"Lặng lẽ đời cây" - Sự nhất quán của một hồn thơ - Đặng Huy Giang

Thông qua những miếng, những mảng trong những bài thơ có ý, có tứ… người đọc bắt gặp một Nguyễn Đình Minh luôn thật thiên lương trong tâm tưởng… tiếp tục chặng hành trình từ “thong thả dưới trời” đến “những hạt vàng ta buông bỏ” như là cái căn bản, cái cốt yếu trong anh…

VHP trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Lặng lẽ đời cây”, NXB Văn học 2016 của nhà thơ Nguyễn Đình Minh.


Bìa tập thơ Lặng lẽ đời cây - NXB Văn học 2016

Thức với những tập mờ (NXB Hội Nhà văn 2014) là một tập thơ ấn tượng. Nó ấn tượng ở những bài thơ và ở cả những câu thơ. Có hai bài thơ mà tôi nhớ ngay từ tên gọi: Thong thả dưới trờiNhững hạt vàng ta buông bỏ. Chỉ cần nêu thế thôi, cũng đã đủ hình dung ra cái tâm thế dường như là bất di bất dịch của nhà thơ Nguyễn Đình Minh khi cầm bút làm thơ và coi thơ là một phần không thể thiếu trong anh.

Đến Lặng lẽ đời cây (NXB Văn học 2016), cái tâm thế ấy, lại được bộc lộ triệt để hơn, nhất quán hơn. Rồi cũng như nhiều người khác, tôi không (hoặc khó)  hình dung ra nổi ở những tập thơ sau này, con đường thơ của Nguyễn Đình Minh sẽ tiếp tục thế nào? Nhưng có điều tôi tin, với xuất phát ấy, với sự theo đuổi ấy, sự hướng tới hoặc đích hướng tới trong thơ Nguyễn Đình Minh đã tương đối rõ ràng. Sở dĩ nói “khó hình dung” là vì tôi vẫn tin trong thơ nói riêng và trong văn chương nói chung, vẫn có phần nào giống như một cuộc thi chạy đua Maratông, mà ở đó, hành trình tới đích bao giờ cũng hấp dẫn và đáng nói hơn là khi chạm đích hoặc cán đích.

Mở Lặng lẽ đời cây, tôi đã có ấn tượng ngay với Hạt lúaViệt Nam.

Trong Hạt lúa, có đoạn:

Không có bảy nong cơm, thì làm gì có Gióng

Lang Liêu được ngai vàng bởi vuông bánh chưng xanh

Đất nước dẫu thăng trầm, chưa khi nào rời vai đôi bồ lúa

Niềm vui mỗi mái nhà/ Quyện hơi ấm cơm thơm…

Trong Việt Nam, có đoạn:

Chạm hai tiếng “Việt Nam” khắc trên đá giữa ngàn mây

Nhớ một dải biên thùy gươm khua, ngựa hý

Thời đất nước buộc phải lấy máu mình viết nên lịch sử

Vận mệnh dân tộc sinh tồn/ Đặt trên mũi tên bay…

Hai đoạn thơ này đã đẩy hạt lúa và Việt Nam lên một tầm khái quát khác đầy thuyết phục, tất nhiên là bằng thơ. Sự trưởng thành của dân tộc này, sự trường tồn của dân tộc này bắt đầu từ hạt lúa và mũi tên bay. Hai câu: Vận mệnh dân tộc sinh tồn/ Đặt trên mũi tên bay, trong đó câu Đặt trên mũi tên bay, có thể ví như một cái đinh được đóng vào trí nhớ.

Tất nhiên, trong Việt Nam, còn có hai câu nữa, đáng để cho độc giả nhớ thêm và nghiền ngẫm:                    

Đến cây lau cũng hóa cờ trận mạc

Và trời xanh lại khác trời xanh.

Những câu thơ như thế, ít ra cũng chứng minh được một điều: Chỉ có người làm thơ cũ, không có những câu thơ cũ.

Nhưng Lặng lẽ đời cây, không chỉ có thế. Nhiều đơn vị câu thơ, chi tiết thơ đã trở thành điểm nhấn. Nhiều đơn vị câu thơ, chi tiết thơ đã góp phần nâng vực và sinh thành tứ thơ. Có thể tạm thống kê: Hoa sen tẩm thơm vào lũi lầm cay đắng/ Khúc ru nôi ủ ấm giấc mơ nghèo (Nghe thì thùng trống hội); Và tục ngữ cứ sinh sôi cùng với lúa đồng (Tục ngữ của làng); Ta rưng rưng nhấp men đồng ấm lửa/ Uống hồn quê thơm giữa bát sành (Chiều nhấp men đồng); Lòng người hình như có bão/ Con trâu cũng trở mình nằm nhai khúc canh khuya (Tháng năm quê nội); Chiều cánh vạc thoảng thơm mùi khói bếp/ Mẹ nghiêng xiêu gánh gió dọc triền sông (Chạm gió đầu đông); Trăng như một khuyên son lưng trời đêm biếc/ Chấm một ngày hạnh phúc/ Cho ta (Một ngày); Nải chuối vào mâm xòe tay ôm bầy quả/ Cơm ủ ngấm chín men, trở mình dậy rượu (Tết giữa nôi quê); Đom đóm nháy đèn từng đàn đi chơi gió/ Dắt lòng anh trôi sang ngõ nhà em (Tháng ba ơi); Họ là những bông hoa lúa/ Nở mỗi ngày trên bát cơm thơm (Những bông sen nước); Tổ quốc ấm những buổi chiều/ Nghe gió gọi cơm thơm (Bóng mẹ); Con đò ngu ngơ tự hỏi/ Bến này nơi đậu hay đi?/ Dòng sông cuộn mình trăn trở/ Sóng này, phải sóng ngày xưa? (Theo bước ngày đi); Dẫu có hóa thần, nhưng chẳng con Âu Lạc/ Làng nhuộm máu, đồng chìm trong nước mắt/ Lạnh sống lưng bài học nghìn năm (Gửi hồn Thục Phán); Xộc xệch một mảnh chiều/ Vùi lấp những ngày xưa (Trên vuông đất ngày xưa); Gom chiều cất rượu muối dưa/ Mùi chua, vị đắng như vừa đâu đây (Chiều trắng); Chợ gầy như một mảnh trưa/ Con tôm thì xác, tàu dưa thì cằn (Tiếng buồn chợ trưa); Bì bõm giữa dãi dầu, chồng cày vợ cấy/ Cây lúa lên xanh, hơi thở bết mùi bùn (Nước mắt giữa mùa vàng); Đã bù nhìn chẳng màng chuyện công danh, thớ lợ/ Hai vai gánh cả bầu trời (Bù nhìn)…

Đó là những câu thơ tài hoa, sắc sảo, có sự phát hiện, làm mới được những gì tưởng như đã cũ và hàm chứa, rất đáng được “đánh” những dấu khuyên. Đó là những bài thơ có tứ, có trụ, mặc nhiên đứng vững.

Đi xa hơn trong mạch suy tưởng, trong mạch “đào sâu xoáy mạnh” (theo cách nói của Chế Lan Viên), độc giả còn bắt gặp những câu thơ mang giá trị cảnh tỉnh, cảnh báo, trong mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, giữa được và mất thật xót xa, đau đớn.

Đó là Thời mở cửa, gió lành tràn về cùng nhiều cơn gió độc/ Siêu bão xô rung nền văn minh lúa nước nghìn năm (Hạt lúa); Phố ăn hết những miếng thịt đất làng mặn mồ hôi muối (Mảnh quê ngày gió); Thiếu hồn quê và không quá khứ/ Có phải vô tình ươm nấm độc ở tương lai (Ghi trong tour du lịch); Đem hồn quê treo lên đoạn đầu đài (Nhớ mùa bão cũ); Ăn thật nhanh/ Uống vội/ Đi như chạy, dù nắng dẫu mưa…/ Cổng nhà máy, mỗi sớm mai mở toang hoác miệng cá/ Chị bị hút qua như một con mồi (Người đàn bà thời công nghiệp)…

Trong Lặng lẽ đời cây, thông qua những miếng, những mảng trong những bài thơ có ý, có tứ… người đọc bắt gặp một Nguyễn Đình Minh luôn thật thiên lương trong tâm tưởng. Anh rất sợ Thấy hồn mình như bị ai đánh tráo (Theo cánh chuồn kim), rất sợ Mang hình người mà không có trái tim (Bầy khỉ dưới mái chùa) và Lòng bỗng thèm nghe tiếng của con người (Bẽ bàng giữa một tầng cao)… Chính vì thế mà Dưới bụi mù bụi công nghiệp và tềnh ềnh sự thừa thãi, Nguyễn Đình Minh vẫn tiếp tục chặng hành trình từ “thong thả dưới trời” đến “những hạt vàng ta buông bỏ” như là cái căn bản, cái cốt yếu trong anh:

Tôi đốt đuốc tìm tôi

Trong những bức tường rêu ngậm ngùi dần hóa thạch

Các giá trị đang so găng trong cuộc chuyển vần

Lòng lo sợ ngày mai mình thành rô bốt

Giữa đêm chuyển mùa, gà eo óc cầm canh.

 

Hà Nội, một ngày đầu tháng 10 năm 2016.

Đ.H.G

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Nhà Xuất bản Hải Phòng vừa cho ra mắt độc giả tập thơ “Nhịp cầu Đất...
Hình ảnh
Chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; Mời các bạn xem phim "Bài...
Hình ảnh
Rực rỡ gương nghề soi chẳng hết Tràn trề biển chữ học nào vơi Về hưu dạ...
Hình ảnh
(Minh họa của Lê Bá Hạnh)Với tôi cái học được trong đời có giá trị nhất...
Hình ảnh
                  Trải nghiệm cuộc đời và trau giồi cảm xúc để những...
Hình ảnh
- Xin người hãy nghe lão già này, tâu hoàng thượng: Ở bọn Thiên Chúa giáo có...
Hình ảnh
Hoàn Nguyễn viết về Thị Mầu cũng lên tiếng bảo vệ quyền được yêu của...
Hình ảnh
Trân trả lời, giọng khàn khàn. Anh bỗng cảm thấy một cái gì đó, gần như ...
Hình ảnh
Sinh năm 1976 tại Phú Thọ Hiện vừa kinh doanh vừa viết văn tại Lào Cai Hội...
Hình ảnh
Những người đang nhậu đều ngửng lên trố mắt nhìn cô phục vụ. - Ông ta là...
Hình ảnh
Yêu nhau chớ dở dang lòng Vàng thu lần lữa nửa vòng về thôi Lá phong sắp sửa...
Hình ảnh
Tuy nhiên, không hiểu sao ông ăn mày cứ đứng đó, tay vịn vào hàng rào, kèo...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay218
mod_vvisit_counterHôm qua8862
mod_vvisit_counterTất cả8811071
Hiện có 260 khách Trực tuyến