Chuyến xe đêm - Truyện ngắn Paustovsky

 

Tôi muốn viết hẳn một chương riêng về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng của nó tới đời sống của chúng tạ Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã viết thay vào đó một truyện ngắn về nhà thơ Anđecxen. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn này có thể thay thế chương sách định viết và làm cho ta hình dung trí tưởng tượng còn rõ hơn là những câu chuyện chung chung về đề tài này”. ..

Đọc thêm...

Ma cũ - Truyện ngắn của A. J. McKenna

Đêm yên lặng như hoa táo rơi, dịu dàng như má lúm đồng tiền của Ellen cười. Ellen đang đứng bên giường lão, mĩm cười nửa buồn nửa vui. Ellen chung thủy đang đợi.

‘Anh cần em không?’

‘Vâng! Chúa yêu quý – vâng!’.. (Bản dịch của Nguyễn Khắc Phước)

Đọc thêm...

Thơ Alexander Blok - Ngọc Châu dịch

Александр Блок (Alexander Blok) (18 -11-1880 / 7-8-1921) Nhà thơ hàng đầu của trường phái hình tượng Nga, Blok cùng với những nhà thơ lớn khác đã tạo nên một "Thế kỷ bạc" của thơ ca Nga. Phong cách thơ của Blok hình thành trong sự phát triển mạnh mẽ của trường phái thơ hình tượng, mà Blok là chủ soái. Thơ của Blok đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
Vanhaiphong giới thiệu 4 bài thơ song ngữ Nga - Việt do Ngọc Châu chuyển sang thơ lục bát Việt Nam...

 

Đọc thêm...

Bão tuyết - Truyện ngắn của Alexander Pushkin (1799 - 1837)

Ngựa phi qua gò đống,
Giẫm lên tuyết lún sâu...
Đây miếu thờ thượng đế
Đứng bên đường, cô liêu. ..
Giukốpxki(1)

Đọc thêm...

Khóm phúc bồn tử - Truyện ngắn Tchekhov (Nhà văn Nga 1860 – 1904)

Các vị nên để ý rằng, chú ấy nói những lời ấy với nụ cười ra vẻ thông minh và phúc hậu. Có đến hai chục lần tôi nghe thấy chú ấy nói: “những nhà quí tộc”; chắc hẳn là chú ấy đã quên mất rằng ông nội chúng tôi là nông dân, còn ông thân sinh vốn là lính. Thậm chí cả cái họ Trimsa-Ghimalaixki thực ra nghe cũng chẳng lấy làm gì thuận tai cho lắm, đối với anh ta bỗng trở nên thú vị, êm tai, nghe rất kêu và đầy vẻ quý phái...

Đọc thêm...

Câu chuyện về Ba nàng con gái - Truyện ngắn Csáth Géza (Hunggari)

Ba nàng con gái hòa làm một với nhau, trong cùng một cơ thể, một linh hồn, vì họ là ba chị em, họ không giấu diếm nhau điều gì, và nếu một trong ba người, nghĩ một cái gì đó, lập tức hai người kia, biết ngay (N. Hồng Nhung dịch)...

Đọc thêm...

Tên tử tù bất tử - truyện giả tưởng của Conan Doyle

- Tôi là người duy nhất ở đây biết được tất cả mọi việc, tôi đã cố cảnh báo các quý vị này. Nhưng các ông ấy đã không muốn nghe lời tôi, thế là tôi đành trông đợi vào những gì mà họ học được bằng kinh nghiệm. Các ông có biết những gì mà các ông đã làm với sức điện lớn lao của các ông không? Một cách đơn giản, các ông đã làm gia tăng sức sống của tên tử tội; hiện nay y có đủ khả năng thách thức cái chết trong nhiều thế kỷ.. (Kim Lương dịch)

Đọc thêm...

Nhà thơ Nga Афанасий Афанасьевич Фет (1820 - 1892)

 

Vanhaiphong giới thiệu nhà thơАфанасий Nga  Афанасьевич Фет.  (1820-1892). Ông là một trong những nhà thơ lớn nhất của nước Nga thế kỉ 19. Chủ đề chính trong thơ của ông là thiên nhiên và tình yêu. Ngôn ngữ thơ của Fet trong trẻo và tinh khiết, các bài thơ thường ngắn và cô đọng. Thiên nhiên Nga trong thơ ông đẹp đến lạ lùng, ông viết nhiều về những đêm trăng huyền diệu và tình yêu.
Dưới đây là 6 bài thơ của ông do Ngọc Châu dịch....

Đọc thêm...

Lẵng quả thông - Truyện ngắn Paustovsky - Nhà văn Nga (1892 -1968 )

Lần đầu tiên Đanhi được nghe nhạc giao hưởng. Bản nhạc gây cho cô một ấn tượng lạ lùng. Những đoạn luyến láy và rền vang của dàn nhạc gợi lên trong trí cô muôn vàn cảnh lạ giống như giấc mơ...

Bản dịch của dịch giả  Vũ Thư Hiên...

Đọc thêm...

Âm nhạc của yên lặng - Truyện ngắn của Eva-Lis Wuorio

Vanhaiphong:  Nữ văn sĩ Eva-Lis Wuorio (1918-1988) sinh ở Viipuri, một thành phố cổ bên bờ biển Phần Lan, gần biên giới với Nga. Bà theo gia đình di cư sang Canada và được học hành ở đó. Bà sống ở Toronto bằng nghề làm báo, viết văn. Sau đó, bà chuyển đến sinh sống tại một hòn đảo thuộc quần đảo Channel, Anh quốc. (bản dịch của Nguyễn Khắc Phước)...

Vanhaiphong:  Nữ văn sĩ Eva-Lis Wuorio (1918-1988) sinh ở Viipuri, một thành phố cổ bên bờ biển Phần Lan, gần biên giới với Nga. Bà theo gia đình di cư sang Canada và được học hành ở đó. Bà sống ở Toronto bằng nghề làm báo, viết văn. Sau đó, bà chuyển đến sinh sống tại một hòn đảo thuộc quần đảo Channel, Anh quốc. (bản dịch của Nguyễn Khắc Phước)

Lão Vicente ở đảo Formentera có lẻ là người hạnh phúc nhất mà tôi từng biết. Và có lẻ cũng là người nghèo nhất nữa.

Thân hình lão đen sạm, nhăn nheo, lom khom, gầy như bộ xương cách trí và không bộ đồ nào lão mặc mà còn nguyên, chưa vá. Lão sống ở Cala Pujol dưới một mái chái che chắn bằng đá, gỗ và cây trôi dạt, đồ đạc chỉ có một cái lò nướng bằng sắt rỉ dùng làm bếp và hai cái bát mẻ bằng sắt lượm từ rác phế thải của ngư dân. Nhưng lão lại sở hữu một bộ đồ lặn tuyệt hảo, một đôi chân nhái và một cái mặt nạ lặn. Và, như đã nói, tôi tin không có ai hạnh phúc hơn lão.

Trong vòng vài năm trước, tôi đã đến Formentera mấy lần, nhưng lần này, hình ảnh lão Vincente  tình cờ đập vào mắt tôi khi lão cùng đám ngư dân kéo thuyền của họ vào dưới những cái lán bằng tre và cây ở cuối bãi cát, nơi tiếp giáp với bãi đá. Rốt cục, hóa ra, lão không phải là một ngư dân. Lão không có thì giờ để đánh cá.

Nhờ tôi biết được một ít tiếng Ibicenco, thổ ngữ của lão, một thứ tiếng hoàn toàn khác với tiếng Tây Ban Nha của người Ca-ta-lan (Castilian), nên ngay lần đầu gặp lão, tôi biết lão đang hỏi một ngư dân để mượn một chiếc thuyền nhỏ, hỏi thẳng thắn, không hề van xin.  Tôi không hiểu tại sao lão là một ngư dân mà lại không có thuyền, tuy vậy, tôi gợi ý cho lão mượn cái thuyền nhỏ mà tôi thuê mỗi lần đến Formentera nhưng ít khi dùng đến. Lão cám ơn tôi một cách lịch sự khiến tôi có ấn tượng tốt về lão.

Tôi theo dỏi lão bỏ đồ lặn, chân nhái, mặt nạ, bình nước, một gói nhỏ thức ăn vào thuyền. Chẳng có cần câu hay súng săn cá dưới nước cho đủ bộ. Tôi không biết lão định bắt cái gì và bằng cách nào. Tôi nhìn người đàn ông nhỏ bé bơi thuyền ra, hướng về phía đường chân trời, quả quyết.

Tôi theo dỏi cho đến khi lão chỉ còn là cái chấm nhỏ trên đường chân trời, rồi quên lão. Ở Cala Pujol, dễ quên lắm. Nước biển màu lam ngọc trong đến tận đáy. Bãi cát chưa có ai dẩm chân, bờ biển hình vòng cung trắng bạc –năm tôi nói, nó vẫn như vậy – và nắng thì trời ban thường ngày. Thanh bình như thế, ai mà không quên.

Một hôm, gió thổi mạnh từ hướng Châu Phi, không khí biển thì oi bức và chẳng ngư dân nào ra biển. Họ ngồi trong quán nhỏ có mái bằng tre bên bờ biển, uống rượu đỏ và tán chuyện.

“Vincent về chưa?”

“Chưa.”

“Lão ta loco, este homebre, hơi khùng.”

“Chẳng khùng tí nào đâu. Lão có ý định tốt đấy.”

“Mày nghĩ vậy hả? Mày cũng loco luôn.”

“Tao hả? Không đời nào. Tao hiểu mục đích của lão, hiểu rất rõ.

“Có phải Vicente mà các anh đang nói là cái lão có bộ đồ lặn không?”, tôi hỏi.

Cả bọn họ đều đồng thanh “À ha”.

Tôi kêu thêm một chai rượu xứ đảo, thứ rượu chỉ có dân ở đây uống. Không ai muốn chơi trội bằng cách kêu thứ ngon hơn.

Thế là ngồi ở đó, với ngọn gió thổi từ Phi Châu khuấy động biển cho đến khi dậy bùn dưới sâu và tung bọt trắng lên trên, tôi được nghe câu chuyện kể về Vicente.

Sáu mươi năm trước đây, lão là một chảng trai đầy tham vọng. Vicente bỏ đảo mà đi.  Nhưng 60 trước, chẳng có nhiều việc dành cho người Tây Ban Nha ở nước mình. Thế nên Vicente lên làm việc trên những tàu biển của người nước ngoài, được một thời gian thì trở lại. Chàng trai đi khắp nước và làm đủ thứ việc, rồi dừng chân ở một nơi mà nhiều người giỏi dang hơn cũng đã dừng chân, đó là cầu tàu của cảng Barcelona, để làm một phu khuân vác – một mozo.

Lão đã từng mộng mơ nhưng mơ mộng đôi khi làm người ta thất bại. Thế nên lão đành khuân vác hành lý của người khác: người Tây Ban Nha giàu có, khách tham quan, khách du lịch nước ngoài. Mãi cho đến cách đây mười năm, lão vẫn đứng ở cái cầu tàu đó, đội cái mũ có số, chỉ vào ngực mình và la lớn, “Tôi hả? Tôi đây! Số bảy mươi ba đây!”

Một hôm, một người Mỹ giàu có đến bằng thuyền của một tàu từ Palma trông thấy cánh tay vẫy cuống cuồng của lão và gật đầu ra hiệu. Vicente theo những phu khuân vác khác đi thành hàng theo tấm ván để lên chiếc thuyền màu trắng. Khi lão đến, người Mỹ giàu có nói, “Sáu cái va li này và cái kia. Mang nó phải cẩn thận. Đồ cổ đấy.”

Vicente nhận ra cái bình bằng đất, thứ vò hai quai thuộc nền văn mình cổ đại Phê-ni-xi (Phoenicia), một mẫu vật khá lớn, đẹp và hiếm, dùng để đựng loại hàng như rượu hoặc ngủ cốc để chuyển đi bằng đường thủy. Ngày xưa, ngư dân thỉnh thoảng bắt được chúng vào lưới mình. Họ thường ném chúng xuống biển. Nhưng nay thì họ không ném nữa kể từ khi các senores từ thành phố xuống mua cho bảo tàng của họ.

Vicente nâng mấy cái vali lên vai, tay nhấc cái bình bị biển nạm, màu phớt hồng, bước lên tấm ván. Mọi người chen nhau để ra khỏi thuyền, lên bờ, lão ta la, bọn họ cũng la. Lão đến cầu tàu, và một người phu khác, vì vướng vào dây neo tàu, té ập vào lão khiến lão đánh rơi cái vò hai quai.

Hai ngàn năm bỗng chốc rớt cái bụp tan tành. Thế là xong!

Mười năm trước vẫn còn tìm thấy loại vò hai quai của người Phê-ni-xi, người Hy-lạp, hoặc người La-mã trong những vịnh cạn ở vùng đảo Ibiza, nhưng nay thì hầu như chỉ còn những vật không mấy giá trị từ thời cận đại, rất hiếm thấy những cổ vật có giá trị cao. Người Mỹ đó đã trả 500 đô-la để mua cái bình Phê-ni-xi đó, đã thuê những nhà chuyên môn xác nhận là đồ cổ thật. Đương nhiên là ông ta tức giận.

Nhưng ông ta cũng là một người sáng suốt để biết rằng một người phu khuân vác như Vicente làm suốt đời cũng không sao kiếm đủ 500 đô-la nên ông ta đành chấp nhận rủi ro và sẵn sàng quên sự mất mát.

Nhưng Vicente không chịu vậy. Lão biết cái giá trị mà người ta gán cho những cái bình, cái lọ cũ vô dụng đó như thế nào; lão đã thấy vẻ thất vọng  trên mặt của người Mỹ. Vicente là một người trọng danh dự nên lão muốn đền bù.

Lão theo người Mỹ đến khách sạn, nài nỉ xin cho được tên và địa chỉ và hứa sẽ đền lại cho ông ta. Trên mãnh giấy không được lành lặn xé từ một cuốn nhật ký, ông ta ngoáy mấy từ: Abraham Lincoln Smith, 72 Hudson Avenue, Milwauki, Wisconsin, U.S.A và tờ giấy trở thành vật quý giá của lão. Đó là cột mốc tối hậu trong cuộc tìm kiếm lâu dài của lão.

Tôi tin là trong giấc mơ lão Vicente đã thấy mình rốt cục đến được Milwaukee, Wisconsin, U.S.A, tay mang cái vò hai quai Phê-ni-xi cổ, được chào đón và khen ngợi.

Vicente biết rằng lão chẳng bao giờ có tiền để mua cái vò hai quai đó, nhưng mắc mớ gì không đi kiếm cho mình một cái. Hồi nhỏ, lão đã trông thấy nhiều người tìm được. Tại sao lão lại không?

Lão chẳng có gia đình, và cũng chẳng mất thì giờ để từ bỏ cuộc sống ở Barcelona đông đúc, nhộn nhịp bên bờ biển ấy, nơi lão đã khuân vác va-li cho người ta để kiếm tiền uống rượu và cái phòng ở không có lấy một cửa sổ.

Khi lão đã bán hết chút đồ đạc, lão mua vé đi Ibiza và xa hơn một chút. Từ phía đuôi thuyền, lão quay nhìn lại thành phố khuất dần sau biển nước, và lão chợt nhận ra rằng những năm tháng lão ở đó chẳng khác gì tự giam mình vào nhà tù. Lão chẳng bao giờ ngước mặt khỏi đường phố chật hẹp để nhìn bầu trời rộng bao la.

Thêm một lần trong đời, kể từ hồi còn bé, lão lại được nghe âm nhạc của biển khơi.

Khi đã trở về với đảo, lão bắt đầu thực hiện việc đã định. Lão tìm hiểu nơi nào người ta đã phát hiện những chiếc vò hai quai, và lão, cũng như nhiều người trước lão, nhận ra rằng những đồ cổ quý giá ở gần bờ đã được tìm kiếm và lấy sạch.

Sandik, một thanh niên ở Santa Eulalia del Rio, con của một lão thợ mộc, đã trở thành một thợ lặn biển nổi tiếng. Anh ta đã tìm thấy một khẩu đại bác dưới đáy biển. Muốn tìm Sandik để nhờ khuyên bảo, lão đi xe buýt đến chỗ của anh ta, và Sandik cho lời khuyên ngắn gọn. Kiếm mặt nạ, chân nhái và ra xa ngoài biển. Trên đường ra, nhiều chỗ cạn sâu chưa biết được, chỗ thì cạn vừa ngập đầu người, chỗ thì sâu bằng hai, ba chiều cao của người, và trong hang sâu dưới đáy biển, kho tàng có thể vẫn còn nằm đó.

Hồi đó, Vicente, cũng như nhiều người sinh ra ở đảo, chưa bao giờ học bơi. Theo lời khuyên của Sandik, lão dùng hết món tiền còn lại để mua một bộ đồ lặn thật tốt, cặp chân nhái và một mặt nạ. Rồi lão đi thuyền nhỏ đưa thư Manolito trở về đảo Formentera. Ở đó, cắm trại trên bãi, xin ăn qua bữa, quả quyết đeo đuổi một mục đích duy nhất, lão bắt đầu tự học bơi.

Lúc đó lão đã trên 60. Lão là một cụ già vì thời gian chẳng chừa một ai. Tuy vậy, cái sự thôi thúc muốn học và đi về phía chân trời thì vẫn còn trẻ trung.

Lão học bơi và học lặn với đồ lặn của lão ở vùng nước cạn gần Cala Pujol. Dần dần, lão mạo hiểm bơi ra xa hơn, rồi xa hơn nữa, tới nơi nước chuyển sang màu tím, bắt đầu vùng biển sâu. Sau những lần lặn đầu tiên là thời kỳ lão nói nhiều nhất bởi lão không thể giữ trong bụng cái vẻ đẹp ngoạn mục kỳ lạ của biển sâu. Những khu vườn đầy loài sao biển, những loài cá đa sắc, mắt to, dịu dàng bơi theo lão, những tia sáng mờ đục chiếu nghiêng vào những hang đá bí hiểm. Lão kể những gì lão thấy cho đám ngư dân chuyên lao động trên thuyền nghe và họ tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên và thán phục. Lão thề rằng chưa bao giờ lão thấy tự do như khi lão ở dưới biển sâu.

“Nhưng dưới đó bác đâu thở được?”

“Nhưng người ta có thể thở bằng mắt và bằng lỗ chân lông.”

Chưa bao giờ lão nghe loại âm nhạc như thế.

“Nhưng dưới biển chỉ là cõi yên lặng.”

“Nhưng là cõi yên lặng có âm nhạc. Tựa như nghiều nhạc cụ cùng gởi âm thanh trong trẻo nhất lên bầu trời.”

Tiếng Tây Ban Nha có đặc điểm riêng. Anh thợ cày cũng thường nói như là ngâm thơ. Ngôn ngữ tự nó sắp đặt như vậy.

Ngày tiếp ngày, tuần tiếp tuần, tháng tiếp tháng, cứ thế mà nhiều năm rồi, vì danh dự mà cố tìm cho được cái vò hai quai để  thay cái đã bị vở, lão Vicente trở nên hạnh phúc hơn. Mỗi ngày là một niền hân hoan mới, một khám phá mới. Đã qua rồi cái thời bị ràng buộc bởi thời gian. Thế nào cũng có cái gì đó để thỏa mản nhu cầu, một con cá để nướng, một ly rượu, một miếng bánh mì, một hộp diêm. Đối với ngư dân ở đó, cuộc tìm kiếm của Vicente đã trở thành một phần của cuộc sống trên bờ hoặc trên biển của họ. Họ thường đối đãi với lão rộng rãi, không suy tính và bao giờ cũng sẵn sàng.

Họ kể cho tôi nghe về lão Vicente cái hôm gió thổi từ Châu Phi khuấy động biển từ đáy và làm dậy lên những ngọn sóng cao vội vã xô nhau, và tôi, cũng như họ, hướng mắt vào đường chân trời mong tìm một chiếc thuyền nhỏ. Tôi quay sang Cha Pedro, người chăm sóc phần hồn của giáo dân ở thị xã San Fernando, vừa tham gia với chúng tôi.

“Cha nghĩ thế nào, thưa Cha?” tôi hỏi. “Liệu lão Vicente có tìm được cái vò hai quai không?”

Vị linh mục hơi mập này đan hai tay vào nhau. Hai mắt ông cũng hướng về chân trời nhưng dường như chẳng có gì lo lắng. Gió từ Châu Phi bắt đầu lay cái mái bằng tre trên đầu chúng tôi.

“Này nhé”, ông nói. “Vincent lâu nay tìm kiếm. Không phải là tìm ra cái gì, như anh biết đấy, mà chính việc tìm kiếm mới là quan trọng. Chỉ việc tìm kiếm thôi chớ không phải cái gì khác.”

Vào một ngày năm ngoái, biển đột ngột dâng cao, nổi sóng dữ dội vì gió, chiếc thuyền nhỏ mà lão Vicent mượn đã bị đánh dạt vào bờ.

Không ai tìm thấy lão Vicente.

Biển động dữ dội nhiều ngày trước đó.

Thế nhưng bọc kín trong đám rong biển và được cột chặt vào đáy thuyền là chiếc bình hai quai của người Phê-ni-xi đã được vớt lên sau hàng thế kỷ nằm sâu dưới biển.

Cha Pedro và những ngư dân là bạn của Vicente nhờ tôi, vì tôi biết tiếng Anh, viết thư gửi cho ông Abraham Lincoln ở Milwaukee, Wisconsin, U.S.A. Tôi đã viết và đã gởi đến địa chỉ đó mấy lần và lần cuối gửi cho ngài thị trưởng.

Chẳng ai nhận được hồi đáp của ông ta.

Bực mình vì lão già ngu ngốc đã làm vở đồ kỷ niệm của mình, người Mỹ kia đã phịa ra cái tên để tống cổ lão, tôi đoán vậy. Tuy nhiên, người Mỹ ấy có thể từng sống ở Milwaukee. Cũng chẳng ai biết nữa.

EVA-LIS WUORIO

Dấu vết của Bin Đen - Truyện ngắn O. Henry (Nhà văn Mĩ / 1862-1910)

Một người gầy lêu đêu, khoẻ mạnh, mặt đỏ rực, có cái mũi khoằm của tướng Oenlinhtơn, đôi mắt đã đỏ lại được đôi lông mi đỏ hoe tôn lên làm cho đỏ như cội, ngồi trên sân ga Lôt Pinôtx, hai chân đung đưa. Ngồi bên cạnh là một người to béo, trầm tư, dáng buồn, hình như họ là bạn thân của nhau. Họ mang dáng dấp của những người mà cuộc đời như một cái áo khoác mặc được cả hai mặt - mặt nào cũng là trái được.( Mạnh Chương dịch)..

Đọc thêm...

Thơ EXenhin

Nhân dịp kỉ niệm 120 năm ngày sinh ÊXÊNHIN - Nhà thơ lớn của đồng quê nước Nga (1895 – 1925).Vanhaiphong xin đăng một số bài thơ của ông  dịch sang thể lục bát VN...(bản dịch của Ngọc Châu)

Đọc thêm...

Tình thôn dã - Guy de Maupassant (1850-1893)

Nhà văn Pháp Guy de Maupassant (1850-1893)

Chị vừa nói vừa cho cặp vú căng tròn vào trong áo váy:
"Ông đã giúp em một việc rất đáng nhớ , thưa ông."
Và chàng đáp lại bằng một giọng biết ơn:
"Chính tôi mới là người cảm ơn, thưa bà, vì đã hai ngày nay, tôi chưa được ăn gì cả.".. (Trần Thanh Ái dịch)

Đọc thêm...

Những người da đỏ đã đi rồi - Truyện ngắn Hemingway (1899-1961) - Mĩ

Gã con trai của Green là Eddy muốn tiếp tục  làm nông, đã mua một miếng đất quá đằng sau  suối Spring. Hai đứa con khác mua một tiệm bi da lỗ ở Pellston. Họ hết tiền rồi bán xới luôn. Đó  là con đường người Da Đỏ ra đi...

Đọc thêm...

Đêm Nguyệt thực - Gabriel Marquez

Chỉ khoảng ba năm sau cái đêm không thể nào quên ấy, nàng mới nhận ra anh chàng qua bức chân dung cảnh sát phác họa con quỷ dâm loạn đang bị truy nã suốt cả vùng Caraibes về tội lừa đảo và làm ma cô, chuyên bám váy các bà nạ dòng cô đơn mà vui vẻ trẻ trung. Và cũng có thể chính y là thủ phạm đã sát hại một vài trong số các bà... (Bản dịch của Phan Quang)

Đọc thêm...

Người đầu bếp già - Truyện ngắn Paustovsky

- Tôi là Vônfgăng Amêđây Môza, - người lạ mặt trả lời.
Maria lùi lại và cúi xuống, đầu gối gần sát đất, trước người nhạc sĩ vĩ đại.
Khi nàng đứng thẳng lại thì ông lão đã qua đời. Bình minh cháy đỏ ngoài cửa sổ và trong ánh sáng ban mai, khu vườn đã phủ đầy hoa tuyết ướt...

Đọc thêm...

Quan hệ hữu nghị - Truyện ngắn hài của Azit Nezin (1915-1995)

HỮU NGHỊ

Bộ trưởng ngoại giao:

- Nhân dịp năm mới ta đã có điện mừng rồi, tâu hoàng thượng! Rồi nhân dịp đứa con trai út của thủ tướng mọc răng, rồi cả dịp Quốc khánh nữa, ta cũng đều có gửi điện. Nói chung là ta sử dụng hết mọi cớ rồi, tâu hoàng thượng!..

 

Đọc thêm...

Có người thường xuyên đánh ô vào đầu tôi - Truyện ngắn của Fernando Sorrentino

Dịch giả Nguyễn Khắc Phước

Fernando Sorrentino sinh ở Buenos Aires, Argentina vào ngày 08 Tháng 11, 1942. Tác phẩm của ông gồm có sáu tập truyện ngắn, một truyện dài và một truyện vừa, phần lớn là chuyện tưởng tượng và hài hước dành cho thanh thiếu niên. Tác phẩm của ông đã được dịch sang nhiều thứ tiếng . “CÓ NGƯỜI THƯỜNG XUYÊN ĐÁNH Ô VÀO ĐẦU TÔI” là truyện tưởng tượng có tính ẩn dụ mở, chủ đề của câu chuyện nhắm vào hay liên quan đến vấn đề gì tùy vào hoàn cảnh,  kinh nghiệm sống, văn hóa, tôn giáo, xã hội… riêng của mỗi người đọc. (Nguyễn Khắc Phước dịch qua bản tiếng Anh)...

Đọc thêm...

Đêm Ai Cập - Truyện ngắn của Pushkin (1799-1837)

Giá vé 10 rúp; mở màn lúc 7 giờ.

Tờ quảng cáo

(Thủy Nguyên dịch)...

Đọc thêm...

Một số truyện cực ngắn của Franz Kafka

Vanhaiphong.com: tuần này VHP giới thiêu với bạn đọc về nhà văn nổi tiếng thế giới Franz Kafka. Phần giới thiệu về nhà văn mời bạn đọc xem ở mục TẠP VĂN, Dưới đây là một số truyện cực ngắn của ông ..

 

Đọc thêm...

Câu chuyện chân thực của một cô gái điếm - Vương Phàm (Trung Quốc)

Tôi là một cô gái điếm. Ban ngày tôi nằm trong căn phòng tối tăm của mình mà ngủ, đêm xuống tôi trang điểm phấn son và đi ra ngoài, đón tiếp những người khách của mình. (Phạm Thanh Cải dịch)...

 

Đọc thêm...

Vua Machat và cậu bé đốt lò thông minh - cổ tích Hung ga ri

Nguyễn Hồng Nhung dịch từ nguyên bản tiếng Hungary

Nghe vậy vua Machat nói:

- Từ bây giờ trở đi con sẽ là đức giáo chủ, cậu bé đốt lò thông minh của ta, còn vị đức giáo chủ kia xin mời đi đốt lò!...

Đọc thêm...

Bài thơ sô28 - tập thơ TÂM TÌNH HIẾN DÂNG của Tagore

Rabindranath Tagore, hay Rabindranath Thakur, (18611941) là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Mônnhà dân tộc chủ nghĩa được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel....

Đọc thêm...

Anh béo và anh gày - Truyện ngắn Tchekhov

Tchekhov Anton Pavlovich Chekhov (1860-1904) là một bác sĩ Nga, ông là  nhà văn và kịch tác gia, được coi là một trong những nhà văn vĩ đại nhất về truyện ngắn...

Đọc thêm...

Ba chú lợn con - Cổ tích Hung ga ri do Nguyễn Hồng Nhung dịch

Dịch giả Nguyễn Hồng Nhung (Budapet- Hung ga ri)

Ngày xửa ngày xưa ở giữa một khu rừng già có một gia đình lợn. Ngoài lợn bố và lợn mẹ ra còn có ba chú lợn con.

Chú bé nhất có cái tên Ủn Ỉn, chú ở giữa có cái tên Ủn Ủn, chú lớn nhất có cái tên Ỉn Ỉn...

Đọc thêm...

Những hầm mộ mới - Truyện giả tưởng của Arthur Conan Doyle

Vanhaiphong: Độc giả Việt Nam đã được đọc nhiều truyên trinh thám của Arthur Conan Doyle ( 1859 – 1930) với nhân vật Sherlock Holmes nhưng nhiều người chưa biết rằng tác giả người Xcot- len này còn viết khá nhiều truyên giả tưởng. Xin giới thiệu với độc giả một truyện của ông viết về thể loại này...

 

Đọc thêm...

Đoạn kết câu chuyện cổ tích - Jack London

-Ôi, bàn tay thân yêu, bàn tay đầy sức mạnh! - chị thì thầm rồi cúi xuống hôn.
Ông rút mạnh tay lại, đẩy thuyển ra xa bờ, khua mái chèo xuống dòng sông chảy xiết và lái ra đến giữa sông, nơi đây nước chảy phẳng lặng như mặt gương trước khi nó cuồn cuộn thành những đám bọt trắng xoá....

Đọc thêm...

3 truyện cực ngắn do Phạm Thanh Cải dịch

 

Dịch giả Phạm Thanh Cải

 

3 truyện cực ngắn do Phạm Thanh Cải (Hội Nhà văn Hải Phòng) dịch qua bản tiếng Trung và tiếng Nga

Đọc thêm...

Thơ Paul Laurence Dunbar & Robert Burns - Ngọc Châu dịch

Paul Laurence Dunbar sinh năm 1872 tại Dayton, Ohio (Mỹ), con trai của một cựu nô lệ. Là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được công nhận danh hiệu nhà thơ.

Robert Burns (25 tháng 2 năm 1759 – 21 tháng 7 năm 1796) là nhà thơ dân tộc Scotland, tác giả của các tập thơ, trường ca và những bài hát dân gian cải biên viết bằng tiếng Anh lẫn phương ngữ cổ Scotland...

Đọc thêm...

Bão Tuyết - Truyện ngắn của Pushkin

 

Ngựa phi qua gò đống,
Giẫm lên tuyết lún sâu...
Đây miếu thờ thượng đế
Đứng bên đường, cô liêu.
.................................
Bỗng bão tuyết bao vây;
Trút ào từng mớ tuyết;
Bóng đen và tiếng rít,
Trên cộ trượt bám xoay;
Tiếng tiên tri rên rỉ
Nói lên nỗi u sầu!
Ngựa dựng bờm dồn bước,
Nhìn xa trong đêm thâu...
Giukốpxki(1)...

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Pha và Ny là con của cô lao công trước kia làm ở trường này, Pha được học...
Hình ảnh
Hội thảo “Tác phẩm hay - đích đến và giải pháp” do Liên chi hội Nhà văn...
Hình ảnh
Mới đây Hội Nhà văn Hải Phòng vừa tổ chức chương trình Bàn tròn văn chương...
Hình ảnh
Để diều mẹ bay lên được thì phải “chạy mồi”. Lúc này, người cầm dây...
Hình ảnh
Từ chiều tối Thứ Sáu - ngày 14 và sáng Thứ Bảy - ngày 15/9/2018 (tức mùng 5 và...
Hình ảnh
Nhưng tình hình cũng đã rõ. Đâu đâu cũng nghe đồn rằng phe công nhân đang...
Hình ảnh
– Cô nhầm rồi! Thần trừng phạt lại nói. – Anh ta đã chết quá sớm. Sống...
Hình ảnh
Do đó, sự nhầm lẫn như đã nói trên là rất dễ hiểu và theo tôi, tác giả ...
Hình ảnh
- Tôi không biết lấy ggì đền đáp ơn anh. Hôm qua chúng tôi làm lễ thành hôn...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay335
mod_vvisit_counterHôm qua3745
mod_vvisit_counterTất cả10832164
Hiện có 229 khách Trực tuyến