Vui xuân cùng câu đối tết Cập nhật ngày 20/2/15 (Mồng hai Tết Ất Mùi)

Vui xuân cùng câu đối tết

Cập nhật ngày 20/2/15 (Mồng hai Tết Ất Mùi)

Cùng bạn đọc: Trong ba ngày qua số câu đối mới cho năm Ất Mùi xuất hiện cũng không ít nhưng Ban BT muốn để đến mồng 4 tết sẽ cập nhật, hôm nay tiếp tục giới thiệu một số câu đối hay lưu truyền trong sử sách  để bạn đọc đỡ phải nhức đầu nghĩ vế đối trong vài ba ngày cao trào của thịt mỡ, dưa hành … Chúc các bạn tiêu hóa nhanh cả phần vật chất lẫn tinh thần của ngày đầu năm Ất Dậu…

Cập nhật ngày 20/2/15 (Mồng hai Tết Ất Mùi)

Cùng bạn đọc: Trong ba ngày qua số câu đối mới cho năm Ất Mùi xuất hiện cũng không ít nhưng Ban BT muốn để đến mồng 4 tết sẽ cập nhật, hôm nay tiếp tục giới thiệu một số câu đối hay lưu truyền trong sử sách  để bạn đọc đỡ phải nhức đầu nghĩ vế đối trong vài ba ngày cao trào của thịt mỡ, dưa hành … Chúc các bạn tiêu hóa nhanh cả phần vật chất lẫn tinh thần của ngày đầu năm Ất Dậu

Lê Văn Hưu

Lê Văn Hưu người làng Phủ-lý, huyện Đông-Sơn, lộ Thanh-hoa, đỗ bảng nhãn năm Đinh mùi (1247), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình dưới triều Trần Thái Tông. Lúc đó ông mới 18 tuổi. Sau làm đến chức Hàn lâm học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu. Năm 1272 ông soạn xong bộ Đại-việt sử ký từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Đó là bộ sử ký qui mô đầu tiên của nước ta, đã được Trần Thánh Tông ban chiếu khen. Nhưng đáng tiếc hiện nay bộ sách đã thất lạc, chỉ còn một ít lời bình được Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt Sử Lý Toàn Thư. Tương truyền, khi còn là học trò, một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:

vế ra: Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt

Bễ lò rèn là hai ống trụ tròn, rỗng ruột làm bằng gỗ (sau này bằng nhôm hoặc thép), đường kính chừng 15 – 20 phân, cao khoảng 70 phân. Bên trong đặt 2 thanh gổ, quân vải. Cấu trúc như chiếc bơm tay xe đạp. Cần gío thỗi cho lửa cháy to, người thợ 2 tay 2 thanh gổ rút lên, hạ xuống… tạo ra luồng gió thổi vào lò nung. Khi có gió thổi, phát ra tiếng phì phò – như người bị hen thở, tất nhiên to hơn nhiều.

Lê Văn Hưu đối: Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên

Câu đối này có thuyết nói của Đoàn Hy. Đoàn Hy vừa làm thợ rèn, vừa chăm chỉ học, đổ thủ khoa thi Hương trường Nam Định. Tuy nhiên có 1 số chữ nghĩa hơi khác cho nên đưa cả câu để phân biệt cho rõ. Quan chủ khảo biết nghề nghiệp vị tân khoa, ra câu đối: Than bỏ vào lò, sắt bỏ vào lò, bể thổi phì phò, đúc ra miếng bạc

Đoàn Hy đối lại: Mực nằm trong túi, bút nằm trong túi, người viết lúi húi, tên chiếm bảng vàng

Nguyễn Hiền

Nguyễn Hiền vốn quê làng Hà Dương (tỉnh Nam Định), mồ côi cha từ nhỏ, phải cùng mẹ sống trong một túp lều thuộc khuôn viên chùa làng. Nương nhờ cửa Phật, nhà sư dạy cho cậu bé chữ thánh hiền, mỗi buổi phải học xong mười tờ giấy. Khi đọc sách, chỉ cần liếc qua, Nguyễn Hiền đã thuộc làu. Ban đêm, không có tiền mua dầu thắp, chú tiểu Nguyễn Hiền bắt đom đóm, bỏ vào vỏ trứng làm đèn, nấu sử sôi kinh. Năm 11 tuổi, Nguyễn Hiền đã đọc hết pho sách của nhà chùa. Nguyễn Hiền thi đình, đỗ trạng nguyên (tiến sĩ thứ nhất) lúc mới 13 tuổi. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, vua Trần Thái Tông thấy trạng quá nhỏ tuổi, bèn hỏi: “Trạng nguyên học với ai?” Trạng Hiền đáp: “Thưa, tự học, chỗ nào không biết thì hỏi sư ông”. Thấy trạng chưa biết cách xưng hô, nhà vua lệnh cho trạng về quê quán, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều và được phong quan. Cậu “trạng non” – dân làng quen gọi một cách thân mật – về quê, vẫn ở chùa và làm ruộng. Được ít lâu, sứ thần Mông Cổ sang An Nam đem 1 bài thơ ngụ ngôn sang thách giải nghĩa, nội dung như sau: “Lưỡng nhật bình đầu nhật, tứ sơn điên đảo sơn, lưỡng vương tranh nhất quốc, tứ khẩu tung hoành gian”. Vua Trần hỏi các quân thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao, phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai viên khâm sai không quản ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng, thấy một lũ trẻ đang đùa nghịch ở gốc đa đầu làng, viên quan võ thử ra một câu đối để dò xem Trạng có mặt trong đám ấy chăng, vế ra là:

Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con nấy? (câu này nói về cách chuyển hóa chữ: “tự” [字] (chữ), ‘tách’ [宀] (giằng đầu), còn “tử” [子] (con)

Một đứa trẻ đối ứng khẩu ngay: Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này? (vế dưới cũng là phép tương tự: “vu” [于] (chưng), ‘bỏ’ [一] (ngang), thành chữ “đinh” [丁] (đứa)

Đối xong đám trẻ giải tán ai về nhà nấy, hai viên sứ giả biết đứa trẻ ấy là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà thì thấy Trạng đang lúi cúi ở dưới bếp.

Viên quan văn bèn đọc một câu rằng: Văn quân từ viễn bảo trù, hà tu nự áo (Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp)

Trạng Hiền ứng khẩu đối ngay: Ngã bản hữu quan cư đinh nại, khả tam điêu canh (Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nấu canh lạt mặn tại tay cũng như chức làm tướng)

Hai vị khâm sai biết đúng là trạng bèn mời về cung, trạng nói: “Nhà vua chê ta không biết lễ nhưng triều đình cũng không biết lễ. Muốn mời ta về phải có voi ngựa, bằng sắc, mũ áo rước ta đi”. Sứ phản hồi khi xin vua đầy đủ các nghi thức trên, bấy giờ trạng mới chịu hồi cung. Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tầu ra hỏi. Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng: “Câu thứ nhất nghĩa là chữ nhật, ngược suôi bằng đầu nhau; Câu thứ nhì là bốn chữ san, ngược suôi cũng là chữ san cả; Câu thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước, câu thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc đều là khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền”. Giải xong, đưa cho sứ Tầu xem, sứ Tầu phải chịu vì thế vua cử Nguyễn Hiền làm Kim tử vĩnh lộc đại phu; sau làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông mất.

  • Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ đôi câu đối ca ngợi công tích của Trạng như sau:

Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc (Mười hai tuổi khai khoa hai nước)

Vạn niên thiên tuế lập tam tài (Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài)

Đông A nhất giáp sinh tri Trạng

Nam Việt thiên thu quốc tế thần

Bạch Liêu

Bạch Liêu còn gọi là Bạch Đồng Liêu sinh ở làng Thanh Đà, tổng Quỳ Trạch huyện Đông Thành (nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Cha làm nghề dạy học, bốc thuốc, là ng­ười “tích phúc truyền gia”, lấy nhân nghĩa làm gốc. Thủa nhỏ Bạch Liêu nổi tiếng thần đồng: 6 tuổi biết đọc, 7 tuổi biết làm thơ, 8 tuổi làm đư­ợc văn bài, 15 tuổi tiếng tăm vang lừng khắp quận huyện. T­ương truyền “Ông có trí nhớ dai chẳng ai bằng, có cặp mắt lóng lánh, nhãn quan thần lực đọc sách 10 dòng trong nháy mắt”. Trạng nguyên Bạch Liêu mất ngày 24 tháng giêng năm ất Mão (1315) thọ 79 tuổi. Trạng nguyên Bạch Liêu đư­ợc vua Trần phong sắc Đ­ương cảnh thành hoàng đại vư­ơng, dân lập đền thờ tôn vinh vị Tổ khai khoa của xứ Nghệ. Ông được nhiều địa phương suy tôn và lập đền thờ. Hiện nay con cháu trực hệ của dòng họ Bạch đã tu sửa nhà thờ và phần mộ của ông tại xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Có mấy câu vè đề cập đến việc ông vinh quy bái tổ như sau: “Trạng nguyên đệ nhất tam khôi, nhất danh nhất giáp đầu ngôi bảng vàng. Mũ rồng áo tía vua ban, lọng xanh đi tr­ước lọng vàng theo sau…” Bạch Liêu đậu Trạng nguyên nhưng xin không ra làm quan để ở nhà báo hiếu song thân, góp công sức xây dựng quê nhà, đ­ược vua chấp nhận. Ðủ thấy phẩm chất cao quý của ông: không màng công danh phú quý, chịu nghèo khó lo phụng dư­ỡng cha mẹ, giúp đỡ quê h­ương. Ông từng làm môn khách giúp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải trấn Nghệ An. Với tư cách là một quân sư, ông đã giúp Trần Quang Khải thảo ra kế hoạch về tuyển quân và dự trữ lương thực, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc đánh thắng quân Nguyên Mông. Ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ ngoại giao hoà hiếu giữa 2 nước. Sinh thời Bạch Liêu đã chọn huyệt đất ở dưới chân núi Hồng Lĩnh làm nơi an nghỉ ngàn thu. Nơi này địa thế hùng vĩ tươi đẹp, sát chân núi Hồng Lĩnh, trên cao là ngọn Hương Tích có chùa Hương Tích (dựng đời Trần) rất nổi tiếng. Sau khi ông mất, con cháu theo di chúc an táng mộ ông ở địa điểm ấy -Nay thuộc thôn Phú Hưng xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Khu mộ đã được xếp hạng DTLSVH. Đền thờ Bạch Liêu ở xã Mã Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An cũng đã được xếp hạng Di tích LSVH cấp quốc gia. Hằng năm, đến ngày giỗ ông, con cháu và các sĩ tử của huyện đều tới giỗ ông – một vị “Thủy tổ khai khoa” – ở đây có đôi câu đối ca ngợi đức sáng của ông:

Sinh tiền bật dĩ Đông A đế (Sống không nhận quan tước của vua Trần)

Mật hậu năng vi Nguyễn Xá thần (Chết mong làm phúc thần cho dân Nguyễn Xá)

  • Nghệ An là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, người xứ Nghệ tuy có cuộc sống khó khăn song nổi tiếng hiếu học. Thời đại nào, xứ Nghệ cũng có người đỗ đạt cao, đem tài ra giúp dân, giúp nước. Văn miếu tỉnh Nghệ An được làm vào thời Nguyễn Gia Long (1803) có đôi câu đối nổi tiếng, biểu thị nền văn hiến và sĩ khí của nhân dân xứ Nghệ như sau:

Hoan Châu văn khí thiên niên trụ (Hoan Châu văn khí ngàn năm vững)

Học đạo chính tâm vạn cổ truyền (Học đạo chính tâm muôn thuở còn)

Trần Nhân Tông

  • Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông). Ông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần thị Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ(1258), tại ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng Hoàng 15 năm. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, ông là nhân vật chủ chốt trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ III và thứ III. Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282). Ông lại cùng với cha tổ chức hội nghị Diên Hồng (1284) để cùng nhất trí trẻ già, một lòng quyết đánh. Chưa bao giờ tinh thần đánh giặc ở nước ta được phát triển mạnh như dưới thời vua Trần Nhân Tông. Cả nước sục sôi chuẩn bị, quân sĩ tỏ thái độ quyết không đội trời chung với địch. Và quả nhiên quân ta đã ra quân là chiến thắng còn địch thì thất bại thảm hại, trận Bạch Đằng (9-4-1288) đại thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông. Ngày 17-3 năm Mậu Tý (18-4-1288), sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình nhà Trần đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó quân Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp), ngài tức cảnh ngâm hai câu sau:

社稷兩回勞石馬 Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã (Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá)

山河千古奠金甌 Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

Có thể nói đây là một vế đối hoàn hảo cả về đối âm, đối ý và đối nghĩa. Trong câu đối này các âm đơn, âm đôi và cả cụm âm đều đối xứng với nhau rất rõ nét về mặt âm tiết: Xã tắc (trắc trắc) đối với Sơn hà (bằng bằng). Xét về ngữ nghĩa: Xã tắc (đất nước) – Sơn hà (núi sông) còn “lưỡng hồi” (đôi phen) đối với “thiên cổ” (muôn thuở). Về ý nghĩa của đôi câu đối này, nhà thơ Vũ Quần Phương đã phân tích như sau: “Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi. Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến.

  • Câu đối khác là tựa đề trong tác phẩm “Quân Tu Ký” đề ở trên mui thuyền rồng:

會稽舊事君須記 Cối Kê cựu sự quân tu ký (Cối Kê việc cũ, ngươi nên nhớ)

驩愛猶存十萬兵 Hoan Ái do tồn thập vạn binh (Hoan, Ái đang còn chục vạn quân)

Ở đây nhà vua muốn so sánh với điển tích rằng, xưa kia Việt Vương Câu Tiễn chỉ có 5.000 quân mai phục ở đất Cối Kê mà còn đánh bại được hàng vạn quân của Ngô Phù Sai sang xâm lược huống hồ, quân đội nhà Trần chỉ trong cuộc hội quân của 1 lộ và 2 hương đã hùng mạnh thế kia! Nếu tính đến cả hàng chục vạn quân dự bị chiến lược của nhà vua đứng chân ở đất Hoan Diễn thì lo gì mà không đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ II của quân Mông-Nguyên, dù chúng có hung bạo đến đâu. Hoan Diễn (châu Hoan và phủ Diễn nay thuộc tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh), nằm về hướng nam kinh thành Thăng Long, bắc giáp châu Ái (Thanh Hóa), nam giáp Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), đông giáp biển và tây giáp nước Lào. Địa hình Hoan Diễn phức tạp, có nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế “thiên hiểm” rất thuận lợi cho công cuộc phòng thủ đất nước. Từ Hoan Diễn có đường thủy bộ ra Bắc, nối liền với đồng bằng sông Hồng trù phú, đông người, nhiều của; có đường vào Nam, sang Lào. Trên địa bàn Hoan Diễn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An đời Mạc từng nhận xét: “Người Hoan Diễn phóng khoáng và chuộng điều nghĩa”. Nơi đây, thiên nhiên vô cùng phong phú nhưng rất khắc nghiệt đối với con người. Chính cuộc sống gian lao đó đã tôi luyện cho nhân dân một nghị lực phi thường, một bản lĩnh vững vàng trước gian lao, tin yêu cuộc sống và quê hương.

Mạc Đĩnh Chi

Mạc Đĩnh Chi, người xã Lũng động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh hải Dương. Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Bà mẹ đã chịu hy sinh tất cả để cố nuôi con, cho con đi học. Trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ. Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập. Vốn là cậu bé có tư chất thông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm chất thanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên. Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán. Không có sách học, thì mượn thầy mượn bạn. Mạc Đĩnh Chi cố học nhiều cuốn sách quý. Không có tiền mua nến để đọc sách, thì Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thỉ lấy lá rừng đốt lên mà học, thật là vô cùng gian khổ, nhưng chú bé không hề nản chí. Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh trác việt, chẳng bao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng nho học xứ Hải Đông. Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông được chấm đỗ Trạng Nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu. Biết ý, ông đã làm bài “Ngọc tỉnh liên phú”. Đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình. Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt xa người khác về mọi mặt; Song không muốn a dua với người tầm thường để mong cho đời biết đến. Ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần. Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ.

Câu đối viết ở trong nước

  • Câu đối viết tặng bạn đồng liêu:

Trong khi làm quan tại triều, Mạc Đĩnh Chi có người bạn đồng liêu, ông này lấy hai vợ nhưng hay ghen tuông nhau. Một hôm, tan triều, ông gọi ông bạn kia trao cho một đôi câu đối, nói mới nghĩ ra để tặng bạn dán ở cửa buồng. Câu đối ấy đều dùng liền trong sách Hán Cao Tổ và trong Kinh Thư, mà rất hợp với cảnh bạn ông:

Đông đầu Hán-vương thắng, Tây đầu Hạng vương thắng, quyền túc tại túc hạ (Danh Đông Hán vương được sang Tây Hạng vương được, quyền ở dưới gót)

Chinh Đông Tây- di oán, chinh Nam Bắc-địch oán, hà đọc hậu dự? (Đánh Đông mọi Tây oán, đánh Nam rợ Bắc oán: sao đến ta sau?)

  • Câu đối viết ở chốn lầu xanh:

Thốn thổ thị lương điền, canh giá bất câu xuân hạ nhật (Tấc đất làm ruộng tốt, cấy cày không kể hạ hay xuân)

Tứ hoang giai ngã thác, thân tình hề dụng bắc nam nhân (Tay rộng mở bốn bề, thân tình không kể kẻ bắc nam)

Đi sứ nhà Nguyên

Trên đường đi

  • Đối đáp với quan giữ ải Phong Lũy (tức Mục Nam quan):

Năm 1308, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, do trời mưa làm trở ngại đường đi nên đến cửa khẩu sai hẹn, quân canh gác đóng cửa buộc phải chờ sáng hôm sau mới được qua ải. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biên bạch đòi mở cửa để đi cho kịp thì viên quan phụ trách ải nói: “Nghe nói ngài là người có tài văn chương. Sao không đem sử dụng lúc này? Bây giờ tôi ra một câu đối, nếu đối thông suốt, tôi sẽ mở cửa ải; bằng không xin ngài chờ tới sáng”. Rồi quân Nguyên thả từ trên cửa thành cao xuống một câu đố thách thức nếu sứ bộ đối được thì họ sẽ mở của thành cho đi.

vế ra: 過闗遲闗官閉閼過客過闗 Quá quan trì, quan quan bế, át quá khách quá quan (Nghĩa là: “Tới cửa ải chậm trễ, cửa ải đóng, người coi ải đóng cửa không cho khách qua”).

Nhưng nghe không ổn; bởi vì sự thể rõ ràng là người giữ ải không muốn cho khách qua ải lúc tối; chứ không hề có ý mời khách đi qua?! vế đối có 3 chữ quá và 4 chữ quan, ông suy nghĩ một lát rồi đọc

vế đối như sau: 先對易對對難請先生先對 Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối (Nghĩa là: “Ra câu đối dễ, đáp lại khó, xin mời ngài đối trước”).

Vế đối của Mạc Đĩnh Chi có 4 chữ “đối” và 3 chữ “tiên,” đáp đúng với câu đối của viên quan giữ ải. Tưởng sẽ đưa sứ bộ Đại Việt vào thế bí; nào ngờ lại có vế đối quá hay. Quan coi ải vái Mạc Đĩnh Chi hai vái và quân Nguyên mở của ải để sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi đi qua biên giới vào giữa đêm. Theo giáo sư Lê Văn Đặng thì có lẽ ai đó (?) đã bịa ra giai thoại nầy khá hay, nhưng vế 2 chỉ đối được âm Hán Việt, không đối được chữ; nghĩa không chỉnh ở chữ thứ 5 của 2 vế: (ông quan) khác với (câu đối)

  • Đối đáp với cao tăng đắc đạo:

Qua ải ít lâu, đoàn sứ bộ ghé vào vãn cảnh một ngôi chùa ở mé đường, Mạc Đĩnh Chi có ngồi bàn luận văn chương với một nhà sư Trung Hoa.

Nhà sư đọc: 几以木杯不木如何以几為杯 Kỷ dĩ mộc, bôi bất mộc, như hà dĩ kỷ vi bôi (Ghế là gỗ, chén chẳng là gỗ, sao nỡ lấy ghế làm chén)

Mạc Đĩnh Chi đối: 僧曾人佛弗人何乃以僧師佛 Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, hà nãi dĩ tăng sư Phật? (Sư là người, Phật chẳng là người, sao lại để cho sư thờ Phật?)

Câu đối đều mang tính chiết tự: Chữ “kỉ” [] gồm hai chữ “dĩ” [] và “mộc” []; chữ “bôi” [] gồm hai chữ “bất” [] và “mộc” [] ; chữ “tăng” [] gồm hai chữ “tằng” [] và “nhân” [ ] ; chữ “Phật” [] gồm hai chữ “phất” [] và “nhân” [ ]. Hàm ý của vế ra đối chê ông Mạc người thấp bé (như cây gỗ kỉ) mà được trọng dụng. Vế đối lại cũng có thể có hàm ý: “việc tu hành của ông chẳng hợp lẽ chút nào”.

  • Giải oan cho Thư sinh:

Trên đường đi đến kinh đô nhà Nguyên, trong một chiều hè nóng bức, Mạc Đĩnh Chi và tùy tùng lúc ấy thấy một quán nước ven đường thì dừng lại nghỉ chân. Chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, đến chào khách. Gần quán có một giếng nước. Trên thành giếng có viết 5 chữ: 銀缾腱上鼻 Ngân bình, kiên thượng tị.

Thấy lạ, Mạc Đĩnh Chi hỏi duyên do. Bà cụ chủ quán chậm rãi kể: “Xưa có một cô gái bán hàng nước ở đây rất thông minh, học giỏi, chữ nghĩa tốt. Có một anh học trò thầm yêu cô hàng nước, muốn ngấp nghé. Ngày ngày đi học về, thường ghé vào quán uống nước; và tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh: “Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên, mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa, Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện xin nâng khăn sửa túi, bằng không, thì xin chàng chớ qua đây quấy rầy làm gì nữa”. Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân nhìn thấy cái ấm tích bằng bạc trên bàn, mới ra câu đối trên có nghĩa là “Bình bạc, mũi trên vai.” (Ý nói cái vòi trên cổ ấm nước). Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được, xấu hổ quá, đành đâm đầu xuống cái giếng gần đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế xuất câu đối ấy lên thành giếng để thách thức cả thiên hạ, nhưng xưa nay chưa ai đối được”. Nghe đến đây, Mạc Đĩnh Chi cười: “Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi để ta đối giùm giải oan cho hồn kẻ thư sinh”.

Mạc Đĩnh Chi bèn đọc: 金鎖腹中鬚 Kim tỏa, phúc trung tu (Nghĩa là “Khóa vàng, râu trong bụng.” Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa). Sau đó, Mạc Đĩnh Chi sai người viết câu ấy lên thành giếng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa. Mọi người đều chịu ông đối giỏi.

  • Ứng khẩu khi bị sa xuống hố:

Sau nhiều ngày vất vả, Mạc Đĩnh Chi cùng sứ bộ đến Yên kinh, kinh đô nhà Nguyên. Nghe tin đồn Trạng nguyên An Nam nổi tiếng thông minh, quan lại nhà Nguyên mới hội nhau bàn cách chơi ác. Họ đào một cái hố vừa to, sâu quá đầu người, trên ngụy trang như đường đi ngay trước cây cầu vào kinh thành. Hôm sau, Mạc Đĩnh Chi dẫn sứ bộ vừa đi tới đó. “Huỵch” một tiếng, cả người lẫn ngựa Mạc Đĩnh Chi lăn luôn xuống hố. Các quan Tầu phá ra cười (cốt để hạ nhục Mạc Đĩnh Chi) rồi một viên quan nói: “Nghe nói tiên sinh là người đối đáp xuất chúng, chúng tôi không tin. Nếu tiên sinh đối được câu đối này thì toàn bộ quan lại chúng tôi xin đỡ tiên sinh lên”. Ông đồng ý.

Viên quan kia đọc: 杆木横渠陸假相如私道 Can Mộc Hoành Cừ Lục Giả Tương Như Tự Đạo (Nghĩa là: “Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng”).

Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên những người nổi tiếng trong sử Trung Hoa ghép lại. Theo đó, “Can mộc” là Đoàn Can Mộc, một nhân vật đời Chiến quốc; “Hoành Cừ” là tên hiệu của Trương Tải, một triết gia đời Bắc Tống; “Lục Giả” người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ; “Tương Như” là Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc; “Tự Đạo” là Giả Tự Đạo, người đời Tống, một quyền thần chuyên chế.

Mạc Đĩnh Chi nhớ lại lúc trước khi ngã, ông nhìn thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối: 大庭安石望之染略天台 Đại Đình An Thạch Vọng Chi Nghiễm Lược Thiên Thai (Nghĩa là: “Đình to, đá vững, nhác trông như thể (núi) Thiên Thai”)

Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu chủ mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó “Đại Đình” là một biệt hiệu của Thần Nông; “An Thạch” tức Vương An Thạch Thừa tướng đời Bắc Tống; “Vọng Chí” là danh nhân đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên Đế; Thiên Thai là một Tông Phái Phật Giáo, do Bồ-tát Long Thọ sáng lập 龍樹(梵文:Nāgārjuna Riêng chữ “Nghiễm Lược” các nhà nghiên cứu chưa tra cứu ra là ai?! Chưa hiểu hết ý tưởng uyên thâm của Mạc Đĩnh Chi…Đúng theo lời hứa, văn võ bá quan triều Nguyên bất chấp áo mũ xúm lại đỡ ông Trạng lùn xấu xí nước Nam lên khỏi hố.

  • Đối đáp với viên quan người Tống:

Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ đang cưỡi lừa đi xem hàng ngoài đường phố, thì bỗng lừa Mạc Đĩnh Chi đụng độ với ngựa của một viên quan người Tống.

Viên quan này nhìn Mạc Đĩnh Chi bằng nửa con mắt và đọc một câu: Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân giả, Tây di chi nhân giả (chạm phải ngựa ta, không rõ là bọn Đông Di hay Tây Di vậy)

Viên quan này lấy chữ “Đông di” ở sách Mạnh Tử, tỏ ý khinh rẻ người nước Nam là kẻ mọi rợ.

Mạc Đĩnh Chi nhìn thẳng vào mắt tên quan, đáp: Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư (cưỡi lừa dạo chơi, mới biết người Bắc khoẻ hay người Nam khoẻ). ::Vì chữ “Nam phương” lấy ở sách Trung Dung đã nói rõ thâm ý người phương Bắc chắc gì đã mạnh hơn người phương Nam, nếu mạnh hơn sao lại chịu để giặc Nguyên đô hộ? Viên quan người Tống kia tỏ ý xấu hổ, ra roi cho ngựa đi thẳng không dám hoạnh hoẹ nữa.

Trong hoàng cung

1 – Với chư quan đương triều:

  • Đối đáp với quan Thừa Tướng:

Bữa nọ, trong lúc chờ thiết triều, quan Thừa Tướng ra vế đối: 安去女已豕為家 An nữ khứ, dĩ thỉ vi gia (Chữ “an 安” bỏ chữ “nữ 女” đi, thêm chữ “thỉ 豕” vào thành chữ “gia 家”/“nhà”). Thấy ông là người thấp bé xấu xí tỏ ý khinh thường, đại ý là họ coi ông xấu xí như lợn, mà đưa đi sứ. Ngoài ra còn có ý khác là nhà Nguyên cần phải xóa sổ nước An Nam để nhập vào bản đồ Trung Quốc)

Mạc Đĩnh Chi đáp lại: 囚出人立王成囯 Tù nhân xuất, nhập vương thành quốc (Chữ “tù 囚” bỏ chữ “nhân 人” đi, thêm chữ “vương 王” vào thành chữ “quốc 囯”). Đại ý là người ở trong tù đưa ra thì họ cũng làm được vua một nước, câu này đối ý cũng rất chuẩn vì nó nói nên rằng dân Đại Việt không chịu đè nén như vậy mà vẫn đứng vững thành một quốc gia riêng)

  • Đối đáp với quan Quan Thượng Thư:

Quan Thượng Thư thấy vậy đọc: Thập khẩu tâm tư, tư quốc tư gia, tư phụ mẫu (câu này dùng phép chiết tự, chữ thập 十, chữ khẩu 口, chữ tâm 心 gộp lại thì thành chữ tư 思 có nghĩa là nhớ: nhớ nước, nhớ nhà, nhớ cha mẹ)

Mạc Đĩnh Chi lên tiếng đối luôn: Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương (chữ thốn 寸,chữ thân 身, chữ ngôn 言 gộp lại thành chữ tạ 謝 có nghĩa là cám ơn: cám ơn trời, cám ơn đất, cám ơn vua)

Câu đối trên đây na ná với giai thoại về mối tình của Đường Bá Hổ – Điểm Thu Hương bên Trung Quốc: vế ra của Điểm Thu Hương 十口心思 思国思家思社稷 Thập khẩu tâm tư, tư quốc, tư gia, tư xã tắc (Chữ thập nằm trong chữ khẩu thành chữ điền , chữ điền trên chữ tâm thành chữ (nhớ), nhớ nước, nhớ nhà, nhớ xã tắc) và vế đối của Đường Bá Hổ 八目尚賞賞风賞月賞秋香 Bát mục thượng thưởng thưởng phong thưởng nguyệt thưởng Thu Hương (Chữ mục trên chữ bát thành chữ bối , chữ nằm dưới chữ thượng thành chữ thưởng (thưởng thức), thưởng gió, thưởng trăng, thưởng Thu Hương (Thu Hương là người tình của Đường Bá Hổ).

  • Đối đáp với quan Thái Sư:

Quan Thái Sư đứng cạnh đó tiếp tục ra: Thiên lý vi trùng, trùng thủy trùng sơn trùng nhật nguyệt (Nghĩa là: Việt cách Trung Quốc nghìn dặm, núi sông nước đều giống như Trung Quốc. Nghĩa bóng: Họ gạ nước Việt nhập vào Trung Quốc)

Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Nhất nhân thành đại, đại quân đại quốc đại càn khôn (Nghĩa là: Một người cũng là lớn, có vua lớn, nước lớn có trời đất lớn. Nghĩa bóng: Nước Việt tuy nhỏ nhưng cũng có vua quan, có trời đất riêng không phụ thuộc vào ai)

  • Đối đáp với quan Thái Uý:

Quan Thái Uý liền nối tiếp mạch văn chương: Hải trung hàm thủy thanh thiên bao nhật nguyệt tinh thần (Nghĩa là: Trong bể đựng nước bao bọc trời xanh mặt trời mặt trăng và cả tinh thần. Nghĩa bóng: Đại ý nói Trung Quốc là nước lớn rộng như trời biển bao bọc cả trời xanh mặt trời mặt trăng và cả các vì sao, so nước Việt thì nước Việt nhỏ bé)

Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Hàn thượng phân kim chỉ địa quát đông tây nam bắc (Nghĩa là: Trên mâm chia vàng chỉ xuống đất bao quát cả đông tây nam bắc. Nghĩa bóng: Trên một cái mâm chia vàng ai cũng được chia như nhau không cậy lớn mà chia ít cho người khác chỉ xuống đất bao quát thấu suốt được 4 phương đông tây nam bắc, nói cách khác không thể khinh nước nhỏ mà ăn hiếp được)

2 – Đối đáp với Hoàng Đế Nguyên Vũ Tông:

  • Đến khi thiết triều, vua Nguyên thấy sứ An Nam thấp lùn xấu xí liền ra một vế đối: Lị Mị Võng Lưỡng tứ tiểu quỷ (dịch nghĩa: Lị, Mị, Võng, Lưỡng là 4 con quỷ nhỏ) thiên tử có ý chê Mạc Đĩnh Chi hình dung xấu như quỷ, hơn nữa lại chơi chữ bởi các chữ lị [魑], mị [魅], võng [魍], lượng [魎] đều có bốn chữ quỷ [鬼] ở bên phải.

Mạc Đĩnh Chi đối lại: Cầm Sắt Tỳ Bà bát đại vương (dịch nghĩa: Cầm, Sắt, Tỳ Bà có 8 vua lớn) các chữ cầm [琴], sắt [瑟], tì bà [琵 琶] đều có tám chữ vương [王] đặt ở trên, phía trên là tên các loài quỷ phía dưới là tên các loại đàn. Vế đối này ông đã khéo chọn tên những cây đàn trong đó có 8 chữ vương. Chẳng những đã khéo tìm chữ đối lại với con số 4 mà lại có ý bảo ta đây là 8 vị đại vương chứ không phải 4 con quỷ nhỏ)

Sau này trong ca dao có những câu sau: “Cầm đàn gảy khúc nam thương, tì bà cầm sắt bát vương đối gì?” và “Khéo đưa sách cổ mà ôn, lị mị võng lượng bốn con quỷ ngồi” là lấy ý từ giai thoại đối đáp trên. Trong tiểu thuyết võ hiệp “Xạ điêu anh hùng truyện” của Kim Dung, tác giả đã dùng câu đối này đưa vào đoạn Quách Tĩnh cõng Hoàng Dung đi gặp Nam Đế chữa bệnh và thi thố với tứ đại đệ tử của ông là: Ngư, Tiều, Canh, Độc.

  • vua Nguyên tuy phục tài nhưng vẫn tiếp tục ra một vế nữa: Quých tập chi đầu, đàm Lỗ luận: tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri (Chim chích đậu đầu cành, bàn sách Luận ngữ: biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết, đó mới là biết – câu này dùng chữ trong Luận ngữ. Âm “i” nhại tiếng chim kêu líu lo, chọc âm của tiếng Việt)

Mạc Đĩnh Chi đáp lại: Oa minh trì thượng, độc Châu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chủng lạc nhạc, thục lạc? (Con ếch kêu trên bờ ao, đọc Châu thư: vui cùng ít người nhạc vui, vui cùng nhiều người nhạc vui, đằng nào vui hơn? – câu này dùng chữ trong Mạnh tử. Âm “ạc” nhại tiếng ếch kêu, chê giọng ồm ồm của người Tàu)

Không chỉ riêng câu đối mà còn qua rất nhiều những thử thách khác nữa, Thiên tử Nguyên triều và chư quan đều công nhận học vấn của Mạc Đĩnh Chi uyên bác và sắc phong ông làm Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.

(còn tiếp)

Bài viết khác

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *