Vết thương thuở trước luân hồi còn đau – Nguyễn Long Khánh

 

Trong những đỉnh cao nghệ thuật của nhân loại, thi ca là một đền đài. Nàng thơ đã làm bạn với con người, giúp họ giãi bày cảm xúc gửi trọn tâm hồn cho cuộc sống, ca ngợi, chia sẻ, động viên con người sống tốt đẹp, bao dung, thương yêu nhau hơn… Chính vì thế xã hội nào cũng có rất nhiều người làm thơ để giải tỏa cảm xúc tâm hồn, nói lên tình yêu của họ với cuộc đời: họ làm thơ tặng những người thân, tặng người mình yêu, tặng Tổ quốc vĩ đại và nhân dân mình. Cho nên có những nhà thơ đích thực, nhà thơ của phong trào, nhà thơ của các câu lạc bộ xã, phường, huyện… Những nhà thơ Trung ương có thẻ hội viên Hội nhà văn, có các giải thưởng cao quý và có nhiều nhà thơ địa phương nhưng ấn tượng cũng chẳng thua kém các nhà thơ Trung ương… Và đặc biệt có những nhà thơ đã hy sinh cả cuộc đời vì thơ, họ sống chết với thơ, thơ là tất cả cuộc đời lịch sử, tình yêu của họ. Họ không nghĩ đến bản thân mình, thơ là cuộc đời của họ. Họ là những thi sĩ đích thực của thi ca.
Ở Hải Phòng, tôi xin mạo muội được tôn vinh các nhà thơ: Thanh Tùng, Nguyễn Thị Hoài Thanh và mới đây nhà thơ vừa mất: Nguyễn Đình Di.
Nguyễn Thị Hoài Thanh là một thi sĩ ngay từ hồi chị còn con gái đã làm thơ. 16 tuổi có bài thơ Lán Mông Giăng được đăng ở báo Văn nghệ. Nói như nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết về chị: Thời con gái chị vốn xinh đẹp “nhất dáng nhì da” nhưng lại hồng nhan bạc mệnh, đời chị truân chuyên, gian nan, có đôi lúc còn nguy hiểm vì sắc đẹp của mình: 2 lần chị kết hôn, 2 lần chị ly dị. Năm chị tốt nghiệp trường Công nhân kỹ thuật Hải Phòng lúc 20 tuổi, vừa kết hôn xong chị đã li dị, sinh cháu gái đầu lòng, chị xin làm ở Cẩm Phả để xa hẳn người chồng. Chị và con gái mới sinh ở ngay nhà đề bô rộng thênh thang đã từng có người chết ở đó, suốt đêm nghe gió gầm rít trên mái nhà, nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn, nhìn nước đổ như thác cuồn cuộn bên ngoài trạm đề bô. Ở đó chị đã viết bài thơ Lán Mông Giăng (báo Văn nghệ đăng năm 1971):
Em tôi nào ngủ được
Bởi cô đơn
Bởi hoang vắng
Bởi nhà đề bô tối om từng có người chết ở liền bên.
Bởi những tia chớp rạch trời thoắt hiện
Những khóm lau chìm trong bóng tối…

Bởi bé đau viêm họng sốt cao không ngủ được thì cứ nằm mơ ước. Từ Cẩm Phả mẹ con chị lại về Hải Phòng sang Kiến An, Vĩnh Bảo khi lòng chị dịu lại sau cơn sốc đầu đời. Còn việc gì chị không trải qua để kiếm sống: Công nhân xi măng, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất khẩu, công nhân máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Tráng Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, công nhân súc sạc ắc quy xí nghiệp Đinh Vũ Hạ Long v.v… Và còn biết bao nghề phụ: đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm… Cuộc sống của chị không còn thời gian mà thở và còn chấn thương tâm hồn bởi 2 lần li dị phải nuôi con một mình… Vậy mà chị vẫn làm thơ. Thơ là người bạn đồng hành chung thủy suốt đời của chị, thơ là chỗ vịn mỗi khi chị sắp gục ngã, thơ là cánh buồm giúp chị lúc con thuyền vượt qua giông bão cuộc đời. Chị là thi sĩ cần lao đích thực của đời thường. Nguyễn Thị Hoài Thanh làm thơ do nhu cầu nội tâm, chị làm thơ để trang trải nỗi lòng để động viên cho những con người đau khổ dưới đáy cuộc đời, lạc quan, vươn lên mà sống. Cho nên đời chị gian lao, sóng gió, vất vả là thế nhưng thơ chị vẫn hồn nhiên, trong trẻo, ấm áp lạ thường.

Cây trụi lá mầu chiều sang sắc trắng
Hàng dậu xô làng xóm xích gần nhau.

Đọc thơ chị qua bao năm tháng ta thấy chị yêu Hải Phòng biết mấy, dù Hải Phòng với chị là những thành kiến, nhọc nhằn, đau đớn khi chị phải đấu tranh kiếm sống để tồn tại, một Hải Phòng nhiều kỷ niệm buồn hơn kỷ niệm vui. Chị có 2 bài thơ về Hải Phòng, ai đọc cũng nhớ mãi:
Bài Cầu Xi măng như một bức thư gửi người anh (Nguyễn Xuân Vinh) đang sống ở Mỹ:
Anh đã xa cầu Xi măng
Ba mươi năm từ đó
Xa con sông nước lợ
Anh có mơ một lần
Sóng ở giấc mơ anh
Cầu Xi măng ơi, cầu Xi măng
Thuở bé em nhìn sang bên sông
Trời đất một vùng chim bay, chim lượn
Anh ơi! Cầu có tự bao giờ?
Mẹ bảo tuổi cầu cùng với tuổi anh.
(Hải Phòng, năm 1982)

Chỉ có một tình yêu sâu sắc trở thành máu thịt mới viết được những bài thơ như thế.
Bài thứ 2 là Chợ Cầu Rào, chị khóc tặng người em Nguyễn Xuân Đăng mai táng ở nghĩa trang Ninh Hải (chịđến nghĩa trang phải đi qua chợ Cầu Rào).
… Em nằm bên kia sông
Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái
Qua chợ dùng dằng
Nửa muốn đi nửa toan ghé lại
Định mua quà cho em
nhưng nào biết mua chi.
Em nằm ở bên kia
Bên đây chợ lao xao kẻ mua người bán.
Chỉ một thứ chẳng ai cần bán mua
là nước mắt.
Em mặc cả với đời mang nóđi theo.
… Đến thăm em chẳng cần vội vã
Ở nơi đó bao giờ cũng có thể có em
Đến thăm em rất cần vội vã
Ở nơi đó bao giờ cũng không thể có em.
Hải Phòng, 1990

Vì tình yêu sâu sắc với Hải Phòng, chị đã có những bài thơ hay, gan ruột, xúc động lạ kỳ như bài Tôi ở Hải Phòng chị viết năm 1979.
… Tôi ở Hải Phòng
Trong làng những bông hoa dại ven đê
Đang lạc trên tràn lan như nỗi nhớ
Trong nắng đồi Kì Sơn mùa hạ
Trong hương hoa Hạ Lũng vườn trưa
Trong tiếng xe bò lọc cọc ngoại ô
Trong con nước triều lên sông Lấp
… Sông Cầu ơi ! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được.
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi với bóng là ba.
… Tôi ở Hải Phòng
Dù mai sau tôi sẽ chẳng còn
Thì hoa phượng khắp nẻo đường
Vẫn cháy lên mong ngóng
Thành phố hôm nay cất mình gió lộng
Tôi xin làm gió
đời đời ôm thành phố hát ca.

Bài thơ viết từ năm 1979, nhưng âm điệu, hình ảnh mạnh mẽ hiện đại xúc động như vừa được viết hôm nay.
Và bài thơ hay nhất chị viết bằng cả tình yêu với thành phố của mình: bài Hoa phượng:
Hoa rong chơi từ thu năm ngoái
Hôm nay nghe phố rủ nhau về
Gió đã mở nắng đã vàng đã chín
Hồn đã say chân đã bước đinh ninh
Trong ngất ngây ai cuối phốđợi mình
Ai hát nữa điều gì thao thức lạ.
Hoa khờ dại cháy mình trong nắng hạ
Để thu về tan tác cả lòng ai.
Hải Phòng, 1985

Chị còn những bài thơ viết về Hải Phòng thật ấn tượng: Thành phố này, Bên sông, Cầu xi măng, Chợ Cầu Rào, Khúc mai sau… Đó chính là tình yêu suốt đời chị dành cho thành phố trở thành quê hương chị.
Thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh có nhiều bài buồn, cô đơn, có lẽ chị tự thương mình, hình như tình yêu trai gái trong đời chị chỉ thoáng qua, nó đã là quá khứ rất xa trong tâm hồn chị, chị viết về nỗi cô đơn cùng cực của mình:
Sau hồi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông.

Nhiều lúc chị gần như chỉ có một mình nên lại làm thơ nói chuyện với mèo, với con bò đi trên phố.
Mèo ơi! Mèo có biết
Có người sắp đến thăm ta.
Còn với chú bò:
Có lẽ chú thấy tôi là gốc cây
Với tâm hồn gỗ
Hay nghĩ tôi là cột điện
Trái tim trộn sỏi, xi măng.

Phần lớn đời thơ của Hoài Thanh chị viết về tình yêu gia đình: Tình yêu của người mẹ với con, của người bà với các cháu; một tình yêu sâu thẳm, lớn lao, đầy hy sinh của chị. Hơn 30 năm thân gái dặm trường chị dẫn con, dẫn cháu phiêu bạt nhiều nơi để mưu sinh ở cả những nơi xa lạ như cao nguyên Đắc Lắc, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương; chị kéo cả gia đình con, cháu vào Nam ra Bắc đấu tranh kiếm sống để tồn tại. Đã có lần chị bị tai nạn giao thông: xe cán nát một tay, chị sống bằng một bàn tay khỏe mạnh, sống dai dẳng, quyết liệt và vẫn lạc quan, hài hước thật không ai ngờ: chị vẫn làm thơ.
Nguyễn Thị Hoài Thanh có những bài thơ viết cho con, cho cháu thật sâu xa, cảm động về tình mẫu tử, tình bà cháu, tình cuộc đời với một tấm lòng bao dung nhân hậu tuyệt vời như tấm lòng bao la của đức Mẹ yêu thương con người. Những bài thơ của chị làm người đọc rơi lệ, đau thắt trái tim khi đọc như bài Cháu Liên Chi:
Ba mẹ chia tay từ đó
Cháu về đây ở với bà
Hai gian chông chênh đầy gió
Sớm chiều bà cháu vào ra
Đêm gối tay bà, cháu hỏi
Mẹ sao đi mãi đi đâu
Thương cháu lựa lời bà nói
Thương cháu bà vuốt tay đau
… Mẹ cháu miền Nam xa lắc
Suất tầu dành cả đời bà
Nửa đêm nhọc nhằn tráng bánh
Sáng còn đi chợ đường xa
Suất tầu cho hai bà cháu
Bấy giờ lại được ra ga
Tay xách làn tay dắt cháu
Bóng bà bóng cháu nương nhau
Miền Nam có thương thì đợi
Tuổi bà mới ngoại năm mươi.

Năm ấy chị mới ngoài năm mươi, năm nay chị đã sắp 80 rồi, chị đã bị tai nạn ô tô tàn phế một tay. Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn khỏi bị truy tố “vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình”. Chị không dám nhận tiền nong quà cáp của bạn bè, những người thân “vì nợ ân tình anh ạ, làm sao tôi trả được” (Bùi Ngọc Tấn).
Bài thơ Trò chuyện với con là bài thơ hay nhất, xúc động nhất về tình mẫu tử của chị Hoài Thanh. Bài thơ để lại ấn tượng lâu dài về tình yêu của người mẹ với những đứa con của mình:
Rồi mai đây mẹ đi vắng ít ngày
Các con ơi đêm mùa thu giá lạnh
Ngủ nhớ đắp tấm vỏ chăn cho ấm
Cửa sổ mở ra cho thoáng gió nghe con
Biết bao lo âu lòng mẹ ngày đêm
Từ khi các con là giọt sương trong lòng mẹ.
Nếu mẹ ra đi khi chưa kịp làm bà
Thì đêm đêm mẹ vẫn ra những đứa cháu ra đời trong giấc mộng.
Tình thương lớn không thể đo bằng năm tháng
Vòng tay mẹ rộng dài như đất nước chở che.
Đừng khóc con ơi! Mẹ ra đi như đêm tối.
Bước lặng thầm như thể bóng đêm thôi
Mẹ lại về trong tiếng chim rơi
Trong làn khói cơm thơm cửa reo bếp nhỏ
Lời mẹ chuyện trò lao xao trong lời gió
Bóng mẹ vào ra trong bóng lá xinh tươi
Có những món nợ nần mẹ phải trả bằng đời
Một bài thơ về cầu Xi măng
Chiếc cầu tuổi thơ đưa mẹ qua con sông nhỏ
Một cây mướp con trồng
ngọn trùm lên cửa sổ
Lá tay xinh quấn quýt song tre
Một tiếng gà trưa một giọt sao khuya.
Một xóm chài cửa sông chập chờn cát trắng
Một khung cửa nhà ai
soi mặt đường trầm lặng.
Một mầu hoa chang chói tận tâm hồn.
Không có gia tài để lại cho con
Chỉ có nước mắt ngày vui chưa trọn vẹn
Và thơ buồn đi suốt những đêm đâu
Rồi mai đây các con sớm tối có đi đâu
Lúc trở về mẹ vẫn từ xa trông ngóng
Nhưng hôm nay tóc con bay trong nắng
Nức nở tay ôm mẹ nhờ nắng vuốt ve con.

Bài thơ tuyệt vời xúc động này chị viết vào năm 1973.
Nguyễn Thị Hoài Thanh còn một mảng thơ chị viết về bè bạn rất riêng, ấn tượng, khắc họa được từng người thật độc đáo như chị viết về nhà thơ Lê Đại Thanh (thi sĩ).
Ngỡ nhưông vẫn còn đây
Bóng người nhòe nhập bóng cây bên đường.
Cát Dài, Hạ Lý, An Dương
Ông đi như gió ngày thường lẳng lơ.
Ngỡ nhưông vẫn còn đây
Trong từng cánh mỏng ????? hè về
Hình như ông hiểu tiếng ve.
Tiếng nhện giăng võng tiếng xe đầu ngày.
Chị viết tặng nhà văn nữ sĩ Đoàn Lê “Bài thơ Gió núi”:
Giận ai mà bỏ thị thành
Ở đây gió núi chênh vênh cả ngày
Trăng chiều vờ ngủ trong mây
Bếp ngèo ngọn khói cũng gày ngả nghiêng
Ơi con chim hót hồn nhiên
Cuộc đời buồn quá – em chuyền trên cây.
Đồ Sơn, 1999

Chị viết bài thơ Gái nghèo tặng nhà văn Bùi Ngọc Tấn.
Tôi ghé nhà anh
Như người bộ hành
Một chiều mệt mỏi
Xin nghỉ nhờ bóng cây
Bóng cây không từ chối
Như cơn gió thổi
Tự do cho cửa trước
cửa sau
Tôi như người khát
được hớp nước
Thấy mình đủ sức
vượt qua sa mạc dài
Chị viết tặng nhà thơ Dư Thị Hoàn:
Lặng im mà lặng im nghe
Thu về lọc nắng giục ve ngủ mùa
Tiếng gà dĩ vãng gọi trưa
Tiếng xanh sợi trẻ thuở chưa đổi màu.
1.1999

Chị nhớ nhà văn Duy Khán thật độc đáo:
Rượu suông suông một tiếng khà
Say trong tỉnh tỉnh lại là trong say
“Tuổi thơ im lặng” còn đây
Mà người vĩnh viễn những ngày lặng im.
Hải Phòng, 1993

Và chị khắc họa họa sĩ, nhà thơ Tường Vân:
Có phải chú là Ngoáo
Đeo mặt nạ ngạo đời
Hay là “Ông Ba mươi”
Đêm giật mình con trẻ
Không chú là họa sĩ
Nước mắt trộn bột màu
Chân lấm có sao đâu
Miễn tâm hồn thanh sạch.
Không chú là nhà thơ
Giấy với tờ nhem nhuốc
Câu chữ viết rồi xóa
Bản thảo viết lung tung
“Có bao lần biển trào sóng dội
Xô con thuyền ảo tưởng lênh đênh”.

Trên con đường mưu sinh để tồn tại, Nguyễn Thị Hoài Thanh đã đi nhiều nơi gặp đất, gặp người, những nơi giúp chị và gia đình sinh sống luôn gặp được sự sẻ chia, đùm bọc thương yêu của con người đối với nhau. Chị viết nhiều bài thơ cảm động về những mảnh đất chị đã qua như Di Linh, Tùng Nghĩa, Cao nguyên Đà Lạt, Xuân Định, Hoa Động (Thủy Nguyên), Đồng Nai, Bình Dương… Những bài thơ dào dạt tình người, tình đời chứa chan nước mắt.
Đời thơ của Nguyễn Thị Hoài Thanh thật giản dị, mộc mạc, chân thành… Suốt đời chị chỉ mong một hạnh phúc bình thường giản dị cho con cho cháu, cho tất cả bè bạn và mọi người trên thế gian này như nỗi day dứt chị viết trong bài thơ Kiếp sau gửi lại:
Kiếp sau xin được làm chim
Tình thương trong trẻo bay tàn nơi xa
Giương cung, đừng nhớ người ơi
Vết thương thuở trước, luân hồi còn đau.
Và ở tuổi gần 80, bây giờ chị ước được như câu thơ chị viết:
Giờ thì ước được như mây
Núi cao biển rộng tháng ngày thung thăng
Giờ thì ước được như trăng
Bao nhiêu tuổi vẫn ngang bằng ngọn tre.

Chúc thi sĩ không bao giờ nhớ tuổi mãi như vầng trăng đẹp nhất của đời.

Tháng 4.2018
N.L.K

Bài viết khác