Vĩnh biệt vườn Địa đàng – Tiểu thuyết của Bão Vũ

Kỳ 2

ông cụ Viễn, ông nội của Vĩ, từng là lính thuộc địa trong quân đội Liên hiệp Pháp, lính pháo thủ. Ông đã ở chiến trường châu Âu, châu Phi, và sau đến châu Đại Dương.

Ông cụ thường kể, hồi chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã có mặt trong cuộc đổ bộ của quân đồng minh lên vùng Nooc-măng-đi. Ông cụ nói chuyện đó với vẻ hãnh diện của người từng có mặt trong sự kiện trọng đại của loài người.

Ông cụ Viễn còn cho mọi người trong nhà biết một điều thú vị là, ông đã làm cho đám cháu lau nhau như anh em Vĩ có một ông bác lai Ma-rốc và một bà cô tóc vàng lai Đức mang họ Trần. Không ai bác bỏ hay công nhận chuyện ấy. Một ông già từng là lính viễn chinh của Tây thì thiếu gì chuyện, cả thật lẫn bịa.

Vĩ nói với ông nội:

– Cháu thấy người ta kể, có một ông vua ở châu Phi sang nước ta tìm bà vợ Việt và cô con gái lai. Hai người đang mò cua bắt ốc dưới ruộng bỗng dưng trở thành hoàng hậu, công chúa. Sao ông không đến các sứ quán thuộc châu Phi hỏi về bác tây đen với cô đầm nhà mình? Biết đâu bác Tôm, Vĩ lấy đại tên anh da đen trong truyện “Túp lều của bác Tôm ”- …Biết đâu bác Tôm ấy đang là tổng thống một nước thì sao?

Ông Viễn thích trí, cười:

– Chưa biết chừng. Bác mày mới lọt lòng trông rất khôi ngô tuấn tú, mũi to miệng rộng, tiếng khóc sang sảng, rõ quý tướng. Là giống nhà này thì cũng dễ làm vương, tướng lắm. À mày đã học có bằng lái ô-tô rồi phải không? Tơ-ré bôồng! Tốt!  Mày phải đi học tiếng Pháp cho giỏi để nếu như thế thật, thì xin bác ấy cho làm thông ngôn của dinh tổng thống.

Ê! Bông-dua Me-sừ Vĩ, Tờ-ra-đuých-tơ đờ Pờ-rê-dí-đằng! Xin chào ngài Vĩ, quan thông ngôn của Tổng thống. Cũng oai như cóc đấy chứ, nhỉ?

Bà nội buồn mỗi khi ông nói chuyện này. Còn ông, biết thế nên rất thú vị, vì ở tuổi hơn tám mươi, ông vẫn làm trái tim của một người đàn bà đau khổ. Bà đau khổ cho ngày xưa của bà. Bà phải truy lĩnh nỗi đau khổ cũ của mình, nỗi bất hạnh không thể trốn tránh, dành riêng cho bà.

Mẹ Vĩ an ủi bà, bảo tính ông hay bông đùa. Bà nội cười buồn:

– Ông ấy nói đúng đấy. Cái bà đầm đen châu Phi ấy tên là Lilian. Ông ấy gọi là Lý Liên như tiếng Hán. Thằng con là Giăng Trân-Van, tức là Trần-văn-Giăng. Lâu ngày ông ấy cũng chẳng nhớ ra tên mẹ con người ta. Còn tao thì chết cũng không quên. Có ảnh chụp hẳn hoi. Hai mẹ con đen như củ súng, cười tinh răng là răng, trắng ởn. Đúng là “trần văn răng”.

Bà nhớ, sau bức ảnh có những chữ tây, mà ông Viễn đã nói cho bà hiểu: “Li-li-an và Giăng Trần-Văn, vợ và con trai của Viễn Trần-Văn”. Còn cái bà tóc vàng tóc hung người Đức thì không biết thế nào, nhưng chắc cũng phải có gì đấy. Đến khi lấy ông Viễn bà mới biết dần mọi chuyện.

Sau này, khi ông cụ Viễn chết, không còn ai nhắc tới chuyện ấy nữa. Riêng bà, những đêm khó ngủ vì tuổi già, bà vẫn nhớ đến.

Nhưng cái cô Thảo ngày xưa cũng đã khiến một người vô tư phóng khoáng như anh Binh Viễn phải ấm ức một thời. Viễn biết cô ta vẫn còn yêu một người sau khi đã là vợ anh. Đó là một anh lính Vệ quốc đoàn.

Ông cụ vẫn dặn người nhà, khi ông chết, cứ chôn ở nghĩa trang thành phố, đừng đưa về quê như các ông bà già khác, dù quê nhà không xa đây. Ông không muốn nằm gần cái người mà ngày xưa bà  từng dan díu. Mỗi lần ông nói thế, bà làm mặt giận rất lâu.

Một lần về quê ăn tết ra, bà nội đã kể cho cái Vân, cô cháu gái chấy rận, câu chuyện rất kín của bà. Vân thì thào kể lại cho Vĩ nghe và hai anh em đã cười thích thú như được đọc một cuốn truyện tình từ thời mới có chữ quốc ngữ, in trên thứ giấy thô gọi là giấy dó. Thật thú vị khi được nhìn vào cái quá khứ vàng ố phủ đầy bụi thời gian của các ông bà già.

 

*

 

– Cứ coi những chuyện ông kể về châu Âu, châu Phi là bịa. Cả chuyện những bà tây, đen tây trắng đã đẻ ra các cô các bác lai của mày nữa, dù họ có thật nhưng mày cứ bỏ ngoài tai cũng được. Nhưng chuyện ông đã trải qua ở Tân Địa thì mày hãy tin.

Ông cụ Viễn nói với thằng cháu đích tôn như thế. Ông cụ còn rất nhớ  những đất nước với những phong cảnh và các tập tục kỳ thú. Ông còn nhớ nhiều thú vui lính tráng, những thiếu nữ các màu da mà ông từng chung chạ. Có thể kể những chuyện ấy cho những ông bạn cũ và những lão già mất nết ham vui, thích những chuyện lạ. Ông chỉ kể cho Vĩ nghe về một miền đất của châu Đại Dương, ở khu đảo thuộc Anh phía Nam Thái Bình Duơng, nơi binh đội pháo thủ thuộc địa đồn trú. Một chuyện như không có thật trong cuộc đời lang bạt của ông. Nhớ lại, dù không hiểu về cái đẹp của nỗi buồn thi ca như bố Vĩ, ông cụ vẫn thấy dễ chịu với nỗi nhớ mơ hồ về khu đảo ấy.

Cơn mưa dai dẳng mấy ngày không dứt. Những tán lá ướt đẫm trong khu vườn nhỏ tĩnh lặng. Căn gác xép chỉ có hai ông cháu. Vĩ không bật đèn. Hai ông cháu thường nói chuyện trong không gian âm u như thế. Ánh sáng mờ và những đồ đạc cũ kỹ im lìm như trong một khung cảnh kỳ bí gợi cho Vĩ hình dung ra cái thế giới huyền hoặc từ những câu chuyện của ông nội. Vĩ nằm trên sàn gỗ, chống cằm nhìn ra cửa sổ có những cành lá của cây gạo gai lớn nhất vườn vượt lên khỏi mái nhà. Ông cụ nằm trên chiếc xích-đu cũ. Chiếc ghế không biết có từ bao giờ trên căn gác này, mặt ghế đan sợi mây thủng rách nham nhở, khung ghế bằng thân song uốn những đường cong cầu kỳ đã biến dạng xộc xệch, nhưng vẫn cố đung đưa điệu đà dưới thân hình ông già.

Vĩ hỏi ông nội:

– Hòn đảo Tân Địa ấy ở đâu, ông là pháo thủ thì phải biết xem bản đồ chứ?

Ông cụ ngượng nghịu, chửi thằng cháu:

– Con mẹ mày, bóc mẽ ông. Pháo thủ, nhưng tao chỉ là chân vác càng pháo với tiếp đạn của kíp đác-ti-lơ [Équipe d’artilleur : Khẩu đội pháo] làm sao biết được địa đồ nó vẽ nhăng cuội gì. – Ông thích nói câu “nhăng cuội”- Đảo ấy mới được tìm ra không lâu, gọi là đảo Đất Mới, là Nu-ven Te-rơ – Nouvelle Terre [Nouvelle Calédonie: Đảo quốc Tân Calêđôni, Tân Thế giới. – Nouvelles Hébrides: Tân Đảo, sau là nước Cộng hòa Vanuatu, thuộc châu Đại Dương], ta quen gọi là Tân Địa để phân biệt với Tân Thế giới, hay Tân Đảo (** ).

Vĩ được giảng giải về vùng đất ấy với kiến thức của anh lính thuộc địa ngày trước còn sót lại trong đầu một ông già tám mươi tuổi. Vĩ tra cứu các sách địa lý và bản đồ châu Đại Dương, nhưng không tìm ra hòn đảo Tân Địa. Ông nội bảo:

– Bây giờ, địa đồ nước nào cũng vẽ nhăng cuội để lợi cho nước nó. Có khi Tân Địa nó đã đề khác đi rồi thì mày tìm làm sao được.

Ông đã nói với mọi người như đùa cợt những chuyện lính tráng thời trai trẻ, chuyện về những cô vợ chốc lát ở những làng quê nơi đồn trú đã sinh cho ông những đứa con lai đen lai trắng. Nhưng khi nói về đảo Tân Địa với thằng cháu ông rất nghiêm trang, và buồn. Vĩ đã thấy những giọt nước mắt đục trong khoé mắt già nua mờ bạc của ông nội khi nói về hòn đảo ấy.

Nghĩa là Tân Địa có thật và ông nội của Vĩ đã từng đến đó.

Đồng bằng rộng lớn phủ cỏ xanh mướt quanh năm. Những ngọn đồi uốn mình như những đợt sóng lan đến bờ biển. Còn biển thì xanh như ngọc bích. Rừng dừa bạt ngàn. Những rặng thông cổ thụ, những cây dương xỉ cổ xưa. Và rừng cây khuynh diệp rậm rạp. Một thành phố nhỏ, thủ phủ của đảo nằm bên bờ vịnh. Trong đầu anh lính pháo thủ Annamite hai mươi hai tuổi nóng rực nỗi khao khát về đàn bà, những thiếu nữ các màu da.

 

Trại lính đồn trú của binh đội thuộc địa ở trong rừng, bên một hồ nước lớn tròn vành vạnh, dấu tích một miệng núi lửa. Cái hồ chứa đầy nước ngọt trong vắt và rất nhiều cá, như món của quý trời cho dân đảo. Bên kia hồ có một làng chài của thổ dân. Đám lính pháo thủ nhìn thấy những túp lều gỗ lợp lá cọ nằm dưới những tán cây rậm rạp. Lão đội sếp người gày như thanh củi, mặt quắt, miệng móm, trợn mắt cảnh cáo đám lính ngu dốt của mình rằng, nếu không muốn bị găm những mũi tên tẩm độc vào bụng rồi bị nướng trên lửa làm thức ăn cho lũ mọi thì đừng bén mảng đến khu làng bên kia hồ. Qua ống nhòm, các gã lính thấy rất rõ những cô gái thổ dân nước da nâu hồng chỉ quấn sơ sài chiếc sà-rông phần hạ thể đang làm cá và giặt giũ bên bờ nước. Những bộ ngực trần hình trái dừa làm các chú lính phát cuồng lên.

– Đội Móm chỉ dọa. Họ ăn cá chứ đâu có ăn thịt người.

Đến ngày nghỉ, Viễn cùng một gã lính liều lĩnh nhất bọn được cử đi thám thính. Họ vào rừng hạ mấy cây thông làm bè bơi sang bờ bên kia. Hai chú lính đem theo thuốc lá, đường cát, gương soi, kim chỉ. Để phòng xa, hai người giấu trong mớ lá cây trên bè một khẩu mút-cơ-tông dài ngoẵng và một thanh kiếm Nhật, thanh kiếm chiến lợi phẩm vẫn dùng cho việc chặt cây, chẻ củi. Trước khi đến khu đồn trú này, một sĩ quan Pháp đã nói, vùng Thái Bình Dương ở cuối thế kỷ trước có vài bộ lạc thuộc giống người Papua và Kanak còn tục ăn thịt người. Đám lính ở lại khích lệ hai chú lính cảm tử:

– Yên trí, có chuyện gì, chúng tao sẽ đồng thanh làm chứng là hai thằng chúng mày đã bỏ mình khi đi tuần tra. Chúng mày sẽ được nhà nước bảo hộ tưởng thưởng bội tinh. Bia mộ ghi: “Mort pour la France “- Chết cho nước Pháp . Vợ con được hưởng tiền tử tuất tiêu cả đời không hết.

Hai gã dặn các đồng ngũ trước khi chống bè đi:

– Nếu bọn tao không về, chúng mày vác súng sang làm cỏ cả cái làng ăn thịt người ấy, rồi tìm xem chúng vứt xương xẩu của bọn tao ở đâu, đem về chôn, báo về quê rõ ngày này để cúng giỗ.

B.V

 

 

 

Bài viết khác