Cây như là sinh mệnh thứ hai của thơ Hữu Thỉnh - Lý Hoài Thu


Tôi như cây biết giấu lá vào đâu
(H.T)



Thơ Hữu Thỉnh - từ Tiếng hát trong rừng, Thư mùa đông đến Đường tới thành phố, từ Thương lượng với thời gian đến Biển - như một hành tinh thu nhỏ với lớp lớp những hình bóng thiên nhiên: mây và gió, cỏ và hoa, đồi và núi, biển và đảo, cây và rừng... Ở đó Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu, Bóng mây tha thiết sương buông thật thà, Mây kia hám sự nhất thời..., và Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn, Gió sao là lạ. Mây khang khác..., và Cỏ lác cỏ năn cứa vào đêm ram ráp, Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu, Mượn mùa thu một buổi/ Ta về thăm cỏ đồi..., và Hoa đã bỏ đi rồi/ Mà bình còn đầy gió, Hoa sim tím quả sim cũng tím/ Đồi treo đầy những túi mật trung du..., và Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn..., và Đảo nhỏ quá nói một câu là hết/ Có gì đâu chỉ cát với chim thôi, Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình/ Đảo có lính cát non thành Tổ quốc, v.v... và v.v... Song, trong quần thể thiên nhiên sống động, nhiều màu đó, cây thực sự là một kí hiệu nghệ thuật, một sinh mệnh thơ ca không chỉ bởi tần số hiển thị nơi văn bản thơ mà sâu xa hơn là ở sự chuyển tải cảm xúc và trí tuệ của nhà thơ.

Khác với văn xuôi, thiên nhiên đi vào thơ qua cửa ngõ tâm trạng của chủ thể. Đó là đối tượng để chiếm lĩnh, nhào nặn, đồng hoá, là nơi bắt đầu của hệ ẩn dụ nghệ thuật, là nguồn tưởng tượng và liên tưởng mang tính đặc trưng của phương thức trữ tình. Đặc biệt, trong thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, “hình cây bóng lá” là một kiểu nhân vật trữ tình chứa đựng nhiều cung bậc tình cảm, những vui buồn riêng tư và nỗi niềm nhân thế. Nó là sự kết hợp giữa mã tư tưởng và mã nghệ thuật, có một đời sống riêng, một quá trình vận động song hành với từng chặng đường sáng tác của nhà thơ. 

Trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, cũng như thơ của nhiều nhà thơ cùng thế hệ, thơ Hữu Thỉnh là tiếng nói mang nhiệt huyết của tuổi trẻ hướng về Tổ quốc, về nhân dân, về một đất nước Việt Nam toàn vẹn thống nhất. Nhưng ngay trong âm hưởng sử thi hào hùng của thời đại, những vần thơ đầu tay của Hữu Thỉnh đã thể hiện tình yêu và sự lưu luyến của một ngòi bút nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên và hơi thở rừng xanh. Cảnh và người hiện lên trong thơ ông hoà hợp, ấm áp và cảm động: Nhạc làm trong rừng em hát giữa Trường Sơn/ Người sốt rét hát cho người sốt rét/ Đường ngổn ngang đường đất còn cháy khét/ Cây mát cho người người mát cho nhau (Tiếng hát trong rừng). Hình ảnh cây trong thơ Hữu Thỉnh giai đoạn đầu kháng chiến chống Mĩ thường gắn với đời sống chiến trường và không gian chiến tranh - những con đường, những cánh rừng, những chặng hành quân, những lúc nghỉ chân, những đêm nằm bên đồng đội: Hai đầu cây nhòm xuống võng ta nằm/ Suối trong trẻo rung muôn điệp khúc (Giấc ngủ trên đường ra trận), Quàng vai bạn vô tình ta chạm phải/ Cái cựa mình tin cậy của rừng đêm (Đường tới thành phố).


Không phải ngẫu nhiên mà đi qua những năm tháng Trường Sơn, cây và rừng luôn được đặt kề cạnh, nương tựa và tôn nhau làm nên bức tranh thơ Hữu Thỉnh chan chứa tình đời, tình người, mỗi nét vẽ là một dòng cảm xúc. Rõ ràng, cảm hứng về cái chung, về cộng đồng đã chi phối cái nhìn không chỉ về con người mà còn cả về tạo vật. Cây chở che, cưu mang, hồn hậu và thân thiện: Nắng mưa gặp tán đùng đình/ Bàn tay sốt rét gặp cành dâu da/ Một lèn, một dốc, một xa/ Gặp cây vịn, lại gặp nhà nghỉ chân (Đường tới thành phố). Mặc dầu thiên về miêu tả và cây ở đây hiện diện như một khách thể thẩm mĩ nhưng đâu đó đã tiềm ẩn yếu tố biểu hiện và sắc thái nội tâm: Anh lớn lên đâu biết trước một ngày/ Ngồi nhặt sấu dưới vòm cây sốt rét (Đường tới thành phố).

Nhờ cái nhìn từ bên trong - cái nhìn bằng trái tim - Hữu Thỉnh đã nhận ra sự tàn phá khốc liệt và những vết thương âm ỉ, nhức nhối của chiến tranh. Nhưng tựa vào thiên nhiên, con người được xoa dịu và tiếp thêm sức mạnh. Từ giác độ này, Hữu Thỉnh có những câu thơ lãng mạn, bi thương và tráng lệ: Con đường qua tháng qua năm/ Núi đau lở đá, rừng bầm tận cây/ Vai gùi bước xốp trong mây/ Ta đi làm những mặt trời của nhau (Đường tới thành phố). Nói về vận mệnh Tổ quốc, nhờ khả năng khắc hoạ, đặc tả chi tiết, “gốc sim cằn” trong trường ca Đường tới thành phố là một hình ảnh đặc biệt ấn tượng: Anh quên thơ để nhớ gốc sim cằn/ Dăm bảy lá lèo tèo như mực rớt/ Sim như là không có cũng không sao (Đường tới thành phố). Trong cuộc giành giật sống còn giữa ta và địch, đối mặt với gốc sim cằn - một phần hình hài nhỏ xíu của Tổ quốc - người lính bất chấp nguy nan, đã ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện. Từ gốc sim cằn, năm cánh quân tràn về Sài Gòn, tạo nên một thành phố đầy áo trận, từ thành phố viễn đông những đoàn quân lại ào ạt đổ về phía biển Thái Bình Dương và kết thúc cuộc chiến bằng mốc son lịch sử 30/4/1975. Niềm vui toàn thắng của dân tộc được nhân lên gấp bội bởi sự cộng hưởng giữa nhịp đập trong lồng ngực với hơi thở của đất trời, giữa nhịp điệu tâm hồn với vũ khúc của đại dương: Biển đang lắc những hồi chuông đoàn tụ/ Phù sa nào rượi mát súng và xe.../ Chiến sĩ vừa đi vừa hát/ Cành ngụy trang qua gió thổi ba miền (Đường tới thành phố).

Có thể nói, thơ Hữu Thỉnh suốt thời kì chiến tranh chống Mĩ, cây không tồn tại như một cá thể đơn lẻ mà luôn hoà quyện, hô ứng để tạo nên sức sống cho những mô hình không gian thiên nhiên có kích thước rộng lớn: Sông trao mình cho biển/ Như cây trao bóng cho rừng (Biển). Cây, có thể coi là một kiểu “nhân vật” mang gương mặt đám đông thể hiện đặc điểm tư duy, đánh dấu những tìm tòi và sáng tạo của một thời đại thơ ca hào hùng, bi tráng.

Sau chiến tranh, trở về với đời sống thường nhật, cùng với một số nhà thơ khác như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Vương Trọng, Trần Nhuận Minh, Bằng Việt..., Hữu Thỉnh đã sớm có những dự cảm về mối phức tạp, đa sự của đời sống thời hậu chiến. Bài Nghe tiếng cuốc kêu là điệp khúc về những nỗi đau xé ruột giày vò tâm can của những người “giã từ vũ khí” trở về nơi không tiếng bom rơi đạn nổ mong tìm sự yên bình. Điều đó cắt nghĩa vì sao, cây lại trở về với mật độ dày đặc và ý nghĩa ẩn dụ phong phú, rộng mở hơn trong Thư mùa đông và đặc biệt là Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh.

Khi cảm hứng về đời tư, thế sự thay thế cảm hứng sử thi, con người đa ngã, nếm trải đổi chỗ cho những chân dung mẫu mực, lí tưởng, cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh đã tìm đến cây với sự hoá thân thành nhiều phân mảnh khác nhau. Chính vì vậy, trường liên tưởng về cây trở nên đa dạng, nhiều chiều. Tính biểu tượng của cây, theo đó, càng đậm nét. Thơ ông đan xen giữa tiềm thức và tâm tưởng, giữa hoài niệm về quá khứ và những suy tư về hiện tại. Tuổi trẻ, sự phơi phới thanh xuân đã gửi lại chiến trường. Giờ đây, giữa khung trời chuyển từ hạ sang thu đầy hương thơm, màu sắc, người thơ đã nhận ra dấu hiệu của tuổi tác nhưng vẫn là một tâm thế bình thản: Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa/ Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi (Sang thu). Sống với cây xanh, đi cùng năm tháng, cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh lắng lại nhiều ưu tư, trăn trở. Có lúc nhà thơ tự phác thảo chân dung mình qua những nét vẽ u trầm, buồn bã, có phần yếu đuối và dễ bị tổn thương: Tôi hay héo như cây/ Tôi hay buồn như nước (Tôi bước vào thành phố), Tôi ngồi buồn như lá sen rách/ Cuốc kêu gì mà khắc khoải trưa nay/ Tôi ngồi buồn tôi đếm ngón tay/ Có mười ngón đếm đi đếm lại/ Đếm đi đếm lại trời ngả sang chiều (Nghe tiếng cuốc kêu). Đối mặt với sự mất mùa nhân nghĩa, sự đảo lộn các giá trị nhân tính, cuộc chiến không cân sức giữa thiện và ác, tốt và xấu, bằng sự nhạy cảm của một trái tim cồng kềnh thơ phú đa mang, tác giả đã nhận ra “thế giới phẳng” của nhân loại thế kỉ XXI đang tồn tại rất nhiều nghịch lí: Sang thế kỉ với con tàu quá rộng/ Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang/ Tay vun cây và bão dập mùa màng/ Sông ôm sóng cả bên bồi bên lở/ Thương cảm, phản thùng, khoan dung, thớ lợ/ Vé trên tay thanh thản bước lên tàu (Sang thế kỉ). Nếu trước kia cây biểu trưng cho sự sống, đối lập với chiến tranh, sự chết chóc, có khả năng lan toả niềm vui: Những lá cây còn ở trong cây, Trận đánh ngày mai thức dậy với mầm cây, Anh lặn qua cái chết/ Mãnh liệt một mầm cây... thì giờ đây cây là hiện tồn của cá thể, mang tâm thế của con người thời hậu chiến: cô đơn, hoang mang, hoài nghi, mất niềm tin, mất khả năng tự bảo vệ mình: Những hàng cây lặng lẽ bảo vệ mình/ Bằng chính búp của thói quen đem tặng/ Trời bỗng gần hơn mây bớt nắng/ Cây gầy gò bừng thức có tình sao/ Cùng lúc đó một tên dậy sớm/ Đi tìm dao như mọi sáng đi tìm/ Và nó chặt/ Và tiếng chim tan vỡ.../ Không hiểu sao bóng mát bị trả thù/ Bị xua đuổi tội tình đến vậy/ Tôi thành kẻ bị lột trần trơ trẽn/ Cả lũ nhìn nhau côi cút dưới bầu trời (Những kẻ chặt cây). Nếu trước kia cây và người cùng nối vòng tay lớn để phá vỡ giới hạn, mở rộng kích thước của tình yêu thương nồng hậu, để cùng vui trong ngôi nhà chung của vũ trụ thì giờ đây khi cái ác bủa vây, len lỏi, cây bỗng thành nỗi sợ. Hình tượng cây gợi lên sự tha hoá của con người: Buổi sáng thức dậy/ Mùa đã qua, mùa đã qua/ Những khung cây hoang vắng/ Đi qua nhiều mũ áo/ Để tìm một bàn tay/ Thấm mệt tôi ngồi nghỉ/ Bóng mát một chùm gai (Buổi sáng thức dậy). Cây trong hình dung của nhân loại, đặc biệt ở xứ sở “nhiệt đới buồn” là đồng nghĩa với bóng mát. Đó là lí do tồn tại, ngôn ngữ sinh thái, giá trị thực tiễn, giá trị mĩ học mà con người hằng đón đợi. Nhưng cây trong thơ Hữu Thỉnh đã ít nhiều bị tước mất chức năng và đôi khi lại là cây tìm lá, cây mất lá... như chính thế nhân hoặc đang tự đánh mất mình, hoặc không đủ sức đề kháng để chống đỡ, để cứu lấy bản thể: Tôi như cây biết giấu lá vào đâu/ Giữa gió bụi kiếp người/ Nếu giấu lá thì còn đâu bóng mát/ Bóng mát mà không che nổi chính tôi (Bóng mát). Tư thế trữ tình của thi nhân mang dáng dấp của kẻ bất lực, hoàn toàn bị bủa vây, lạc lõng giữa cõi thế hoang vắng và vũ điệu sầu buồn của cây lá: Tôi lặng bước dưới cây/ Lá rơi lá rơi buồn bã.../ Cô đơn đầy đường không ai thèm nhặt/ Ngõ đứng trông người... (Đi dưới cây).

Bằng những trải nghiệm cá nhân, những buồn đau thành thật của người cầm bút, Hữu Thỉnh đã đem đến những suy cảm mang tính nghiệm sinh sâu sắc. Viết về cây, tác giả luôn có sự chuyển hoá, đổi ngôi, thay vai giao tiếp một cách linh hoạt: từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba, từ vị trí chủ thể sang đứng chỗ ngang hàng hoặc cao hơn chủ thể. Song, dù vị trí nào, dù diễn ngôn của cây là độc thoại hay đối thoại thì đó vẫn là những thân phận người, đa sầu đa cảm và mang gánh nặng đa đoan của kiếp người. Có thể đó là góc nhìn hợp thể về phía tác giả, cây là một nhân vật trữ tình đang phải hứng chịu bi kịch tình yêu, phải trả giá bằng chính vận mệnh của mình. Một tình cảnh trớ trêu ngoài hình dung và sức chịu đựng của kẻ đang yêu: Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu/ Cây đổ về nơi không có vết rìu.../ Người yêu thơ chết vì những đòn văn/ Người say biển bị dập vùi trong sóng/ Người khao khát ngã vì roi mơ mộng/ Ta yêu mình tan nát bởi mình ơi (Tự thú). Hoặc đó có thể là góc nhìn phân thân, cây là một thực thể sống, một môtíp để tác giả tạo lập tứ thơ và trao quyền phát ngôn. Nó tồn tại ngang hàng, đồng đẳng bên cạnh cái tôi chủ thể, là cái cớ để tác giả giải minh hiện thực và bày tỏ nỗi thất vọng, chua chát, hoài nghi trước con người. Dù đã mở lòng, nhưng giữa dòng đời đen bạc, cuộc tìm kiếm tri âm tri kỉ dường như là không thể, nếu không muốn nói là vô vọng: Vừa trong mơ cùng tôi/ Cây ra đường đã bụi (Vừa trong mơ cùng tôi). Khi sự bạc bẽo, dối lừa thay thế tình nghĩa, thuỷ chung, con người tất yếu sẽ rơi vào khủng hoảng niềm tin. Thơ Hữu Thỉnh, vì vậy, bỏ ngỏ nhiều câu hỏi dồn dập, gay gắt chưa thể tìm ra lời giải đáp. Suy cho cùng, đó là một kiểu tự vấn, là mối day dứt, trăn trở của thi nhân: Có gì mới ngày đi hay cát đến?/ Có gì vui? Gió thổi lấy lòng cây/ Có gì bền? Nhân nghĩa có còn dây?.../ Ta im lặng vì quá nhiều mây trắng (Nghẹn). Và đặc biệt có lúc cây được đặt ở vị thế cao hơn để con người tìm đến như một hành vi hướng thượng, để được cứu rỗi, được ban lộc, dù đó là thứ lộc hương hoa, tinh khiết, thanh tao giữa dòng thời gian vô tận: Cây vườn thơm từ quá khứ thơm ra (Hoa trong vườn Nguyễn Huệ). Các phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ cùng sự xê dịch, di chuyển điểm nhìn được vận dụng một cách hiệu quả: Khói như cây biết sinh quả theo mùa/ Thong thả chín, mẹ lại bồi thêm cỏ/ Tháng Chạp gầy hoa mua nhen nhóm nở/ Tím như là an ủi cả chiều đông (Ngọn khói). Nhưng cũng từ tầm quan sát đó, ở một góc nhìn khác, cây nhận ra rằng, trong cuộc “thương lượng với thời gian”, con người càng trở nên đáng thương hơn bởi những lựa chọn quẩn quanh mà đời người thì hữu hạn: Buổi sáng lo kiếm sống/ Buổi chiều tìm công danh/ Buổi tối đem trí khôn ra mài giũa/ Tỉnh thức/ Những hàng cây bật khóc (Thương lượng với thời gian).

Thơ Hữu Thỉnh, đặc biệt là những tác phẩm viết về đời sống thời hậu chiến và đương đại mang đậm sắc thái triết lí. Đó là sự kết hợp giữa tâm cảm và suy tưởng, giữa những rung động mãnh liệt, trực tiếp và sự thông minh sắc sảo của lí tính. Những câu chuyện về cây trong thơ ông, vì lẽ đó, là sự khúc xạ và thăng hoa của tư tưởng nhân sinh. Mỗi bài thơ là một tự sự nhỏ về đời sống đa màu, đôi khi lẫn lộn trắng đen, phức tạp đến rối ren: những được mất của tình yêu, những thăng trầm của công danh... Phải có tư thế sống của một người cố lách qua cặn lắng của đời mình và sống một ngày lội qua cả kiếp người, chấp nhận thương tổn, va quệt và xây xát, tác giả mới có thể viết nên những câu thơ giàu sức khái quát và nặng tính triết luận. Nhiều khi tác giả dùng thủ pháp ngược, không phải nhân hoá mà là vật hoá, cây hoá. Song, đằng sau đó vẫn là sự chắt lọc kinh nghiệm sống và tình thương đồng loại: Một lời như thể lưỡi cưa/ Khi nghĩ lại bao thân cây đã đổ (Một lời). Thời viết Biển, Hữu Thỉnh đã có những câu thơ mô tả cơn cuồng nộ bão táp mà cây là nạn nhân. Một trận bão trời dữ dội: Bão vò cây gào rít điên cuồng/ Tóc của bão là lá cây rách tướp (Biển). Cây trong bão, lại là bão biển, bão giữa trùng khơi, dĩ nhiên là tơi tả, gãy gục, tan tác... Nhưng sau này, đặt cây trong một tương quan và lựa chọn khác, người đọc mới cảm nhận đầy đủ hơn - dù là gián tiếp - những phong ba hãi hùng của đời sống thế gian. Những hiểm hoạ vô hình, tiềm ẩn luôn rình rập, đe doạ và hành hạ người lương thiện nhưng không thể nhìn thấy. Nó xoay chiều, đổi hướng và luôn vượt ra ngoài tầm dự báo. Tâm chấn của bão là những thói hư tật xấu, là lòng tham lam, đố kị, là ác tâm, chà đạp, giày xéo lên nhau bất chấp đạo lí của nhiều hạng người: Chừng như cây chồn gốc/ Muốn đổi bóng cho tôi/ Để cây được làm người/ Làm người trong chốc lát/ Mới một lát làm người/ Cây bỗng đòi bóng lại/ - Bão trời ta còn khinh/ Bão người không chịu nổi (Một thoáng làm người).

Song, bao trùm lên cảm hứng thiên nhiên trong thơ Hữu Thỉnh là khát vọng hướng thiện. Cây xanh là món quà quý giá mà tạo hoá ban tặng cho trần thế. Nó là liều thuốc hữu hiệu mang đến cho con người nhịp sống thanh thản, nhẹ nhõm. Điều đó chỉ có thể hiện hữu khi mỗi cá nhân ý thức được một cách sâu sắc thiên chức sống của mình: thiện tâm và bác ái. Sự cộng hưởng giữa giai điệu tình thương với những âm thanh du dương của cây lá bốn mùa là niềm vui sống của con người - thường hằng và mãi mãi: - Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng/ Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi chơi với cây! (Lời mẹ). 

Có thể khẳng định, từ không gian vô bờ của thiên nhiên, biểu tượng cây trong thế giới thơ Hữu Thỉnh thực sự là cả một cõi nhân gian, cõi người với bao vui - buồn, sướng - khổ, được - mất... Trong hệ sinh thái bao bọc đời sống nhân thế, tác giả đã lựa chọn cây để kí thác những tâm tư và suy nghĩ, cảm xúc và tư tưởng của một ngòi bút từng trải mà mộng mơ, sâu sắc, tài hoa mà thanh thoát, tinh tế, ham triết lí mà vẫn đằm thắm, tình tứ... Những thông điệp nghệ thuật được nhà thơ gửi gắm vào cây giàu ý nghĩa nhân văn bởi nó thể hiện tình thương yêu, nỗi đau và niềm tin trước cuộc đời.
Thơ Hữu Thỉnh kết hợp hài hoà những yếu tố truyền thống và hiện đại, nhuần nhị bản sắc phương Đông mà vẫn có nhiều cách tân mới lạ. Cây và hệ thống các thủ pháp miêu tả và biểu hiện, so sánh, ví von, nhân hoá và lạ hóa... cũng không là ngoại lệ. Từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt, từ hình ảnh đến biểu tượng, từ hiền hòa đến gai góc, từ cận cảnh đến viễn cảnh..., cây trong thơ Hữu Thỉnh là dấu ấn thi pháp, là gương mặt và số phận con người, là kí ức dân tộc và tín hiệu văn hóa. Một cách khái quát, cây là sinh mệnh thứ hai có sức sống và độ ám ảnh, là yếu tố nổi bật làm nên một phong cách thơ độc đáo và dồi dào tiềm lực sáng tạo.

 


L.H.T
(Nguồn vannghequandoi.com.vn)

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Diễn giả giơ tay lên: - Yên lặng cho! Vâng, thưa quý vị, chẳng có gì khác nhau...
Hình ảnh
Những âm thanh man rợ đó hình như vừa thách thức các hiệp sĩ nhận đấu vừa...
Hình ảnh
Đêm thao thức, bao cảm xúc vỡ oà Quyện vào nhau muôn lần thêm rưng rức Trắng...
Hình ảnh
Tuân nói: - Mình định viết một bài thơ dài, nhan đề: Tôi có lỗi. Tuân nói rõ...
Hình ảnh
Tôi đi thi đại học rồi học xa nhà, lên phố vẫn cố kiếm việc làm thêm trang...
Hình ảnh
Truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” của tác giả Trần Quỳnh Nga đăng trên...
Hình ảnh
Sau tiếng thét khiếp đảm của thằng bé, mới có ba bốn hình thù quái đản ...
Hình ảnh
Đứa con trả lời: - Con làm một cái máng đựng thức ăn, nếu con lớn con sẽ...
Hình ảnh
Kính gửi: Anh chị em Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Theo thông tin của BTC...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay621
mod_vvisit_counterHôm qua5977
mod_vvisit_counterTất cả9452192
Hiện có 243 khách Trực tuyến