Đât Việt trời Nam- tiểu thuyết lịch sử của Đan Thành - (chương 42)

ĐẤT VIỆT TRỜI NAM (Chương 42)

Đan Thành

Lên biên giới Trần Dương tiễn An Tư

Về kinh đô Khánh Dư tìm Thiên Thuỵ

Võ sĩ lôi Thoát Hoan, A Lý Hải Nha ra pháp trường chờ giờ hành quyết. Khi ấy quan thượng thư là Sài Thung đang ốm nghỉ ở tư phủ, nghe người nhà về báo việc dữ, liền gượng dậy vào triều tâu với thiên tử rằng:

- Đất phương Nam không phải là nơi dễ bình định. Khi xưa thừa tướng Cốt Đãi Ngột Lang cũng đã từng thua quân ở đấy. Riêng cái khí hậu viêm nhiệt cũng đủ làm cho quân ta hao hụt số nửa rồi. Đường sá xa xôi, lương thảo quân cụ đều không thể tiếp tế được. Người An Nam tác chiến bằng thuyền mà quân ta dùng kị binh, làm sao chọi với họ ở vùng sông nước. Vì thế đánh không được cũng không phải là lạ. Vả lại thái tử là chủ tương lai của đế quốc, không thể một lúc mà giết đi. Bình chương là người có nhiều công lao to lớn, thiết nghĩ cũng nên châm chước. Cúi xin hoàng thượng ra ân tha cho họ đới công chuộc lỗi.

Các quan trong khu mật viện1 cũng đều cho lời tấu của Sài thượng thư là rất thấu tình đạt lý, cùng nhau làm bản tấu dâng lên xin tha cho Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, lập tức cử mang quân đi chinh thảo Giao Chỉ lần nữa. Hốt Tất Liệt thấy các quan trong triều đều nói như vậy mới tha chết cho Thoát Hoan và A Lý Hải Nha, bắt phảỉ chuẩn bị mang quân xuống phương Nam. Ngày hai mươi tháng bảy năm ất Dậu (21-8-1285), các quan trong khu mật viện lại tâu lên vua Nguyên rằng:

- Người Giao Chỉ khinh thường thiên triều qúa lắm. Đã làm thương tổn quân của ta mà cũng không chịu cho sứ sang tỏ bày nguồn sự. Xin thánh hoàng ban chiếu cho thái tử cùng bình chương A Lý Hải Nha mang quân đi đánh báo thù.

Hốt Tất Liệt phán rằng:

- Trẫm cũng muốn cho xuất quân ngay nhưng quân ta vừa thua lớn, sĩ khí chưa lấy lại được thì làm thế nào?

Các quan trong khu mật viện tâu rằng:

- Bệ hạ chọn tướng giỏi, xuống chỉ cho các miền Kinh Hồ, Giang Hoài, Giang Tây đến tháng mười phải hội quân tại Đàm châu, lo gì thiếu người thiếu lương.

Quan tả thừa là Đường Ngột Đải bác rằng:

- Hội quân các xứ đến Đàm châu may ra cũng chỉ được hai mươi vạn là cùng. Mấy vạn quân vừa ở phương Nam về, mệt mỏi quá rồi, không đi đánh ngay được. Dân tình trong nước lại hết sức xôn xao. Việc thu góp quân lương cũng chưa chu tất. Sợ rằng giục tốc bất đạt2.

Hốt Tất Liệt nói:

- Lời khanh không phải không có lý. Vậy ý khanh nên thế nào?

Đường Ngột Đải tâu:

- Theo ý thần, hoàng thượng nên cho số binh lính vừa đi đánh phương Nam trở lại quê hương nghỉ ngơi thăm hỏi thân nhân để tỏ lòng tri ân của bệ hạ, xoa dịu bớt những lo âu trong dân chúng, lại lấy những của cải cướp được chia cho họ để khuyến khích tinh thần, sau này tuyển mộ quân lính tất sẽ có nhiều người hăng hái ra nhập. Một vài năm nữa thế quân, thế nước thịnh lên hãy tính việc đánh báo thù cũng không muộn gì.

Hốt Tất Liệt nghe theo kế ấy, ngày hai mốt tháng Chín (20-10-1285) xuống chỉ cho các quân vừa đi đánh Giao Chỉ trở về quê hương nghỉ ngơi, chỉ giữ một trăm lính Thát cùng với bốn trăm lính tân phụ ở lại làm quân túc vệ cho Thoát Hoan.

Mấy ngày sau thượng thư Sài Thung tâu rằng:

- Nay người Nam không cho sứ sang mà quân ta bị họ bắt có đến năm sáu vạn người. Hoàng thượng nên cử sứ giả sang điều đình để họ trả về.

Đại tướng là Minh Lý Tích Ban tâu rằng:

- Thái tử khi ở phương Nam lấy người con gái nhà Trần, người ấy đã có thai, nay vẫn còn ở phương Nam. Hoàng thượng cũng nên xin người ấy về với thái tử để dòng giống không bị thất lạc.

Hốt Tất Liệt hỏi:

- Nên chọn ai đi sứ lần này?

Hợp Tán Nhi Hải Nha bước ra tâu:

- Thần tuy bất tài cũng xin được đi.

Hốt Tất Liệt nói:

- Khanh nhận việc này, trẫm yên tâm rồi.

Nói xong liền cho thảo chiếu thư. Ngày mồng một tháng mười (29-10-1285), Hợp Tán Nhi Hải Nha cùng đoàn sứ bộ lên đường sang Đại Việt.

Trong khi Hợp Tán Nhi Hải Nha còn đang đi trên đường, triều đình nhà Trần đã nhận được tin mật báo trước từ đất Nguyên về, vua Trần Nhân tông liền xuống chỉ cho các châu quận trong cả nước tiến hành định hộ khẩu. Triều thần can rằng:

- Dân đương lao khổ, mà định số nhân khẩu không phải là việc cấp1.

Vua nói:

- Lúc này chính là lúc nên xét định, để cho chúng đừng dò sự điêu tàn của ta1.

Quần thần đều phục là phải. Bọn quan lại ở các địa phương nhân việc này bày đặt nhiều chuyện chè chén rườm rà gây tốn kém không ít, khiến dân chúng đã khổ vì nạn chiến tranh lại khổ vì sự sách nhiễu của các vị chức sắc.

Đây nói công chúa An Tư sau khi đã cùng các thị nữ mê hoặc Thoát Hoan, đưa được tin ra ngoài cho Hưng Đạo vương đánh tan bọn Minh Lý Tích Ban, trừ được Trần Kiện, mới vờ ốm không hỏi gì đến việc bên ngoài nữa, chuyện phòng the nhờ cả vào bọn Xuân Hồng, còn mình ngày đêm tơ tưởng đến lúc đuổi được giặc Nguyên, gặp lại Trung Hiến hầu Trần Dương. Khi quân Việt đánh chiếm lại thành Thăng Long, Thoát Hoan bỏ chạy chỉ kịp đem theo có mỗi mình Xuân Hồng. Trần Dương theo vua trở lại kinh thành đã mấy tháng nhưng An Tư không có cách nào gặp được chàng, buồn lắm. Vương Lan hiến kế rằng:

- Công chúa cứ tâu với nhà vua cho làm một khu vườn nhỏ ở bên bờ Tây hồ để ra đấy nghỉ ngơi rồi em sẽ có cách nhắn hầu tướng tới.

Mấy hôm sau vừa lúc vua Nhân tông đến chơi, thấy An Tư có vẻ buồn bã, ngấn lệ còn đọng trên khoé mi. Nhà vua hỏi:

- Nước nhà vừa qua cơn binh lửa, đuổi được giặc Thát ra khỏi biên thuỳ, muôn dân bách tính đều mừng vui, vì sao hoàng cô lại âu sầu làm vậy?

An Tư nói:

- Cảm ơn hoàng thượng đã hỏi. Những việc hoàng thượng giao, hoàng cô đã làm xong rồi. Hoàng cô nay chẳng khác chi một đóa hoa đã tàn, giữa chốn đông vui mà thấy mình đơn lẻ, sao khỏi chạnh lòng.

Nhân tông nói:

- Để trẫm gọi một phường hát đến diễn trò cho hoàng cô giải khuây.

An Tư nói:

- Không phải làm như thế. Nếu quả hoàng thượng có lòng nghĩ tới, chỉ cần cho hoàng cô dọn ra ở khu nhà bên bờ Tây hồ là được.

Nhân tông không nói gì, vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ. An Tư hỏi tiếp:

- Phải chăng việc đó có gì làm cho hoàng thượng khó nghĩ?

Lúc ấy Nhân tông mới nói:

- Bình thường ra hoàng cô có thể ở bất cứ chỗ nào trẫm cũng chiều, nhưng nay sứ thần nhà Nguyên vừa sang đòi hoàng cô về Bắc với Thoát Hoan, sao trẫm có thể để hoàng cô ra ở bên ngoài được.

An Tư khẽ kêu lên:

- Trời ơi! Chẳng lẽ triều đình không còn kế sách chi mà cứ phải chồng chất gánh nặng lên vai người con gái này sao?

Nhân tông an ủi:

- Hoàng cô vì xã tắc đã một lần rứt áo ra đi, góp phần công sức không nhỏ vào việc đánh bại giặc thù. Mong hoàng cô vì giang sơn đất nước, vì sự bình yên của trăm họ mà đừng ngại bước đường gian khó. Người Đại Việt đến muôn đời sau không thể quên sự cống hiến lớn lao của hoàng cô. Mấy ngày nữa sứ Nguyên về Bắc quốc, hoàng cô hãy đi cùng.

An Tư than rằng:

- Thôi! Thế là đời ta có khác chi nàng Vương Tường1 ngày trước.

Mấy hôm sau nhà vua thiết triều hỏi các quan rằng:

- Hợp Tán Nhi Hải Nha sang ta lần này dâng thư của vua Nguyên, muốn ta thả tù binh của họ và cho đón công chúa An Tư về Bắc quốc. Các khanh nghĩ thế nào?

Trong võ ban có Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng bước ra vểnh râu, trợn mắt, tâu rằng:

- Quân Nguyên sang ta tàn hại bách tính, tội chất ngập giời. Nay bắt được chúng, đem mà giết quách đi cho nó tiệt cái giống tàn ác. Còn công chúa An Tư gả luôn cho một vương hầu nào đó mà chả được, sao lại phải trả sang Bắc quốc làm gì.

Vì Chiêu Đạo vương là em Thánh tông, tính tình ngang tàng nên mới dám nói như vậy. Các quan bặm môi nhịn cười. Lát sau bên văn ban có quan Hàn lâm viện học sĩ là Lê Văn Hưu bước ra tâu rằng:

- Thần nghĩ người ta ai cũng có cha mẹ anh em. Những người lính Nguyên sang đây chắc ở nhà mẹ già tựa cửa mong mỏi héo mòn. Vua Nguyên mà không quá tham lam, hẳn những người lính kia cũng chẳng đến nước ta, tội gây chiến phải đâu tại họ. Xin hoàng thượng mở đức hiếu sinh mà tha cho chúng. Những người tù binh được trở về tất đem cái ân trời bể của hoàng thượng mà bố cáo với thiên hạ, những kẻ khác đâu còn manh tâm nhòm ngó nước ta. Còn như công chúa An Tư đã gả cho Thoát Hoan, lấy chồng tất phải theo chồng mới phải đạo tam tòng. Thánh thượng cứ cho họ đón công chúa về để thiên hạ thấy rõ nước ta là nước văn hiến.

Các quan đều cho lời bàn của Lê Văn Hưu là phải. Riêng Chiêu Đạo vương tâu rằng:

- Công chúa An Tư, cô ấy muốn về Bắc thì cho cô ấy về, còn bọn tù binh  không thể tha không thế được. Ngộ chúng lại sang, có phải ta mất công toi không? Hoàng thượng muốn tha, cứ chặt mỗi đứa một chân rồi hãy tha.

Lê Văn Hưu tâu rằng:

- Tha mà lại chặt chân, về nước chúng cũng chỉ có đi ăn mày thôi, như thế còn khổ hơn giết chết. Thần nghĩ nên cho thích chữ vào mặt, kẻ nào còn sang, bắt được quyết không tha nữa.

Nhà vua nói:

- Thích chữ vào mặt lâu lắm, phải mất mấy tháng mới xong mà sứ sắp về, biết làm thế nào?

Quan nội mật viện Đinh Củng Viên tâu rằng:

- Xin hoàng thượng cứ cho sứ giả đưa công chúa An Tư về trước, hẹn đến đầu năm sang năm, tha hết tù binh tất việc sẽ xong.

Nhà vua ưng theo lời tâu ấy. Hôm sau cho triệu sứ Nguyên vào gặp, phán rằng:

- Trẫm đã xét kỹ những lời của ngươi. Khi nào ngươi trở về Nguyên, trẫm cho đón công chúa An Tư về trước, có người đưa lên biên giới. Còn năm vạn tù binh từ nay đến mùa xuân dần dần được tha hết.

Hợp Tán Nhi Hải Nha nói:

- Không được! Đã có chiếu của thiên tử bảo thế tử phải thả hết người Nguyên cùng một lượt ngay lập tức. Thế tử2 chớ nên kháng chỉ.

Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng quắc mắt quát:

- Sao ngươi dám gọi thiên tử là thế tử. Hẳn ngươi nghĩ không có ai dám giết ngươi chăng?

Nói xong rút kiếm đánh roạt một cái. Hợp Tán Nhi Hải Nha sợ xanh cả mặt. Nhân Tông xua tay, phán rằng:

- Không phải trẫm kháng chỉ mà hiện nay quân lính các châu lộ vẫn còn bắt được lính Nguyên chui rúc khắp nơi, trẫm làm thế nào mà thả hết ngay lập tức được. Muốn thả hết cùng một lượt, phải chờ đến mùa xuân sang năm thôi.

Hợp Tán Nhi Hải Nha không biết nói thế nào được nữa đành phải chịu. Thượng hoàng Thánh tông thấy công chúa An Tư sắp phải sang Nguyên, thương lắm, đến thăm, nói:

- Em sang Nguyên lần này không biết khi nào anh em mới lại gặp nhau. Hậu cung ở Trung Nguyên từ cổ tới nay đầy những điều hiểm độc, ghét ghen đố kị, cắn xé giết hại nhau không khác chi loài lang sói. Em phải cẩn thận lắm mới được.

An Tư sa lệ, nói:

- Từ khi phụ hoàng cùng mẫu hậu băng rồi, nhờ hoàng huynh chăm lo em mới được như ngày nay. Em đi chuyến này là không còn được gặp lại hoàng huynh nữa.

Thánh tông nói:

- Em đi đây tiếng là về theo chồng nhưng thực ra là vì việc nước. Trẫm sẽ cho Tá Thiên vương đem binh tiễn em lên biên giới.

An Tư nói:

- Không cần phảỉ nhiều quân tướng làm chi. Khi ở Hoàng giang lên Thăng Long có Trung Hiến hầu Trần Dương đi cùng, nay lên biên giới cũng chỉ cần người ấy đi theo là đủ rồi.

Thánh tông về cung truyền chỉ cho Trung Hiến hầu Trần Dương mang một nghìn dũng sĩ đi bảo vệ An Tư lên biên giới. ít ngày sau sứ Nguyên về nước, An Tư nói với Hợp Tán Nhi Hải Nha:

- Đây là lần cuối nhìn thấy đất nước của ta. Đoàn sứ bộ cứ đi trước. Ta đi sau ngắm nhìn sông núi.

Nói xong cho bỏ kiệu mà đi ngựa. Bấy giờ là mùa Đông, tháng mười một rét lắm, gió bấc thổi hun hút. An Tư quàng áo Hồ cừu, lỏng buông tay khấu đi lên ải Bắc. Trần Dương nhìn An Tư, lòng đau như cắt, cầm giáo, cúi đầu cùng đoàn tuỳ tùng đi bên cạnh. Bọn thị nữ Bạch Tuyết, Vương Lan cũng đi ngựa theo. Đến ải Lão Thử trời gần tối, Hợp Đáp Nhi Hải Nha cho dừng ngựa cắm trại nghỉ. An Tư nói với Trần Dương:

- Hầu tướng cho quân ta cắm trại cách xa trại quân Nguyên một đoạn.

Trần Dương lệnh cho quân sĩ chọn chỗ đất bằng phẳng trong cánh rừng thưa hạ trại. Trại quân Nguyên hình tròn, lợp bằng da khô, còn trại của quân Việt hình chữ nhật, lợp bằng vải sơn chế từ một loại nhựa cây. Hai trại cách nhau chừng vài dặm. Đêm rừng rét buốt, lũ côn trùng lười nhác không kêu, chỉ có tiếng gió thổi qua các đám lá cây phát ra những âm thanh xào xạc buồn bã. Ngoài cửa trại từng tốp lính canh vác giáo đi đi lại lại, ánh lửa bập bùng đẩy những cái bóng của họ chìm vào khoảng tối rừng già. Phía chòi canh trên ải vọng lên tiếng trống điểm canh hai. Từ cửa lều của công chúa hắt ra một mảng sáng vàng yếu ớt trải dài trên thảm cỏ. Những cây nến đã tàn. Bạch Tuyết nói với An Tư:

- Đêm khuya rồi. Công chúa đi nghỉ để mai lên đường.

An Tư nói:

- Chỉ còn đêm nay được ở trên đất mẹ. Ai nỡ ngủ được đây. Lòng ta buồn trăm mối, vì sao không nhấc chén tiêu sầu. Ngươi đi mời hầu tướng lại đây.

Trong khi Bạch Tuyết đi tìm Trần Dương, Vương Lan dọn tiệc rượu. An Tư ngóng đợi người tình. Thỉnh thoảng một chiếc lá rừng lìa cành chao xuống khoảng sáng trước cửa lều. Lúc sau Trần Dương đeo kiếm bước vào, cúi chào công chúa. Bạch Tuyết hạ tấm vải rèm che cửa. An Tư bảo Trần Dương:

- Sau đêm nay không biết đời này còn lúc nào gặp được hầu tướng? Sao chúng ta lại không có chén rượu chia tay?

Nói xong đưa mắt nhìn Vương Lan và Bạch Tuyết. Hai người biết ý lui sang căn lều sép kế bên. Trần Dương vẫn đứng cúi đầu không nói. An Tư cầm tay chàng kéo ngồi xuống chiếc ghế đôn bằng gỗ bọc da rồi tự tay rót rượu cho chàng. Trần Dương đỡ chén rượu uống cạn một hơi, thổ lộ lòng mình thành thực như một đứa trẻ:

- Từ sau cái đêm ở trong thuyền trên sông Hoàng, thần không lúc nào không nghĩ đến công chúa, ngay cả trong mơ cũng thấy nàng ở bên. Mỗi buổi sáng nhìn thấy mặt trời là thần lại ao ước sao cho chóng đuổi được quân Thát để tìm đến gặp nàng. Nhưng nay nàng đã lên đường sang xứ Bắc, đã mang trong người đứa trẻ của Thoát Hoan, thần còn biết nói gì nữa bây giờ.

Có lẽ mỗi con người dù cứng cỏi đến đâu cũng có những giây phút yếu lòng, Trần Dương nói đến đây, hai tròng mắt rưng rưng muốn khóc. Những nếp nhăn bất chợt hiện lên trên khuôn mặt trẻ trung của chàng. Công chúa An Tư cầm tay Trần Dương đặt lên bụng mình mà rằng:

- Đứa con này biết đâu lại chẳng là của chàng.

Trần Dương khẽ rùng mình. Khuôn mặt chàng như méo đi đôi chút, không còn vẻ gì của một vị tướng can trường. An Tư ôm lấy đầu Trần Dương mà thổn thức. Họ không để ý đến những ngọn nến tàn dần. Mãi quá canh tư, Trần Dương mới trở dậy khoác áo, ra ngoài.

Quãng đường cuối cùng gần hai trăm dặm mà sao ngắn vậy! Thoắt cái đã đến ải Khả Lan Vi. Ghềnh đá cao kia chính là cột mốc phân chia Nam Bắc. Hợp Tán Nhi Hải Nha nói với Trần Dương:

- Đây đã là biên giới rồi, mời hầu tướng đem binh trở lại để chúng tôi rước công chúa lên đường.

Trần Dương ghìm cương cho con ngựa dừng lại. An Tư ngước nhìn chàng. Hợp Tán Nhi Hải Nha giục:

- Mời công chúa lên đường thôi.

Con ngựa gõ móng không muốn bước, Hợp Tán Nhi Hải Nha sai lính dắt đi. An Tư ngồi trên lưng ngựa chốc chốc lại quay nhìn Trần Dương đang đứng trông theo, túm lông trên chiếc áo Hồ cừu màu trắng bay bay trước ngực như một bông hoa tuyết, gợi cảm giác băng giá ghê người. Những đám mây màu xám tro theo nhau dạt về phía cuối trời. Gió rét tái tê. Cảnh tượng u uất như nỗi buồn của người con gái đơn côi trên con đường vạn lý. Trần Dương đứng nhìn mãi đến khi bóng sứ đoàn mang An Tư đi khuất sau cánh rừng già. Chàng rút kiếm chém vào ghềnh đá một nhát cực mạnh làm toé lên muôn ngàn tia lửa màu tím sẫm. Nhiều người bảo rằng nhát chém ấy cho đến nay vẫn còn vết hằn trên tảng đá.

Sau khi sứ đoàn Hợp Tán Nhi Hải Nha đi rồi, vua Trần cho thích chữ lên mặt năm vạn tù binh nhà Nguyên, răn rằng:

- Nay trẫm mở đức hiếu sinh tha cho các ngươi về nước chăm lo mẹ già vợ dại, làm ăn. Kẻ nào còn cố tình trở lại Đại Việt, khi bắt được cứ theo chữ ghi trên mặt mà chém.

Mùa Xuân, tháng giêng năm Bính Tuất (2-1286), nhà vua xuống chiếu tha hết tù binh về nước. Cuối tháng ấy A Lý Hải Nha tâu lên vua Nguyên rằng:

- Người An Nam thích chữ vào mặt lính ta rồi mới thả về, thật là khinh mạn thiên triều lắm lắm. Xin thánh thượng phát binh đánh Giao Chỉ.

Hốt Tất Liệt thét lên rằng:

- Từ khi thánh tổ Thành Cát Tư Hãn khởi nghiệp ở thảo nguyên tới nay, bình Tây Liêu, diệt Kim, phá Tống không nơi nào là không sụp đổ. Vậy mà nay chịu để cho lũ mọi phương Nam làm nhục thế này ư? Ta thề không diệt được Giao Chỉ thì không còn là con cháu của dòng họ Một Nhĩ Chỉ Chân1 vĩ đại nữa.

Nói xong liền xuống chỉ cho A Lý Hải Nha cùng các đại thần trong khu mật viện bàn việc cất quân. Ngày mồng bẩy tháng hai năm Bính Tuất (3-3-1286), A Lý Hải Nha được chính thức phong làm An Nam hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ đi đánh Đại Việt. Bình chương hành tỉnh Kinh Hồ là áo Lỗ Xích2 được phong làm bình chương chính sự đô nguyên suý để giúp A Lý Hải Nha. Ô Mã Nhi, Điệt Hắc Mê Thất, A Lý Quỹ, Phàn Tiếp cùng được thăng làm tham tri chính sự. Thân vương Giảo Kỳ tâu rằng:

- Hoàng thượng nên xuống chiếu cho Vân Nam vương mang quân về hội ở Kinh Hồ để cùng đi đánh.

Hốt Tất Liệt nghe theo, liền xuống chiếu cho hoàng tử Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (con trai của Vân Nam vương Hốt Kha Xích) điều ba nghìn quân Vân Nam về hội tại hành tỉnh Kinh Hồ. Đại tướng thuỷ quân là Tả thừa Đường Ngột Đải tâu rằng:

- Đánh An Nam không giống những nơi khác. Người Nam dựa vào địa lợi sông lạch mà chống lại quân ta. Nếu không có thuỷ quân mạnh khó mà thắng được. Vả lại mang quân đi đông, tất phải chuyên chở nhiều lương thảo, nếu vận chuyển bằng đường bộ, dẫu có đến trăm vạn dân phu cũng không đủ phục dịch. Xin hoàng thượng xuống chỉ cho Hồ Quảng đóng thêm thuyền chiến, chọn tướng giỏi đánh thuỷ để huấn luyện quân sĩ.

Hốt Tất Liệt cho là phải, xuống chỉ cho hành tỉnh Hồ Quảng đóng ba trăm thuyền biển cỡ lớn dùng vào việc hành quân, hẹn đến tháng tám phải hội cả ở Liêm châu. Ngày hai mốt tháng hai năm Bính Tuất (17-3-1286) Hốt Tất Liệt xuống chiếu tập trung sáu vạn quân của ba hành tỉnh Hồ Quảng, Giang Triết, Giang Tây, hẹn đến tháng bảy phải hội cả ở Tĩnh Giang1. Thượng thư Sài Thung tâu rằng:

- Từ xưa tới nay việc chinh chiến thắng bại còn ở lòng dân. Nay người Nam hướng theo Nhật Huyên nên đồng lòng chống lại thiên triều. Chi bằng thánh thượng phong luôn cho Trần ích Tắc làm An Nam quốc vương để tiện việc hiệu triệu dân binh, tất Nhật Huyên bị cô lập, ta đánh chẳng có khó gì.

Hốt Tất Liệt cười lớn, nói:

- Diệu kế! Diệu kế. ý ấy của Sài thượng thư hay lắm.

Lập tức phong cho Trần ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm phụ nghĩa công, Trần Lộng làm tuyên phủ sứ lộ Quy Hoá, Lại ích Khuy làm an phủ sứ lộ Nam Sách, Bá ý làm An phủ sứ lộ Đà Giang và những kẻ tòng vong đều được trọng dụng phong phẩm trật theo thứ bậc. Bình chương áo Lỗ Xích tâu rằng:

- Hoàng thượng nên xuống chiếu cho Vân Nam vương đưa một cánh quân đánh sang để chia bớt lực lượng của quân Nam.

Hốt Tất Liệt theo lời tâu ấy, xuống chiếu cho Dã Tiên Thiết Mộc Nhi ngừng việc khai khẩn đồn điền, miễn nộp tô thuế để tập trung quân đi đánh Đại Việt, lại có chỉ riêng cho bình chương chính sự Vân Nam là Nạp Tốc Lạt Đinh đưa thêm một nghìn quân Đại Lý và cử đại tướng đi cùng quân Vân Nam.

Lúc bấy giờ thám tử nước Đại Việt là Đào Thế Quang ở Kinh Hồ đã lâu nên mọi sự chuẩn bị của quân Nguyên đều tìm cách dò hỏi, biết được cả, liền viết tấu biểu theo đường mật tuyến gửi về Thăng Long. Vua Trần nhận được tin, triệu Hưng Đạo vương vào triều, hỏi rằng:

- Năm nay quân Nguyên tất lại sang, chưa biết tình thế chúng thế nào2?

Hưng Đạo vương tâu rằng:

- Nước ta hưởng thái bình đã lâu, dân không biết đến việc binh, vì thế năm trước quân giặc đến, có kẻ đầu hàng, có kẻ trốn tránh, nhờ oai linh của tổ tiên và thần vũ của bệ hạ mà đánh đuổi được chúng. Nếu lần này chúng lại sang thì quân ta quen chiến trận rồi, quân chúng thì sợ phải đi xa, tất là phá được2.

Vua Trần lại hỏi:

- Đào Thế Quang có nói quân Nguyên chuẩn bị rất nhiều thuyền chiến. Khanh định cho ai cự với chúng đây?

Hưng Đạo vương tâu rằng:

- Quân giặc dẫu nhiều thuyền chiến cũng không có gì đáng sợ. Nhà Nguyên điều thuỷ binh đi đánh trận chưa thắng bao giờ3.

Nhà vua hỏi:

- Vì sao vậy?

Hưng Đạo vương tâu:

- Việc đóng thuyền mới hoặc thu dùng những đội thuyền có sẵn của người Tống là rất dễ, nhà Nguyên có thể nhanh chóng tạo được những đội hải thuyền hùng hậu nhưng để tạo ra một đội quân quen đánh thuỷ và có truyền thống đánh thắng bằng thuyền thì chưa làm được. Sở trường của họ là đánh kỵ, bộ. Nay họ lấy sở đoản đánh với sở trường của ta, sao không bại. Điều này còn cho thấy rằng người Nguyên muốn ra quân nhưng lại lúng túng về phương sách, dùng quân kỵ bộ tất không thể tác chiến được ở địa hình sông ngòi, dùng quân thuỷ lại không thiện chiến dễ bại vong. Thần nghĩ rằng quân ta chỉ dùng một người có thể ngăn được toàn bộ thuỷ quân của giặc.

Trần Nhân tông hỏi:

- Khanh định nói đến Nhân Hụê vương phải không?

Trần Quốc Tuấn nói:

- Bệ hạ thật thánh minh. Chính là ông ấy đấy ạ.

Trần Nhân tông chuẩn theo lời tấu của Hưng Đạo vương, cho sứ vào Vĩnh thành triệu Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư về triều, mọi việc ở phương Nam giao cả lại cho Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang.

Đây nói Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư từ sau trận Vệ Sơn, cùng Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang ra sức phòng thủ bờ biển, chiêu nạp nhân tài, vỗ về bách tính, giúp dân ly tán trở lại quê hương làm ăn sinh sống, dân xứ Thanh Nghệ biết ơn nhiều lắm. Một hôm Hiếu Ngân nói với Nhân Huệ rằng:

- Đất Quỳ châu là nơi có nhiều ngọc quí, vương công nên cho người đào núi tìm lấy, chẳng mấy chốc gia sản kể hàng ức vạn ngay.

Nhân Huệ vương nói:

- Điều ấy đâu phải chỉ mình ngươi biết. Ta tuy rất thích tiền bạc của cải nhưng phải tuỳ cơ mà liệu việc. Nay đang lúc chiến tranh, muôn dân bách tính điêu linh, lại bắt người ta đi đào núi tìm ngọc, lấy ai cầy cấy ruộng vườn, lấy ai vào lính canh đồn. Nhỡ giặc Thát tràn sang lần nữa, làm thế nào chống lại với chúng. Như vậy ngọc ngà tiền của phỏng có ích gì.

Nói xong gọi Ngô Kế Trung vào dặn rằng:

- Quân lính thay nhau cứ ba người, điều một người đến các xóm làng cùng dân cày ruộng. Kẻ nào xách nhiễu dân chúng, làm tổn hại ruộng đồng, trâu bò phải xử theo quân luật.

Ngô Kế Trung nhận lệnh mang quân đi giúp dân, chẳng bao lâu hàng nghìn mẫu ruộng được dân cùng lính trồng cấy tốt tươi.  Số lưu dân ở nơi xa nghe tin đồn cũng bồng bế nhau về. Vụ mùa năm ất Dậu (1285) bội thu, dân chúng no đủ, bảo nhau làm một khu vườn ngay cạnh rặng liễu cũ bên bờ Vĩnh giang, gọi là Nhân Huệ viên để tưởng nhớ công ơn của Trần Khánh Dư. Khu vườn ấy không có các loài cây quý, chỉ toàn những cây dân chúng lấy được từ trong rừng nhưng do khéo sắp đặt nên đẹp lắm. Hôm khánh thành, các vị bô lão mời Nhân Huệ vương ra thưởng ngoạn. Khánh Dư ra chơi, quả nhiên rất ưng ý, liền đi dạo khắp một vòng, bỗng thấy phía sau rặng liễu có mấy cô thôn nữ quần hồng áo tía vui chơi nói cười ríu rít, mới bảo Ngô Kế Trung rằng:

- Ngày xưa ta nhìn thấy Thiên Thụy cũng dưới rặng liễu như thế này. Chiến tranh loạn lạc không biết bây giờ nàng ra sao.

Nói xong rầu rĩ quay về. Ngô Kế Trung nói:

- Chẳng lẽ vương công lại không biết câu làm trai chí ở bốn phương, có lẽ đâu vì một người đàn bà mà bi lụy đến như vậy.

Khánh Dư thở dài, nói:

- Kẻ vô tình đâu biết nỗi đau của sự chia ly. Chỉ có chung tình như ta  mới thực là khổ thôi.

Hiếu Ngân nói:

- Vương công là anh hùng trong thiên hạ, cũng là người tiếng tăm giữa đám quần thoa, việc gặp lại Thiên Thụy đâu có khó gì.

Khánh Dư nói:

- Mười mấy năm nay biệt vô âm tín, chắc bây giờ nàng đã yên bề gia thất, việc gặp lại chẳng khó hơn cả lên giời ư?

Hiếu Ngân nói:

- Đỗ Khắc Chung1 là chỗ thân thiết với vương công, mọi việc trong triều ông ấy biết rất rõ. Vương công hỏi ông ấy tất tìm được Thiên Thụy.

Khánh Dư bảo:

- Ngươi nói phải lắm.

Còn đang nói chuyện bỗng lính hầu vào báo có sứ giả của nhà vua tới. Khánh Dư tiếp sứ mới biết được triệu về kinh, liền lập tức giao lại các đồn ải thành quách cho Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, còn mình mang vợ chồng đốc bộ Trần Thái Bảo cùng quân mã lên thuyền về Thăng Long, vào bái kiến nhà vua. Nhà vua phán:

- Nhân Huệ giữ đất Hoan châu, giặc đến quyết đánh, giặc đi lại thay trẫm vỗ về trăm họ để tỏ ân đức của triều đình, thật là một hiền tướng xưa nay. Nhưng giặc Thát vẫn chưa bỏ thói ngông cuồng, lại muốn đem quân thuỷ bộ đánh nước ta. Khanh hãy mang binh thuyền ra đóng ở Vân Đồn để ngăn quân giặc. Hẹn đầu tháng sau lên đường.

Khánh Dư nhận mệnh lui ra nhưng trong lòng không lúc nào không nhớ tới Thiên Thụy, lại nghĩ rằng từ nay đến đầu tháng tới còn có hơn mười ngày, phải đợi Đỗ Khắc Chung, hỏi xem Thiên Thụy ra sao mới được, liền đứng lại ở phía bên ngoài chờ. Lúc sau tan chầu, Đỗ Khắc Chung vừa ra đến sân điện. Khánh Dư tiến lại thân mật cầm tay nói:

- Lâu quá mới gặp Đỗ quan bác. Khi nãy ở trong điện không tiện hỏi chuyện. Chẳng hay quan bác có khoẻ không?

Đỗ Khắc Chung cũng vui vẻ nói:

- Đa tạ vương công có lòng hạ cố hỏi thăm. Hạ quan cũng ngày đêm tưởng nhớ vương công. Nếu vương công không chê, xin mời đến phủ của hạ quan có chén rượu suông mừng hội ngộ rồi ta nói chuyện.

Khánh Dư chỉ chờ có thế, cười nói:

- Thế thì tốt quá. Tôi lại sắp mang binh ra Vân Đồn, không biết khi nào mới lại được ngồi với nhau.

Hai người lên kiệu về Đỗ phủ. Rượu được vài tuần, Khánh Dư giả vờ say, ề à gợi chuyện:

- Thời giờ kể cũng trôi nhanh, đời người bóng ngựa qua song. Mới ngày nào tôi bị mắc tội tưởng cuộc đời không bao giờ còn ngẩng lên được nữa, thế mà đã mười mấy năm rồi.

Đỗ Khắc Chung không biết ý đồ sâu xa của Khánh Dư, cứ tâm sự vô tư như hai người bạn lâu ngày gặp nhau, nói:

- Cái gì cần quên nên quên, cái gì cần nhớ hãy nhớ. Chẳng nhẽ vương huynh chưa dứt được mối tình ngày ấy hay sao?

Khánh Dư nét mặt rầu rầu, nói:

Anh hùng nan quá mỹ nhân quan2. Tôi cũng chỉ là con người bình thường thôi chứ đâu phải là tiên thánh mà chóng quên đến thế. Không biết bây giờ nàng ra sao.

Đỗ Khắc Chung cười lớn, nói:

- Không ngờ Nhân Huệ lại là người chung tình đến thế. Có lễ gì, đệ mách cho.

- Từ khi ta bị tội, gia sản sạch banh chẳng còn chi đáng kể, mấy năm vừa rồi may được nhà vua thương tới nhưng mải lo việc quân lữ biết lấy gì làm lễ với huynh đây. Mai sau ăn gia làm nên xin hậu tạ vậy.

Đỗ Khắc Chung cười ngất, bảo:

- Đệ cũng nói đùa vậy chứ, có đâu dám nhận lễ của huynh. Chẳng lẽ huynh không được tin gì của Thiên Thụy thật ư?

- Ta có ba đầu sáu tay gì mà biết được việc trong cung.

- Khổ thân vương huynh! Công chúa vẫn chưa lấy chồng. Sau ngày ấy nàng thề rằng không được sống cùng huynh, quyết chẳng lấy ai. Thượng hoàng nhiều lần khuyên giải nhưng nàng bảo hễ bắt lấy người khác là tự vẫn ngay, vì thế sống đơn lẻ đến giờ. Thật tội nghiệp, hai người có tình mà không có phận.

Khánh Dư nghe Khắc Chung nói vậy, lòng đau như cắt bằng cật nứa, nói:

- Huynh có ưng lòng đưa giúp phong thư của ta cho cho nàng không?

- Trông bộ dạng của vương huynh thê thảm thế này, dẫu không muốn giúp cũng chẳng đành lòng.

Nói xong, sai gia nhân lấy nghiên mài mực cho Khánh Dư viết. Lâu lắm chàng mới lại cầm đến bút, hí hoáy vài canh giờ rồi cũng viết xong tình thư nhất bức chừng độ mươi dòng, tất nhiên là chữ nhầm chữ lỗi be bét cả, nhưng phong gói cẩn thận giao cho Khắc Chung. Buổi chiều, Khắc Chung vào chầu vua rồi lén tìm đến chỗ công chúa Thiên Thụy đưa thư.

Công chúa Thiên Thụy ở gần tuổi ba mươi, thời gian đã vạch trên khuôn mặt xinh đẹp của nàng vài ba nếp nhăn nơi cuối mắt nhưng không vì thế mà làm mất vẻ yêu kiều của người con gái chốn thâm khuê. Lâu lắm nàng không chuyện trò với người đàn ông nào, trừ phi thượng hoàng hoặc nhà vua đến thăm hỏi. Ngọn lửa ham muốn yêu đương một thời tuổi trẻ dường như đã tắt ngấm trong con tim đau đớn của nàng. Những ngày tháng ham hố bồng bột đã lùi vào dĩ vãng mờ xanh. Thâm cung với những gác tía lầu son giờ đây chẳng khác chi chốn giam cầm, làm lụi tàn tuổi thanh xuân và úa vàng mọi khát khao của một đời con gái. Đối với nàng tất cả chỉ còn là kỷ niệm và những buổi chiều nhớ nhung dài đằng đẵng. Rồi niềm thương nhớ cũng phai dần theo thời gian, biến con tim nàng trở thành vô cảm, mất hết sức sống, không còn màu tươi non của nguồn nhựa tình yêu. Nàng chỉ còn độc một thú vui là chiều chiều ngồi bên song cửa ngắm những đám mây lặng lờ trôi về phía cuối trời. Chiều nay cũng vậy, công chúa đang chỉ cho người thị nữ thấy kia là một đám mây giống hình tiên nữ phiêu du một cách lẻ loi, phải chăng đó là người con gái bị giam trong tháp Lôi Phong1, bỗng có một thị nữ khác bước vào dâng bức thư của Trần Khánh Dư. Thiên Thụy không tin ở mắt mình nữa, nàng run run mở thư đọc, nước mắt tuôn rơi làm nét chữ nhoè đi. Nhưng rồi nàng cũng đọc hết bức tình thư. Những nếp nhăn nơi cuối mắt dãn dần ra, trên khuôn mặt vẫn còn đẫm lệ thoáng một nét cười. Nhựa sống trong con tim nàng đã chảy, nguồn mạch yêu đương dội về lai láng tràn trề. Những ước nguyện mộng mơ trong con người nàng khô héo từ lâu, đang xanh dần trở lại.

Theo lời hẹn trong thư, sáng hôm sau Thiên Thụy cùng hai thị nữ lên chơi Tây hồ. Mặt nước trong xanh, phẳng lặng. Chưa có một vị công tử hay tiểu thư nào đến chơi sớm thế này. Giữa khoảng trời nước chỉ có một chiếc ưng thuyền đứng đợi không biết từ bao giờ. Thiên Thụy cùng hai thị nữ xuống một chiếc thuyền nhỏ, nhằm hướng chiếc ưng thuyền chèo tới. Mặt trời  lên dần từ phía bờ sông. Làn gió sớm làm những sợi tóc mai bay bay khiến nét mặt Thiên Thụy tươi sáng hẳn lên. Nàng đang hồi hộp, lo lắng hay đang mừng vui. Con tim thổn thức, rạo rực không khác chi lần đầu tiên được ôm trong vòng tay chắc khoẻ của chàng. Khi hai thuyền áp mạn, công chúa bước sang chiếc ưng thuyền, người lính hầu mời vào trong khoang, nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đang chờ nàng.

Gió bắt đầu lay động trên các ngọn cây. Mặt hồ gợn lên muôn vàn con sóng. ánh mặt trời vỡ tan trên mặt nước như người rải xu đồng trong lễ cưới. Mấy xóm quanh hồ vang lên tiếng nô đùa của những đôi trai gái. Từng đàn sâm cầm bơi trong đám lá sen. Có cả những cặp uyên ương âu yếm rỉa lông cho nhau, chúng tin chắc rằng chỉ có chúng mới xứng đáng là biểu tượng của lòng chung thuỷ.

Thật là:

Ngày muộn vườn rừng nhớ thủa xưa

Chim hoa xuân cạn khổ đến giờ

Thương người năm cũ về Nam lánh

Đâu phải dòng Tương nước lững lờ1.

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem sự việc diễn biến thế nào.

 


1 Khu mật viện: Cơ quan tổ chức và điều khiển chiến tranh.

2 Giục tốc bất đạt: Vội vàng muốn làm nhanh, việc khó thành.

1 Những câu thoại này lấy nguyên văn trong Việt sử tiêu án (Vsta)

1 Vương Tường: Tức Vương Chiêu Quân ở đời Hán Nguyên đế, là môt người con gái hết sức xinhđẹp, thông minh, phải đem cống cho chúa Hung Nô là thiền vu Hô Hàn Nha, khi qua cửa ải nàng có viết khúc Quá Quan lời lẽ rất bi ai gợi nhớ quê hương đất nước.

2 Người Nguyên thường gọi các vua nhà Trần là thế tử, ý coi Đại Việt như một nước chư hầu của họ.

1 Một Nhĩ Chỉ Chân: Họ của Thành Cát Tư Hãn và con cháu ông ta.

2 áo Lỗ Xích: Nhân vật này Vsta phiên âm là áo Lỗ Ma.

1 Tĩnh Giang: Thuộc Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay.

2 Những câu thoại này lấy nguyên văn trong Vsta.

3 Trong các cuộc chiến với người Nhật Bản, Java, Chiêm Thành, Đại Việt năm 1285 thuỷ quân của nhà Nguyên đều thất bại thảm hại.

1 Tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289), Đỗ Khắc Chung được nhà vua cho  mang quốc tính, tức là Trần Khắc Chung.

2 Anh hùng nan quá mỹ nhân quan: Người anh hùng cũng khó qua được ải mỹ nhân.

1 Theo thần thoại Trung Quốc, em gái Ngọc Hoàng dan díu với người phàm trần; Ngọc Hoàng biết được, đem giam nàng vào vào tháp Lôi Phong.

1 Lời thơ trên đây phỏng dịch bài Độ Tương Giang của Đỗ Thẩm Ngôn đời Đường. Nguyên văn bài thơ ấy phiên âm như sau:

Trì nhật viên lâm bi tích du

Kim xuân hoa điểu tác biên sầu

Độc liên cố quốc nhân Nam thoán

Bất tự Tương giang thuỷ Bắc lưu.

Đ.T

 

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Chiều ngày 17/12/2017 tại hội trường tầng 2 Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp, số 53...
Hình ảnh
Ngày 15/12/2017 tại TT tổ chức sự kiện Ks Bình Minh Trường Sơn; Trung tâm Văn...
Hình ảnh
Nhân dịp  Lễ Giáng sinh Vănhaiphong.com đưa ra ba bài xướng về đề tài TÌNH...
Hình ảnh
Chào mừng kỷ niệm 73 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-...
Hình ảnh
"Ta lại thua cuộc rồi" - Ông Petronius nghĩ thầm. Và quay trở về nhà ông tin...
Hình ảnh
Françoise Sagan tên thật là Françoise Quoirez. Bà sinh ra trong một gia đình tư bản...
Hình ảnh
Kìa em! Gió đã gọi thu về Để giọt may lùa những tái tê Lặng lẽ chiều...
Hình ảnh
Có một điều lạ cho đến bây giờ tôi chưa hiểu thực sự trận đánh hôm ấy....
Hình ảnh
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy nàng, cô gái tôi đã từng yêu trước kia. Nàng ...
Hình ảnh
Ngày 14/12/2017 tại Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp, đã diễn ra lễ trao giải thi thơ...
Hình ảnh
Khi xu hướng đọc sách đang chìm lắng, việc trẻ tiếp cận truyện tranh là...
Hình ảnh
Bên ngoài trời sầm sập, mưa như trút nước. Đã 2 giờ sáng mà phòng chỉ huy...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2659
mod_vvisit_counterHôm qua7623
mod_vvisit_counterTất cả9041329
Hiện có 331 khách Trực tuyến