Cô tôi - Truyện ngắn của Nguyễn Minh Ngọc

Buổi tối hôm sau, lúc đôi vợ chồng vào buồng, nhìn theo, đột nhiên Nhu thấy có cái gì nghèn nghẹn ở cổ. Đóng cửa, tắt đèn đứng trong đêm tối,  bỗng một cảm giác cô đơn ùa đến sâm chiếm cõi lòng…Nhu từ từ nhắm mắt lại, từ  hai khoé mắt lăn ra hai giọt lệ. Một buổi tối nặng nề làm sao!...

Mùa hè trên bãi biển Sầm Sơn, tôi cùng chồng và hai con đi nghỉ mát. Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi bảo nhau dậy sớm ra ngắn biển. Mặt trời còn chìm dưới đường chân trời. Gió nhẹ, mặt biển gợn lên những làn sóng nhịp nhàng, dạt dào thăm thẳm; biển liền trời một mầu xanh bất tận. Kìa, mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời, nhuộm đỏ ối một vùng nước biển.  Cảnh đẹp làm mọi người trên bãi biển hân hoan hẳn lên. Các con tôi chạy ào ra mé nước, dang tay đón mặt trời. Tôi định chạy theo các con thì có tiếng điện thoại, một tin không lành, cô tôi vừa qua đời lúc ba giờ sáng hôm nay.Tôi bàng hoàng. Năm nay cô tôi đã ở tuổi tám mốt, nhưng vài hôm trước cô còn rất khoẻ.Tôi buồn buồn cùng chồng con thu xếp ra về.

Mẹ của cô là em gái thứ năm của ông nội tôi, bà lấy chồng họ Đỗ một gia đình giầu có ở xã Tân Tiến, một xã bên kia sông. Bà sinh được một người con gái, đặt tên là Đỗ Thị Nhu, sau chồng chết bà để con cho nhà chồng nuôi về ở với bố mẹ đẻ. Cô Nhu lớn lên lấy chồng họ Phạm người cùng xã. Đã có tới sáu năm, tôi ở với gia đình vợ chồng cô. Vì lúc bấy giờ, trường cấp hai và trường cấp ba của huyện đều đóng ở xã cô, tôi phải qua sông sang nhà cô trọ học. Sau đó tôi đi học đại học sư phạm bốn năm,  rồi trở về trường cũ dạy học, và xây đựng gia đình ở đây, nhà tôi ở gần nhà cô. Tôi và cô như có một mối duyên tiền định, chúng tôi luôn được gần nhau.

Lại nói việc lấy chồng của cô tôi. Thuở con gái, cô Nhu có Vóc dáng mảnh mai; khôn mặt trái xoan, đẹp nhưng vương một nét buồn; đôi mắt hiền; mái tóc quăn tự nhiên, làm tăng vẻ rầu rầu cho gương mặt. Nhu được gả vào một gia đình thuộc diện khá giả, nhưng cũng chỉ có một người con trai tên là Phạm Đức Hoà. Bố làm nghề thuốc, lớn lên Hoà theo nghề bố, sau này anh làm trạm trưởng trạm y tế xã trong nhiều năm. Hoà  có dáng người dong dỏng cao, đôi mắt thông minh; giọng nói trầm ấm. Tính tình  anh hiền lành, chân thật được nhiều người tin quý. Vợ chồng Hoà- Nhu sống hoà hợp, thương yêu nhau.

Nhưng tình yêu của họ không đơm hoa kết trái. Ba năm, rồi năm năm trôi qua Nhu vẫn không sinh được con. Thấy mình không đẻ được, Nhu có ý để chồng lấy vợ hai. Nhiều lần Nhu nói chuyện với chồng, Hoà gạt đi, yêu thương vợ anh không muốn san sẻ tình cảm với người khác. Anh nói với vợ: “ Làm trong nghề y anh biết, tại anh chứ không phải tại em.” Tuy chồng nói vậy, nhưng Nhu vẫn lo lắng đến dòng dõi gia đình. Cô luôn canh cánh trong lòng, rằng không sinh được con là mình đã có lỗi với bố mẹ, với tổ tiên, mình phải có trách nhiệm đền bù lại. Một hôm ngồi trên chuyến đò ngang qua sông, Nhu được nghe chuyện về một gia đình. Hôm sau Nhu tìm đến gặp gỡ người phụ nữ và đứa con của cô. Đêm về Nhu nói chuyện với chồng:

- Em vừa sang thôn Đại Sơn, đến chơi nhà cô Thảo. Anh biết cô Thảo không ?

-Nào anh có biết gì đâu. Mà làm sao em lắm chuyện thế. Đã bảo là tại anh, em cứ yên tâm đi.

- Em không lắm chuyện, em thật sự lo cho anh, sao cho có người nối dõi tông đường, hương khói cho bố mẹ khi chúng mình  qua đời. Xin anh hãy nghe em một lần. Chồng chết hơn một năm nay, cô Thảo đã có một đứa con trai,  cô ấy kém em năm tuổi. Như vậy cô Thảo có khả năng sinh đẻ, và đang ở độ tuổi sinh đẻ. Nếu về nhà mình cô ấy không sinh được con thì mới đúng tại anh. Em sẽ không ân  hận nữa. Khi ấy chúng mình sẽ chăm sóc đứa con, nhất định nó sẽ hiếu nghĩa với mình. Em đã hỏi kỹ rồi, cô Thảo là người hiền lành “ Người hiền hiện ra mặt”. Cô ấy có gương mặt phúc hậu, nói năng dịu dàng, nhất định phải là người tốt anh ạ. Thấy chồng không nói gì, Nhu nói thêm: Anh đồng ý nhé, chỉ cần anh đồng ý còn mọi việc để em lo liệu.

Nhu Bàn chuyện với anh em nhà chồng, rồi tự mình đi sắm sửa lễ vật, nhờ người trưởng họ đứng lên giúp đỡ công việc. Hôm ấy là một ngày cuối xuân ấm áp, những dọt xoài non đã điểm trên những lá  xoài xanh. Cảnh vật choàng xong cho mình chiếc áo xuân mới. Vầng dương chiếu những chùm tia sáng qua các tán lá cây, lấp loá trong đoàn người cùng Nhu đi hỏi vợ cho chồng. Nể vợ, Hoà lấy bộ quần áo cưới ngày xưa ra mặc, đi theo mọi người. Đến nơi, Hoà như bừng tỉnh trước người thiếu phụ. Tuy cái nhan sắc tươi như hoa không còn, nhưng vẻ đoan trang dịu dàng của cô cuốn hút tâm hồn anh. Hoà thầm cảm phục vợ có con mắt tinh đời. Tự nhiên một tấm tình thương mến người phụ nữ này dâng lên trong trái tim anh.

Mọi chuyện từ việc ăn hỏi đến cưới xin, diễn ra thuận lợi,  gia đình nhà chồng cũ xin nuôi cháu trai của họ. Hôm cưới vợ cho chồng Nhu tất bật suốt ngày, cô làm chục mâm cơm mời anh em trong họ. Bậm bịu cả ngày, nhưng Nhu vui cô cảm thấy mình đã làm tròn bổn phận với gia đình nhà chồng. Buổi tối hôm ấy, khi khách đã ra về cả, ăn cơm xong, ba người ngồi uống nước trên bộ tràn kỷ ở giữa nhà, Nhu thong thả nói: “ Bây giờ chúng ta đã là người một nhà, chị em có gì không nên không phải đóng cửa bảo nhau. Môi hở răng lạnh. Đừng để người ngoài chê cười em nhé.” “ Vâng, chị dạy đúng ạ.” Thảo nói với ánh mắt dịu dàng tuân phục. Sau vài tuần trà, Nhu dục đôi vợ chồng đi nghỉ, cô thấy lòng nhẹ nhàng chìm trong giấc ngủ êm đềm.

Buổi tối hôm sau, lúc đôi vợ chồng vào buồng, nhìn theo, đột nhiên Nhu thấy có cái gì nghèn nghẹn ở cổ. Đóng cửa, tắt đèn đứng trong đêm tối,  bỗng một cảm giác cô đơn ùa đến sâm chiếm cõi lòng…Nhu từ từ nhắm mắt lại, từ  hai khoé mắt lăn ra hai giọt lệ. Một buổi tối nặng nề làm sao!...

Buổi tối sau hôm nữa, hai chị em đang ngồi uống nước bên bàn, nghe tiếng chồng gọi, Thảo: “ Dạ!” một tiếng rất ngoan, rồi vội đi vào buồng. Cô quên không chào chị, và đổ chỗ nước thừa đi úp chén xuống khay. Liếc nhìn theo bước chân Thảo, Nhu nguýt một cái rõ dài, nghĩ thầm: “ Gớm, làm gì mà vội vàng thế. Làm như người ta tranh mất phần không bằng ấy. Đây cần đếch gì.” Không biết cái bực tức ở đâu kéo lại, người Nhu nóng bừng, mồ hôi râm rấp, cô thở nặng nề…Trái tim Nhu đập hấp tấp như một kẻ thất vọng, và kiệt sức. Những ý nghĩ trong đầu hỗn loạn, mất sáng suốt, cầm chiếc chén Nhu ném choang xuống nhà lúc nào không biết. Nước mắt trào ra: “ Chúng nó khinh mình.” Trong đau đớn, phẫn uất Nhu không nghĩ được gì thêm ngoài những từ: “ Chúng nó khinh mình… chúng nó khinh mình…”

Nghe tiếng chén rơi, Thảo vội vàng chạy ra, miệng nói tay làm: “Chị để em nhặt, chị để em nhặt không khéo đứt tay thì khổ.” Nhặt các mảnh vỡ to, Thảo lấy chổi quét nhà vun gọn những mảnh nhỏ, rồi vất đi. Xong việc, Thảo đến cầm tay Nhu thì thầm:

-          Chị ơi, em bàn với anh Hoà rồi, chị vào buồng ngủ với chúng em cho vui

-          Cô điên à.

-Chị em mình đã là người một nhà rồi, thì có việc gì mà không làm được hở chị.

- Việc nào thì được chứ việc này thì không.

- Mới đầu chị cảm thấy vậy, chứ rồi mọi chuyện sẽ bình thường thôi chị ạ.

Thảo miệng nói, tay kéo Nhu đi với mình. Mới đầu Nhu còn vùng vằng, sau Nhu chịu giọng, với ý nghĩ : “Vào thì vào, xem chúng mày giở trò gì với tao.” Đã nằm, thấy Nhu bước vào Hoà chợt giật mình, giận Nhu anh định ngồi dậy đi ra ngoài. Nhưng rồi tình thương ngươì vợ nếp na, hiền thục Hoà không nỡ nặng lời.  Nằm dịch vào trong, anh nói nhỏ: “ Nằm xuống đây em.” Thảo đẩy Nhu nằm giữa vào hai người: “ Chị nằm đây, hôm nay hai chị em mình nói chuyện cho vui.” Thảo khéo gợi chuyện, chuyện nhà cửa, chuyện anh em trong họ, ba người cùng tham gia câu chuyện. Một lúc lâu sau, chuyện ngàn dần cả ba cùng thở đều đều, nhưng có lẽ không ai ngủ được.

Chiều tối hôm sau, vừa ăn xong bữa cơm Hoà khoác túi thuốc đi chữa bệnh. Đêm đã khuya, bước chân anh vẫn lang thang vô định, nửa thương, nửa giận hai người đàn bà đè trĩu lòng anh. Nằm lắng mãi không thấy bước chân chồng về, Nhu sốt ruột, thương chồng sức yếu, đêm khuya sương xuống nhiều không khéo cảm lạnh thì khốn. Thêm một  giờ, hai giờ nữa vẫn không thấy chồng về, Nhu chợt hiểu ra. Cô tự trách mình tối qua đã nông nổi quá, đúng là lúc giận mất khôn, không suy nghĩ trước sau, để chồng phải ra đi đêm hôm khuya khắt thế này, nhỡ ra có mệnh hệ gì thì mình mang tội với chồng, với bố mẹ chồng... Đêm ấy hầu như Nhu không ngủ, cô nằm suy đi tính lại, nghĩ ngợi lan man. Sáng ra, Nhu dậy sớm thu xếp quần áo, rồi nói với Thảo:  Anh Hoà về, cô nói với anh ấy là tôi sang thăm bà ngoại nhé. Chị ơi, ở nhà với chúng em chị ạ. Bà ốm, tôi chỉ đi vài hôm thôi. Nói vậy, nhưng Nhu không về. Khoảng ba tháng sau, một hôm gánh phân lên đồi trồng đậu cho mẹ, Nhu gặp một người hàng xóm, chị ta cho biết Thảo đã có thai, đang ốm nghén. Nhu bừng tỉnh, niềm vui sắp có con, nỗi lo sức khoẻ của Thảo, lo công việc của gia đình thúc dục Nhu về.

Mọi việc nặng nhọc trong nhà, Nhu dành lấy làm. Thảo mang thai đến tháng cuối, Nhu không cho Thảo ra đồng làm nữa. Mùa xuân năm sau, Thảo sinh một bé trai khôi ngô bụ bẫm. Niềm vui  tràn ngập mấy gian nhà. Người chồng ra nằm giường ngoài, hai bà mẹ nằm quay mặt vào thằng bé ở gữa  giường. Trừ việc cho con bú, các việc khác như: thay tã lót cho con, giặt quần áo, cơm nước vv… Nhu không cho Thảo làm, cô động viên chồng chăm sóc cho mẹ con Thảo.  Thằng bé hình như cũng cảm nhận được tình yêu thương của Nhu, ngày bập bẹ nói, có người hỏi nó: “Ai đẻ ra cháu” nó bảo: “ Bu già và bu trẻ.”

Hết ngày ở cữ, Thảo và chồng ra đồng làm, Nhu ở nhà trông con và làm bữa. Từ đây  hầu như Nhu rời việc ruộng đồng, cô xoay ra với bao nhiêu công việc ở nhà. Trời thương họ, cho Thảo nắn đẻ, hơn mười năm trời Thảo sinh được bảy đứa con( sáu trai một gái). Đứa con nào Nhu cũng chăm bẵm như người mẹ. Nhiều lúc con khóc quá, Nhu liều vạch vú cho con bú, nó bú mãi cũng thấy sữa chảy ra. Biết chị ở nhà vất vả, sáng ra Thảo dậy sớm nấu cơm, trưa về tranh thủ làm bữa giúp chị. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, loáng một cái mấy gian nhà đã đầy ắp tiếng nói cười của trẻ thơ, tối đến chúng chí choé tranh nhau nằm gần bu già.

Các con lớn lên, việc ăn học của chúng tốn kém, Nhu bàn với chồng bán vài chỉ vàng ngày xưa hai vợ  chồng nhon được, đong thêm lương thực, các con ăn  cho no. Nhu lại muốn ra đồng làm để tăng thêm thu nhập, nhưng Thảo và chồng không đồng ý.Thảo nói: “ Chị ở nhà vất vả hơn em, không có chị bọn trẻ sẽ làm loạn lên mất”. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ, ngày tết bọn trẻ lại tranh nhau để được cùng bu già và bu trẻ sang cúng lễ bên nhà bà ngoại( nhà mẹ đẻ Nhu). Những ngày bà cụ ốm đau cuối đời, Thảo rước bà về chăm sóc. Đám tang cụ làm ở nhà người cháu con ông anh cụ, các con của Thảo đứa nào cũng đội khăn tang khóc bà.

Thời gian thủng thẳng trôi, lần lượt từng đứa con một trưởng thành, đứa ở nhà lao động, đứa ra công tác lập nghiệp ở nơi xa. Khi dựng vợ gả chồng cho các con, Nhu dành quà riêng cho từng đứa. Hải, người con trai cả đi bộ đội chống Mỹ, hoà bình anh phục viên, lấy vợ và ở nhà lao động cùng bố mẹ. Vợ chồng Hải sinh con, bà Nhu lại bế cháu, bà chăm chút cả ba đứa con của Hải. Mấy năm sau vợ chồng Hải nhon được ít tiền, anh mua một ngôi nhà của người hàng xóm. Hôm liên hoan cho vợ chồng Hải ra ở riêng, Hải xin với bố mẹ:

- Thưa bố mẹ, Chúng con còn trẻ người non dạ chưa biết lo liệu chu đáo, con muốn mời mẹ già sang ở, nhờ mẹ chỉ bảo cho chúng con. Và, để chúng con được phụng dưỡng tuổi già của mẹ, con mong mẹ chấp nhận ạ.

- Các con đã nói vậy. Bà Nhu nói: Thì mẹ cũng đồng ý thôi, nhưng mẹ già rồi chẳng giúp được gì cho các con cả.

- Mẹ đã lo cho chúng con nhiều rồi, bây giờ là lúc chúng con phải chăm lo cho mẹ. Nếu chúng con sơ xuất điều gì, làm phật ý mẹ thì mẹ cứ mắng cho chúng con một trận, rồi về nhà ở với bố.

Câu nói của Hải làm mọi người phì cười, bà Nhu nói vui: “ Cả trách ngày còn bé, nó bảo bu già với bu trẻ đẻ ra nó.” Đã ở tuổi bảy mươi, nhưng bà Nhu còn vẫn khoẻ; mái đầu bạc nhưng lưng chưa còng; mặt  nhiều nếp nhăn, nhưng nét u buồn của đôi mắt được thay bằng vẻ vui tươi, chứa đầy tình cảm khiến gương mặt bà rạng ngời hạnh phúc tuổi già. Nói là các con phụng dưỡng mẹ, nhưng bà đâu có chịu ngồi chơi không. Hàng ngày bà vẫn dọn dẹp nhà cửa, nấu nồi cơm, đum ấm nước, đông kỳ chí vụ bà phơi rơm, phơi lúa đỡ đần cho các con.

Thêm vài mùa hoa nở nữa, tết vừa qua vợ chồng Hải làm lễ thượng thọ tám mươi tuổi cho mẹ già. Con cháu về đông đủ, người biếu mẹ quần áo, người biếu mẹ tiền. Ra tết vài tháng, bà Nhu đưa hết số tiền con cháu mừng tuổi cho vợ Hải, bà bảo: “ Con đánh cho mẹ đôi hoa tai, để mẹ đeo dối già.” Hai tháng sau, ý chừng mùa xuân đã qua, cây bàng ngoài ngõ đã xum xuê lá, đâu đó tiếng ve kêu rân ran suốt cả ngày; nắng rải vàng trên đường làng, ngõ xóm. Một hôm bà Nhu bảo với các con: “ Nhà mày nhiều ve sầu kêu mẹ khó ngủ, mai mẹ về bên nhà một tối. Rồi còn phải về bó chổi quét lúa, quét rơm  có lẽ cũng sắp được gặt rồi còn gì nữa.”

Bên nhà ông Hoà, tối hôm ấy ăn cơm xong, ba người ngồi uống nước trên bộ tràng kỷ ở giữa nhà. Bà Nhu lấy từ túi áo ra một cái túi vải , bà mở túi vải lấy ra một cái hộp nhựa mầu đỏ đựng đôi hoa tai. Bà nói với bà Thảo:

- Suốt cả một cuộc đời vất vả, đến bây giờ chị mới có một chút quà làm kỷ niệm cho em. Nhất định em phải nhận, có như vậy thì mới đúng là em yêu quý chị.

- Chị đã nói vậy. Bà Thảo rơm rớm nước mắt nói: Thì em nhận, em giữ hộ chị.

Ba người họ lại cùng ngủ một giường như thuở nào. Sau vài câu chuyện người nào cũng thở đều đều, nhưng thực ra chưa ai ngủ được. Độ quá nửa đêm, bà Nhu cảm thấy khó thở( căn bệnh hen phế quản từ lâu của bà) ông Hoà ngồi dậy nâng vợ lên, bà Thảo lấy thuốc cho chị uống. Cơn khó thở giảm, bà Nhu ngủ được một lúc. Gần sáng cơn khó thở lại lên, bà Thảo bàn với chồng đưa chị đi bệnh viện. Họ điện cho Hải mang xe sang, ông Hoà ngồi ôm vợ, bà Thảo chuẩn bị đồ cho chị. Bà Nhu thở khò khè nặng nhọc, mặt bà tim tái dần. Bỗng một cơn đờm kéo lên và không xuống được nữa. Bà Nhu mở to mắt nhìn hai người mà bà yêu quý lần cuối, rồi từ từ hạ  mi mắt xuống, bà tắt thở trên tay chồng. Ông Hoà dàn giụa nước mắt kêu: “ối trời ơi!” đưa tay vuốt mắt cho vợ; bà Thảo hốt hoảng kêu:

-Ối chị ơi! sao chị lại bỏ em, chị ơi!…

Hải bước vào nhà nhìn thấy mẹ, anh phủ phục xuống giường cất lên những tiếng xót thương:

- Ối mẹ ơi! sao mẹ lại nói dối con, mẹ bảo nhà  con có ve sầu kêu mẹ không ngủ được, mẹ về bên này ngủ một tối, rồi còn về bó chổi cho chúng con. Mà sao bây giờ mẹ lại bỏ chúng con mẹ đi!..

Sáng hôm sau, tất cả con, cháu xa gần về đông đủ. Tôi về đến nhà, nhà đã chật người. Các em tôi đứa kỹ sư, đứa giáo viên, một đứa đã có bằng tiến sĩ, đứa nào mắt cũng đỏ hoe, mồm mếu máo như  trẻ  con khóc gọi mẹ. Mặt tôi tràn nước mắt, bước lại giường cô nằm tôi lật tấm giấy phủ mặt ra, trước mắt tôi một gương mặt bình thản, đôi mắt khép như người nằm ngủ; miệng hơi nhếch lên ẩn chứa nụ cười, giống như một lời nhắn nhủ: Các con ơi, mẹ đã sống trọn cuộc đời, nhờ trời phù hộ, mẹ hân hoan đến với cái ngày khổ tận.

Lễ tang diễn ra trang trọng. Chiều hôm sau, một buổi chiều đầu hạ mát mẻ, gió trời như chiếc quạt, phe phẩy cho đoàn người đưa tiễn cô tôi dài dằng dặc. Tôi thong thả bước sau vài người, nghe họ nói chuyện với nhau:

- Cái chết của bà cụ, xứng đáng với cuộc đời của cụ. Một người nói.

- Chị nói đúng. Người kia nói: Bà cụ nhân hậu, ăn ở đức độ, và có tấm lòng bao dung như vậy, nên trời thương bỏ qua khúc đoạn bệnh, khúc đoạn khổ sở nhất của một đời người trước khi về thế giới bên kia. Cụ như được phật thánh cho hoá thân vào lòng đất vậy.

Nghe người ta nói đến tấm lòng bao dung của cô tôi, khiến cho lòng tôi nao nao, nghĩ ngợi mung lung… Tôi liên tưởng đến cảnh biển sớm mai, tôi được nhìn thấy hôm qua. Dung dị làm sao những làn vân thuỷ ba đều đặn, nối nhau nhịp nhàng đầy mơ màng thăm thẳm. Biển khơi hào phóng, bao dung thu nạp và ru mang tất cả những gì về với biển, để làm nên một sự bao la, kỳ diệu của muôn đời!...

Hôm các em và cô chú tôi ( Đã từ lâu chúng tôi vẫn coi người vợ hai của ông Hoà, như người cô trong gia đình tôi) làm bốn chín ngày cho cô tôi. Bố tôi viếng cô đôi câu đối: “ Xuất  giá  tòng  phu,  hạt  lựu   trơ   gan  cùng  tuế  nguyệt

Ra  về   đất  mẹ,  cớ   sao  nhiều  con  lắm  cháu   thương?”

Chứng kiến cảnh gia đình cô, nhưng bố tôi không bao giờ nhận xét  điều gì. Bây giờ tôi mới biết, từ lâu bố tôi  đã rất quý tấm lòng của hai cô, ông luôn trân trọng một gia đình nề nếp, có truyền thống văn hoá đẹp. Câu đối như một câu hỏi, để người đọc tìm hiểu, bố tôi muốn mọi người cùng biết, và ca ngợi lòng tốt hiếm có của cả hai người cô của tôi. Chính câu đối của bố tôi, đã gợi ý cho tôi viết nên những dòng chữ này để mọi người cùng đọc.

N.M.N.

 

 

 

 

 

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Cái bình yên thẳm sâu quá khứ hiện về làm điểm tựa vươn lên đã khắc...
Hình ảnh
"Bà ta cũng đã chịu khó luồn lọt. Nội các đàn anh trong làng,  nhà nào có...
Hình ảnh
Tôi như trôi giữa mùa hạ chơi vơi Giữa màu hoa mặt trời rực rỡ Cuộc...
Hình ảnh
Pha và Ny là con của cô lao công trước kia làm ở trường này, Pha được học...
Hình ảnh
Hội thảo “Tác phẩm hay - đích đến và giải pháp” do Liên chi hội Nhà văn...
Hình ảnh
Mới đây Hội Nhà văn Hải Phòng vừa tổ chức chương trình Bàn tròn văn chương...
Hình ảnh
Để diều mẹ bay lên được thì phải “chạy mồi”. Lúc này, người cầm dây...
Hình ảnh
Từ chiều tối Thứ Sáu - ngày 14 và sáng Thứ Bảy - ngày 15/9/2018 (tức mùng 5 và...
Hình ảnh
Nhưng tình hình cũng đã rõ. Đâu đâu cũng nghe đồn rằng phe công nhân đang...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2544
mod_vvisit_counterHôm qua3745
mod_vvisit_counterTất cả10834373
Hiện có 212 khách Trực tuyến