội. Đặc biệt khổ là lũ thiếu niên, vì ngày nào cũng phải một lần đi một lần về trên con đường ấy để đến trường. Trong đám trẻ học sinh, Bình là đứa lớn nhất học lớp bảy, còn lại toàn bọn đàn em học cấp một cấp hai rải rác có đến hơn hai chục đứa. Mùa đông năm ấy, một lần đi học về, vừa lội qua sông lên bờ  thì Bình thấy Thục Anh ngồi gục đầu dưới bụi lau ven đường. Chắc cô bé lội qua sông lạnh quá bị cảm. Lay gọi không thấy Thục Anh trả lời, Bình đành xốc cô bé lên vai vác về nhà. Đúng là cô bé bị cảm lạnh, nhưng khi bà Tâm lấy dầu xoa thì thấy người Thục Anh nổi đỏ dầy từng đám suốt từ chân lên khắp người.  May mà chỉ bị cảm nhẹ chứ bấy giờ phương tiện, điều kiện còn khó khăn lắm, nếu bị nặng hơn thì cũng chẳng biết ra làm sao nữa. Thục Anh học lớp sáu, nhà tận cuối làng nhưng từ hôm ấy, ngày nào Bình cũng chờ để đi cùng Thục Anh. Những buổi học Thục Anh có ít tiết học tan trước thì cô bé lại chờ để về cùng anh Bình. Đôi trẻ quấn quýt bên nhau suốt năm Bình học lớp bảy. Đến khi vào cấp ba thì Bình phải ở trọ lại ngoài phố huyện. Cũng chỉ sau một năm thì Thục Anh cũng vào cấp ba, thế là đôi trẻ lại có dịp gần gũi.Cả hai đều yêu thơ và có năng khiếu làm thơ, họ thường gặp gỡ trao đổi với nhau về những bài thơ mới viết. Tình bạn cứ ngấm sâu dần thành tình yêu. Cái hôm thổ lộ yêu đương, thề thốt. Họ ngồi dưới gốc cây bưởi đang trổ hoa, hơi thở sâu và dồn dập theo nhịp tim khi hai cơ thể nóng bừng ép chặt bên nhau cùng hương hoa bưởi quyện lẫn mùi lá xả trên mái tóc Thục Anh làm Bình ngây ngất. Cái hương thơm dìu dịu, man mát nhẹ nhàng ấy đã đi theo suốt cả cuộc đời Bình, có lúc nó kích hoạt những nơ ron thần kinh làm Bình  thấy nhẹ lâng như cánh diều vi vu tiếng sáo giữa tầng không, cũng có lúc nó lại làm ẩn ức chua cay, muốn trách cứ căm giận mà chẳng biết giận ai thì đành lại giận chính mình.

Học hết cấp ba, thi trượt đại học, Bình nhập ngũ làm nghĩa vụ quân sự. Năm đầu ở quân ngũ, Bình vẫn nhận được những lá thư tình đều đều từ phía Thục Anh. Sau một năm, Thục Anh cũng tốt nghiệp phổ thông và thi đỗ vào trường Đại học Ngoại thương. Rồi bỗng bặt tin. Thục Anh không gửi thư và cũng không có địa chỉ cho Bình liên lạc. Xuất ngũ về quê thì gia đình Thục Anh đã  di chuyển  do bố Thục Anh từ quân đội mang hàm đại tá về nghỉ hưu mua đất làm nhà dưới phố huyện. Hôm anh đến nhà, không gặp được bà Tâm, chỉ có mình ông Trần Lượng tiếp anh. Ông không tỏ ra ân cần cũng không tỏ ra lạnh nhạt. Sau khi mời trà, ông có hỏi thăm qua quýt vài câu rồi ông bảo:

– Cháu Thục Anh  đi tu nghiệp ở nước ngoài rồi. Bây giờ nó phải tập trung vào học tập để thành người, chưa tính đến chuyện yêu đương được.

Bình lặng người, không thể nghĩ rằng với tính cách dịu dàng, hiền thục như cái tên Thục Anh được sinh ra trong một gia đình nền nếp mà lại có thể sử sự sấp ngửa nhanh đến thế. Anh choáng váng lí nhí nói lời chào rồi đứng dậy ra về, cũng chẳng còn nhớ có bắt tay ông Trần Lượng khi ông chìa tay tiễn khách ngoài cổng hay không. Bao nhiêu năm nay, mặc dù đã có một mái ấm hạnh phúc nhưng mỗi khi nghĩ đến Thục Anh thì Bình vẫn không làm sao lý giải được hành động khó hiểu  của nàng. Không thể là Thục Anh, chỉ có thể là do ông đại tá nghỉ hưu ấy. Ông ta đã ngăn cản, cấm đoán con gái vì chê anh là hạng thấp hèn, không có địa vị gì trong xã hội, học hành lại chẳng đâu vào đâu. Mà suy cho cùng ông ấy nghĩ thế cũng phải. Đúng là anh đang chỉ có bàn tay trắng. Cha mẹ thì mất cả rồi, nhà cửa thì đang ở cùng anh chị. Sao xứng được với con gái ông đại tá về hưu mà lại học hành đỗ đạt…

Được sự hỗ trợ của anh chị, lại là đối tượng ưu tiên vừa là đã qua quân ngũ vừa là con liệt sĩ, Bình được đi xuất khẩu lao động sang Đức. Bấy giờ việc  đi xuất ngoại là rất quan trọng chứ không láo nháo hỗn độn như bây giờ và cũng chính vì vậy mà việc làm ăn ở nước ngoài cũng còn dễ dàng, suôn sẻ. Bây giờ, ở nước ngoài thì chả là gì nhưng về nước thì Bình cũng đủ vốn để có thể thành lập một công ty kinh doanh cỡ vừa. Nhất định phải về nước kinh doanh, không chỉ là quê hương mà còn vì mối hận tình phải làm sáng tỏ. Không biết cuộc đời Thục Anh giờ ra sao. Thực ra, Bình chỉ oán hận ông bố còn Thục Anh dẫu có giận thì cũng chưa đến nỗi tuyệt tình. Cũng phải gặp lại để họ thấy thằng Bình là cái thằng nào chứ! có điều cần phải tìm hiểu gia cảnh họ giờ ra sao cái đã, rất tiếc hôm ở quê gặp được bà Tám nhưng bà ấy  vội quá không đủ thời gian để dò hỏi. Giờ gặp lại,  ông Trần Lượng không thể nhớ vì mới chỉ gặp một lần, còn bà Tâm nay cũng đã nhiều tuổi lại biền biệt hơn hai chục năm, Bình không xưng danh tính chắc bà cũng không thể nhận ra. Phải để cho họ bất ngờ, ngỡ ngàng và hối hận vì sự tính toán vị kỷ của họ. Cứ hình dung ra khuôn mặt với thần sắc  một kẻ sám hối của ông Trần Lượng khi biết người Việt kiều giàu có, cao đạo đứng trước mặt mình là Bình – người yêu cũ của con ông mà Bình thấy mát cả lòng. Bỗng dưng cao hứng, Bình cất giọng khe khẽ hát một bài hát đã từ rất lâu sang nước ngoài anh không bao giờ có dịp nghe lại: “ Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say…”

Xe dừng lại trước một ngôi nhà có cái cổng làm bằng lưới thép B40 đã hoen rỉ. Do  được báo trước, chủ nhà thấy chiếc xe dừng trước cổng nhà mình thì đi từ trong nhà ra mở cổng. Mở cửa xe bước xuống, Bình đã thấy ông Trần Lượng đứng ngay trước mặt.

– Chào bác, Cháu được bà Tám phân công đến đón hai bác!

–  Vâng, mời chú vào nhà uống một chén nước rồi ta đi!

Bình để ý nhìn khắp ngôi nhà, là một ngôi nhà nhỏ xây hai tầng đã cũ kỹ xuống cấp, tường nhà một số nơi sát nền đã bị tróc lở do khi xây người ta chỉ trát bằng vữa vôi cát không có xi măng. Đồ đạc trong nhà  vẫn như cách đây gần hai chục năm mà anh đã có dịp đến. Tưởng nhà lầu, xe hơi, giầu sang cự vạn chứ nhà cửa tồi tàn thế này mà cũng  hợm đời. Đúng là kênh kiệu dởm, rỗng tuyếc. Thôi thế cũng tốt, Dẫu sao thì cũng dịu bớt được cái khối u vón cục trong lòng. Sau khi rót nước mời khách, ông Trần Lượng hỏi

-Thế chú là gì với bà Tám?

– Dạ, cháu gọi bà Tám bằng cô! Thế bác gái đâu bác?

–  Mọi khi có công việc ở làng thì chỉ mình tôi đạp xe vào, chả là bà nhà tôi bị đục

thủy tinh thể, lòa không nhìn rõ gì nữa. Hôm nay có chú đón bằng xe, bà ấy cũng muốn về gặp gỡ người làng. Cháu nó đang chuẩn bị cho bà ấy.

–  Sao lại phải đạp xe đạp, sao bác không  mua  cái ô tô mà đi cho nó sạch sẽ,

nhẹ nhàng? Mà bác nói cháu là cháu nào đấy, cháu ngoại bác à?

– Không! đứa cháu họ, nó ở với vợ chồng tôi từ bé, đang học lớp 12. Kìa! Bà ấy ra

rồi, ta đi thôi!

Sau khi sắp xếp ổn định chỗ ngồi trên xe, Bình lên tiếng:

–  Hai bác ở với đứa cháu họ, thế con cháu hai bác ở đâu ạ?

Lặng đi một lát, ông Trần Lượng nói nhỏ như nói với chính mình:

–  Chúng đi xa  rồi!

Rồi ông lên giọng át sang chuyện khác:

–  Được biết chú là Việt Kiều, thế chú đang sống ở nước nào? Gia đình vợ con ra

sao?

–  Dạ, cháu ở nước Đức, có vợ và hai đứa con.

–  Đời sống ở bên ấy chắc là sung túc lắm?

–  Vâng! Khá hơn người ở nhà nhiều, lần này về nước cháu đang tìm hiểu để về kinh

doanh hẳn ở quê hương, cháu có đủ năng lực để thành lập một công ty. Có thể ít nhiều cũng tạo được công ăn việc làm cho làng xóm, người thân.

– Làm kinh doanh mà nghĩ được như chú là người có tâm lắm!

–  Vâng,  tiền bạc, sang giàu ai mà chả muốn. Khốn khó, nghèo hèn, bị người đời

khinh thị, nhục lắm. Nhưng làm người thì cái tình mới là đáng quý hơn cả. Cháu nghĩ chẳng có tiền bạc nào mua được tình người!

Nói xong, Bình nhìn sang ông Trần Lượng. Ừ! thử xem thái độ của ông già này ra sao? Ngồi nhờ xe với một người giầu có, sang trọng hơn thì nhất định là phải kính trọng rồi. Đặt địa vị mình là ông ta thì mình chẳng bao giờ lại đi nhờ xe kiểu này, ít gì thì cũng là một đại tá về hưu, lương còn cao hơn rất nhiều kẻ đang làm việc, lại có con gái đã từng du học nước ngoài, thể nào chả khuân được nhiều của nả về nước. Có thể  vì lý do gì đó còn đang ở tạm ngôi nhà cũ, đang sắp xếp để chuyển về quê hay để ở gần con cháu chẳng hạn. Đáng gì mấy trăm ngàn đồng, thuê một chiếc xe mà đi có phải lịch sự hơn không? Đúng là một người biển lận, chỉ biết coi tiền của là trọng mà không biết trọng danh dự… Nhưng xem ra ông ta có vẻ lãnh đạm. Đôi mắt sáng hơi đượm buồn trên khuôn mặt phúc hậu của ông vẫn bình thản và hình như ông đang suy nghĩ một điều gì đó nên không tập trung lắm với câu chuyện của Bình. Thật là khó chịu, đã đến nước này rồi mà vẫn còn kênh kiệu…Bỗng  Trần Lượng bảo chú lái xe:

– Đến chỗ có  đường rẽ kia, chú cho dừng xe đợi tôi một lát nhé!

Xe dừng bánh, Trần Lượng xuống xe, ông mở cửa ghế trước đỡ bà Tâm xuống.

– Hai chú thông cảm đợi chúng tôi vài phút, chúng tôi có chút việc riêng!

Lúc ấy Bình mới thấy cái túi sách bà Tâm mang theo, hở ra khỏi miệng túi là mấy bông hoa cúc trắng và mấy thẻ hương.

Hai mái tóc bạc dìu nhau đi về phía nghĩa trang, họ dựa vào nhau, thận trọng từng bước trên con đường đất đỏ trơn lầy. Mưa như dầy hơn, không khí như lạnh hơn, trời bàng bạc một màu trắng đục, gió hun hút thổi liêu siêu tán dù che trên đầu họ. Hai người luồn lách qua các nấm mồ đi sâu vào trong nghĩa trang. Bình cũng xuống xe đi theo sau . Hai ông bà dừng lại đốt hương bên một ngôi mộ xây khá công phu được ốp đá trắng bóng có cả mái che giống như một ngôi nhà nhỏ. Mấy bông hoa  cũ trong cái bình đặt trên mộ vẫn chưa khô. Trần Lượng thay bó hoa mới, ông  lấy trong túi sách ra một chai nhựa đựng nước đổ vào bình hoa thay nước cũ. Sau khi cắm hương cho ngôi mộ, ông đi cắm nốt số hương còn lại cho các ngôi mộ xung quanh. Chỉ còn bà Tâm đứng một mình lầm rầm khấn vái. Bình đi lại gần ngôi mộ, bỗng anh hét lên:

– Thục Anh!!! Sao lại thế này!

Rồi anh khuỵu xuống bên ngôi mộ…

Bà Tâm đặt tay lên vai anh, giọng đầy nước mắt:

–  Bình đấy phải không cháu!

* * *

Thục Anh thi đỗ vào trường Đại học Ngoại thương. Trước khi nhập học, nhà trường tổ chức kiểm tra sức khỏe cho sinh viên. Trong phiếu xét nghiệm máu của Thục Anh, người ta  thấy có những tế bào dị dạng nhưng chưa có cơ sở để kết luận điều gì. Rồi nhà trường cũng không quan tâm mấy đến việc này. Thục Anh vẫn nhập học bình thường. Chỉ đến khi cô bị sốt cao, khắp người tấy đỏ phải vào bệnh viện thì ở bệnh viện người ta mới chú ý đến việc truy tìm nguyên nhân gây ra bệnh. Các bác sĩ cho rằng cô đã bị nhiễm một căn bệnh do di chứng của một loại chất độc. Những người bị nhiễm chất độc màu da cam nếu có con sẽ nhiều khả năng bị thiểu năng trí tuệ hoặc dị dạng, quái thai. Không chỉ có vậy, nó tác yêu tác quái không biết đâu mà lường, căn bệnh của Thục Anh là một trường hợp đặc biệt. Lúc bấy giờ ông Trần Lượng mới biết  mình đã bị nhiễm chất độc màu da cam  ở mức độ nhẹ. Dẫu ở mức độ nhẹ cũng vẫn đủ để gây ra một căn bệnh quái ác cho thế hệ sau. Thuộc cấp của ông thời quân ngũ nay cũng là những cán bộ quân đội cao cấp bèn xúm nhau vào đưa Thục Anh ra nước ngoài chạy chữa. Nhưng việc phát hiện được căn bệnh thì đã ở giai đoạn cuối, chỉ gần một năm sau đó, Thục Anh đã ra đi..

– Cháu thật có lỗi với Thục Anh và hai bác!

– Cháu không có lỗi gì cả. Được gặp lại cháu lần này, bác rất hài lòng. Lần trước

gặp cháu, bác đã nghĩ rằng, nếu thành đạt, thế nào cháu cũng sẽ quay trở lại. Nếu không có chuyện này, năm nay Thục Anh  45 tuổi và hai bác cũng có mấy đứa cháu ngoại rồi…Dù sao thì cháu cũng đã quay trở lại…Lần này vào trong quê, ngoài việc dự đám cưới con bà Tám, bác còn có nhiệm vụ làm việc với địa phương để chuẩn bị cho Đại hội thành lập Hội nạn nhân chất độc màu da cam của huyện nhà.

– Trong khoảng thời gian trước khi ra đi, Thục Anh có nhắc gì đến cháu không?

– Không thấy em nó nhắc gì, song trong cuốn nhật ký tuy không có tên cháu nhưng chắc là  viết nhiều về cháu.

Trần Lượng lấy từ cái cặp nhỏ của ông ra một cuốn sổ, ông lật mở tìm  một trang rồi đưa cho Bình.

– Đây là cuốn nhật ký của Thục Anh. Cháu đọc bài thơ này trước đi, rồi có thể giữ lấy mà đọc để hiểu thêm những suy nghĩ của em nó.

“Em làm được gì? em đâu muốn/ thôi đành chạy trốn, mặc anh ôm hận bỏ ra đi/ Hãy bay trên trời cao, cánh chim Bằng lộng gió/ Còn em gái nhỏ, chốn quê nhà, mãi mãi biệt ly.

Rồi em cũng ra  đi, chìm vào cõi vĩnh hằng/ Em sẽ mang đi tất cả, mang cả bóng hình anh/ Chỉ bỏ lại thần chiến tranh/ Với bộ mặt hung thần méo mó, còn lẩn khuất đâu đó/ Nơi góc trời, vần vũ sắc da cam.”

* * *

Gần một tháng sau, bản tin của Đài Truyền thanh Truyền hình huyện đưa tin Đại hội Thành lập Huyện Hội Nạn nhân chất độc da cam – Dioxin đã thành công tốt đẹp, cựu chiến binh – đại tá Trần Lượng được bầu giữ chức chủ tịch Hội.

Trong  mục vinh danh những tổ chức, cá nhân  thiện tâm ủng hộ kinh phí cho Hội hoạt động, có một người không rõ danh tính ủng hộ 45 triệu đồng.

C.S

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder