Vĩnh biệt vườn địa đàng – Tiểu thuyết của Bão Vũ – kì 6

Kỳ 6 

Ông Vĩnh tự biết mình là kẻ vô dụng trong việc lo cho Vĩ. Ông len lén đi lại trong nhà như sợ làm vướng bận mọi người. Ông không còn cao hứng đọc to những câu thơ của mình nữa.

Những bữa cơm có thức ăn ngon hiếm dần. Bây giờ là tép rang, cá vụn kho, đậu rán. Rồi lạc rang mặn, muối vừng… Cả tuần lễ mới được bữa thịt lợn. Một buổi trưa nóng nực, Vĩ bỗng dưng nổi giận. Nó đổ bát cơm đang ăn vào thùng nuớc gạo rồi bỏ lên gác.

Bà Vĩnh bật khóc:

– Mẹ lạy con. Tôi lạy cả nhà. Tôi kiệt sức rồi. Mọi người cố chịu. Việc của con sắp xong rồi Vĩ ạ. Con thương mẹ. Chỉ tháng sau là con đi sang Niu… Niu Ê… Ê-đen-lân… – Bà nghẹn ngào lắp bắp nói trong nước mắt những câu tiếng Anh tên cái nơi Vĩ sẽ đến. Chẳng phải là Anh, Mỹ, Pháp,  ý, Canađa, hay ít ra là Úc, những quốc gia quen thuộc mà bọn trẻ con cũng biết và nói tên dễ dàng. Đằng này lại Niu…Niu…Bà khóc to hơn như thấy nhục nhã. Ông Vĩnh nói khẽ, như lấy lòng một ai đó:

– Mình được thế này cũng còn hơn nhiều người.

– Ông im đi. – Bà vợ quát lên. – Ông được cái tích sự gì? Chỉ được mỗi việc…

Ông Vĩnh đứng lên định bỏ ra ngoài để không phải nghe một câu nhục mạ khiến ông có thể không kiềm chế nổi. Nhưng bà vợ đã lên gác.

Mọi người bỏ bữa cơm. Ông Vĩnh lại ngồi xuống ăn. Ông không đói nhưng vẫn ăn để nếm cái vị đắng của sự bần cùng. Ông bảo cái Hoàn:

– Con cứ cố ăn thật no. Đừng để ý gì cả. Con còn phải làm việc nhiều, ban đêm lại nâng giấc bà. Không ăn là ốm đấy.

– Chú cũng phải ăn để còn thức khuya, viết…

– Ừ, …nhưng chú thức viết những điều vô vị, vô nghĩa, vô ích – Ông định nói thêm, có kẻ ở nơi làm việc nói về ông: “Vĩnh văn vẻ vớ vẩn vô vị”.

 *

Rồi việc du học của Vĩ cũng có kết quả. Vĩ sẽ theo học ở trường đại học Bách khoa mang tên James Hawkings thuộc khu đảo Bắc New Edenland. Họ đã gửi thông báo và các văn bản cần thiết sang.

Cả nhà tíu tít sắm sửa lo cho cuộc sống tự lập của Vĩ ở nơi đất khách. Bà Vĩnh đã bán quầy hàng ngoài chợ, chỗ ngồi để kiếm tiền nuôi cả nhà nhiều năm nay. Bà vay thêm, vay nợ lãi, cho đủ số tiền giao cho người ta. Ông Vĩnh cố gắng làm một việc gì có ích cho Vĩ. Để Vĩ có thì giờ đi sắm sửa đồ dùng, ông cặm cụi dịch bức thư tiếng Anh trong tập hồ sơ nhà trường Vĩ sắp học, gửi sang. Thư của người đại diện gia đình người Tân Êđen mà Vĩ sẽ đến trọ học. Theo cách của các trường nhận du học sinh ở Tân Êđen, trường Bách khoa James Hawkins (Giêm Hôkinhd) giới thiệu cho Vĩ một gia đình giúp  ăn ở và đỡ đầu cho Vĩ, tức là nhà chứa trọ, gọi là home-stay.  Khoản tiền ăn ở của Vĩ đặt trước phải chuyển cho gia đình đó.

Chủ gia đình ấy là một người đàn bà, ông Vĩnh đoán thế vì cái tên Emilia nghe dịu dàng dễ thương.

Bà Emilia viết rằng, bà sẽ lái xe ra tận sân bay đón Vĩ và đưa nó về một gia đình thân thiết như chính gia đình của Vĩ ở Việt Nam. ở đấy, Vĩ sẽ được chăm sóc chu đáo như ở bên cạnh mẹ đẻ. Phòng riêng của Vĩ đã được sửa soạn. Hàng ngày Vĩ sẽ giao tiếp với những người trong gia đình chủ nhà bằng thứ tiếng Anh chính xác nhất. Vĩ sẽ được ăn những món ăn hợp khẩu vị, ba bữa mỗi ngày. Chi phí mỗi tuần chỉ mất 180 NED [New Eden Dolla], tiền Tân Êđen, tương đương 2 triệu đồng Việt Nam, bằng hơn hai tháng luơng của ông Vĩnh.

Bà Vĩnh sây sẩm mặt mày khi được người ta dịch cho nghe bức thư đầy tình cảm này. Một trăm năm mươi triệu cho thủ tục và vé máy bay đến Tân Êđen. 500 triệu đồng tiền ăn, ở cho 5 năm học. Học phí mỗi tuần là 350 NED và các khoản tiền khác nữa. Chỉ còn trông vào khoản tiền làm thêm ngoài giờ học của Vĩ. Bà đưa thư cho chồng, và bảo:

– Ông lựa xin mẹ bán cái nhà này đi. Học xong, thằng Vĩ ở lại bên ấy đi làm, lương cao, sẽ có tiền làm nhà khác.

Ông Vĩnh im lặng nghĩ, chuyện ấy khó, để tính sau.

Ông phải viết bức thư cảm ơn kèm một món quà tặng để Vĩ ra mắt gia đình chủ nhà. Ông mua bức tượng Di Lặc bằng gỗ, một ông béo phệ, bụng to như đàn bà chửa, tay giơ bầu rượu lên trời, mồm toác ra nụ cười khoái lạc mãn nguyện. Có thể tán rằng, bụng ông Phật ấy chứa đầy nỗi hoan hỷ như một bào thai sống động. Và nỗi hoan hỷ ấy sẽ lớn theo thời gian như một nhục thể. Đặt bức tượng trên đầu giường ngủ, nỗi phiền muộn sẽ tiêu tan theo nụ cười của ông béo ngộ nghĩnh ấy.

Người ta sẽ quý mến Vĩ hơn khi đích thân bố nó gửi thư cám ơn và tin cậy ủy thác việc chăm sóc Vĩ cho họ.

Rồi mọi thủ tục cũng xong, chỉ còn chờ ngày Vĩ lên máy bay. Bà Vĩnh thở một hơi thật dài như trút được nỗi nhọc nhằn phiền toái phải đeo đẳng mấy tháng nay. Bây giờ còn món nợ khổng lồ, còn tiền gửi tiếp sang cho Vĩ khi đã tiêu hết khoản tiền ăn ở mới ứng trước sáu tháng đầu. Chưa biết sẽ phải trang trải bằng cách nào khi không còn quầy hàng ngoài chợ nữa. Bà Vĩnh nằm vật ra giường, như người chạy đến đích thì gục ngã vì kiệt sức.

Đêm qua, khi mở cái sắc vẫn đựng tiền, bà Vĩnh ngơ ngác. Cái sắc bà vẫn coi là cái túi màu nhiệm trong có nhiều ngăn, mỗi ngăn chứa những phong bì dày mỏng khác nhau dùng cho những cuộc giao dịch, để qua các “cửa” Cái Vân bảo đó là túi “vừng” của mẹ, khi cần kíp, gọi “Vừng ơi mở cửa ra!” Số phong bì ấy trước kia nhiều, dùng hết từng đợt lại được tiếp thêm. Bây giờ chỉ còn mấy cái phong bì cuối cùng, đó là khoản tiền còn lại, là tiền ăn những ngày tới. Bao nhiêu là tiền đã tốn cho đứa con trai đi đến một nơi xa lạ mù mịt, mà rồi chẳng biết sẽ ra sao.

Buổi sáng cuối cùng ở nhà, Vĩ nằm lắng nghe tiếng chim hót trong mảnh vườn nhỏ. Như có một mối giao cảm giữa Vĩ và ông nội, cho dù ông đã chết. Vĩ thường như trải qua những trạng thái tâm lý của chính ông cụ Viễn. Vĩ từng nghĩ, có thể ông nội đã sống tiếp trong hình hài của nó.

Có tiếng chim hót. Tiếng hót của chào mào, sáo sậu, chim sẻ và cả loại chim sâu nhược tiểu với tiếng kêu lích tích nhọn hoắt. Tiếng chim gợi nhớ về những bãi cỏ xanh, những khu rừng vắng u tối của một miền đất nguyên sơ như bị bỏ quên giữa biển khơi, nơi có cô gái thổ dân Burao. Như ông nội trước kia, Vĩ lắng nghe. Trong hợp âm tuyệt diệu đó, Vĩ cũng thấy tiếng hót của sơn ca; loài chim cánh xám nhỏ xíu, sống cô độc ở những khóm  lau nơi hoang vu, tiếng kêu như nức lên.

Vĩ tỉnh hẳn. Không nhìn qua cửa sổ nó cũng hình dung ra khu vườn quen thuộc. Cây si trồng trong chậu nhưng vẫn phát triển tự do, thân cao; tán lá dày xanh um, không có sự uốn tỉa công phu gì. Cây đinh lăng do chính Vĩ trồng đã rất lớn xanh tốt với những chòm lá hình dáng li ti tinh xảo. Lối đi rải sỏi cuội. Mấy mỏm đá giữa những mảng cỏ. Bể cảnh giữa vườn có khối đá trắng lớn hình trứng chim và một tảng đá dẹt như cái bánh dày nhô khỏi mặt nước. Không cần nhìn qua cửa sổ, Vĩ cũng hình dung ra lũ chim đang rỉa cánh bên bể nước cảnh và bay chuyền trong những tán lá hót sảng khoái. Ông nội cũng như một con chim hoang, nhởn nhơ rong chơi trên cõi đời này, cho đến khi bay sang một cõi khác chắc ông vẫn vô tư nhởn nhơ như thế.

Vĩ đến bên giường bà nội. Mấy hôm nay bà mệt nặng hơn.  Mọi người bận rộn, như bỏ quên bà. Cái Hoàn vẫn cặm cụi làm phận sự của mình. Nó rất buồn vì sắp phải nghỉ việc, phải xa bà. Vĩ bảo mẹ cố giữ cái Hoàn để nó chăm bà, nói những chuyện tỷ mẩn với bà, cho bà đỡ buồn khổ. Mẹ không nói gì. Chính mẹ cũng muốn giữ cái Hoàn, nhưng không thể.

Đã đến giờ đi sân bay. Vĩ cúi xuống khẽ gọi:

– Bà ơi, con đi đây. Bà cố khoẻ, chờ con về, bà nhé.

Bà mếu máo khóc. Cô thôn nữ xinh đẹp loại nhất tổng, từng có hai anh chàng bảnh trai cùng phải lòng một lúc, bây giờ già nua xấu xí, thê thảm.

– Nhà ta tàn mạt rồi con ạ. Chắc ngôi nhà này cũng phải bán đi thôi. Con cố học cho nên người rồi về gây dựng lại cơ nghiệp họ Trần ở Thượng Trang. Bà còn chút này cho con… – Bà cụ lần lần sâu trong túi áo lót lấy ra chiếc nhẫn vàng đưa cho Vĩ. Đó là chút vốn liếng cuối cùng của cô con gái nhà cụ Bá Vượng khá giả nhất Hạ Trang ngày xưa. Bà đã để dành chiếc nhẫn để sau này thêm vào cho con cháu làm ma cho bà.

Vĩ ôm lấy bàn tay nhăn nhúm vàng héo của bà, khóc nức lên:

– Không bà cứ giữ lấy. Bà ơi, bà cố đợi con về…

– Con phải đeo chiếc nhẫn này vào. Như có bà luôn ở bên, phù hộ cho con.

Vĩ đành để yên cho bà nội đeo chiếc nhẫn hộ mệnh vào ngón tay nó. Cái Hoàn đứng gần đấy cũng ôm mặt khóc. Vĩ bảo nó:

– Hoàn ở nhà chịu khó giúp bà, anh đã nói với mẹ để em ở lại đây. Khi nào anh về, anh có quà cho em.

Con bé khóc thành tiếng. Nó rất muốn tặng Vĩ một thứ gì đó, nhưng cái kiếp đi ở như nó thì có gì. Giá như thời xưa, nó sẽ tặng Vĩ chiếc khăn tay tự khâu lấy.

Hoàn khóc vì cuộc chia lìa, vì thương bà cụ Viễn, vì tự thương cái thân phận mỏng manh của nó không được quyền lựa chọn điều gì. /.

B.V

 

 

 

Bài viết khác