Đât Việt trời Nam- tiểu thuyết lịch sử của Đan Thành - ( chương 43)

.ĐẤT VIỆT TRỜI NAM (Chương 43)

Đan Thành

Chiêu Văn lập trại dưỡng thương

Nhân Huệ tác thành cho lính...

Nỗi khát khao bao ngày tháng rồi cũng đến lúc thoả. Mặt trời vượt quá đỉnh đầu. Tiếng mõ trên thành báo qua giờ Ngọ. Khánh Dư cầm tay Thiên Thụy mà rằng:

- Ngày mai ta xin với thượng hoàng, đón nàng về cùng nhau chung sống, từ nay về sau sẽ bù đắp sự thiệt thòi cho nàng.

Thiên Thụy nói:

- Có câu gái ba mươi tuổi đã toan về già. Thiên Thụy nay gần ba mươi rồi mà về phủ Nhân Huệ chẳng phải làm trò cười cho thiên hạ ư? Chỉ mong chú Dư đi chuyến này chóng thành công, phá tan giặc dữ cho muôn dân được an hưởng thái bình, mai sau còn nhớ đến Thiên Thụy, lại gặp nhau ở đây cùng hưởng niềm vui giữa khoảng trời nước mênh mang có khác chi chuyện thần tiên ngày trước.

Thế đấy! Trai gái yêu nhau mà phải chia tay, ở tuổi nào cũng vậy, lưu luyến bị rịn chẳng lời nào kể hết nhưng cũng xin tạm gác lại để cho Nhân Huệ vương còn phải lên đường.

Mời bạn hãy quay lại với khoảng thời gian cuối mùa hè năm trước (ất Dậu-1285 ). Lúc bấy giờ quân Nguyên đã thua tan tác tháo chạy về Bắc nhưng Đại Việt cũng bị tàn phá nặng nề, dân chúng phiêu bạt khắp nơi. Nhà Nguyên  chưa từ bỏ giấc mộng xâm lăng. Vua Trần xuống chỉ cho làm sổ đinh trong toàn quốc. Quan hàn lâm viện học sĩ, binh bộ thượng thư là Lê Văn Hưu tâu rằng:

- Nước ta vừa trải qua binh lửa, số binh lính chết trận đến hàng chục vạn, số người mang thương tích còn nhiều hơn thế, nay cho họ về quê nhiều người không tìm được họ hàng thân thích, không có ai chăm nom, khó tránh khỏi cái mầm gây nên nạn đạo tặc. Xin hoàng thượng hãy xuống chỉ, tập trung họ lại nuôi dưỡng chữa chạy. Ai còn có thể đánh giặc được, cho tái đăng vào lính để dìu dắt tân binh, ai không thể chiến đấu được nữa mà còn thân nhân ở quê, lần lượt cấp bổng cho về sum họp gia đình, những người không còn thân nhân, triều đình nên nuôi dưỡng họ, thương tật ổn định, dựng vợ gả chồng để có con lo phần hương hoả. Như vậy sẽ tỏ được ân đức của hoàng thượng thấm nhuần đến ba quân, dân chúng.

Nhân tông nghe theo lời tấu ấy, hỏi rằng:

- Việc mở trại nuôi dưỡng thương binh là một việc hết sức nặng nề, không phải người giỏi giang có lòng bác ái không thể làm được. Các khanh hãy cử cho trẫm một vị đại thần lo việc này.

Quan hình bộ thượng thư là Hàn Thuyên1 tâu rằng:

- Thần cho rằng việc này trừ Chiêu Văn vương ra không ai làm được. Xin bệ hạ xuống chỉ cho ông

ấy lo liệu, hẳn việc tất xong.

Triều thần đều cho lời tâu của Hàn thượng thư là rất hợp lý. Nhà vua liền xuống chỉ cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi thu đón thương phế binh ở khắp mọi nơi về lập trại điều dưỡng tại cánh đồng phía Nam núi Phả Lại. Chi hậu cục là Đỗ Khắc Chung tâu vua rằng:

- Thương phế binh là những người có công với nước. Xin hoàng thượng xuống chỉ cấm quan lại từ các địa phương đến triều đình không ai được ngược đãi họ.

Hình bộ thượng thư Hàn Thuyên tâu rằng:

- Không nên! Tuy thương binh là người có công, đã cống hiến một phần máu xương thân thể cho đất nước nhưng nhà vua xuống chỉ như vậy không thể tránh khỏi có kẻ lợi dụng làm càn mà chức sắc các nơi không can thiệp được, sẽ sinh ra tình trạng hỗn loạn trong dân chúng, cái hại không biết đến đâu là cùng.

Đỗ Khắc Chung lại tâu:

- Nhưng nếu không có chỉ như vậy, thương binh vốn đã chịu khổ ở nơi chiến trận khi về hậu phương lại bị hào lý đè nén mọi đường, sao họ không phẫn nộ. Khi ấy cái hại cũng không nhỏ chút nào.

Quan thị lang là Hạ Nghi1 tâu rằng:

- Thần thiết nghĩ thương binh không những có công với nước, họ còn là vốn quý của quốc gia, có kinh nghiệm chiến trận làm gương cho lớp trai trẻ sau này, vì thế cần được tôn trọng và bảo vệ là lẽ đương nhiên. Nay triều đình đã có chế độ đãi ngộ riêng với họ là rất chu đáo. Tuy nhiên, thương phế binh cửi áo lính về làm người dân cũng cần thấy trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước mà làm tròn bổn phận con dân của bệ hạ. Muốn như vậy cần phải hướng dẫn cho họ khỏi mắc phải những điều sai quấy.

Trần Nhân tông chuẩn theo lời tấu, sai hai vị đại học sĩ là Trần Uyên2, Trần Cố3 và quan hành khiển Quách Nhẫn4 soạn ra một chương trình để hướng dẫn cho thương phế binh học tập. Khi ấy ở phía Nam núi Phả Lại đã dựng xong trại điều dưỡng rất lớn. Thu đón đến mười mấy vạn thương binh khắp các mặt trận về. Chiêu Văn vương cho mời rất nhiều lương y, lương dược trong cả nước đến chữa trị cho thương phế binh. Bản thân Chiêu Văn vương cũng thường lên núi tìm cây, hái lá làm thuốc cho quân lính, lại thường gọi các phường chèo, múa rối đến diễn tích để mọi người xem làm vui. Dân chúng quanh vùng thấy nói có phường trò, kéo nhau đến xem nhờ. Những thương binh nhẹ thấy các cô thôn nữ xinh đẹp, buông lời tán tỉnh. Trong đám ấy có một người tên là Đặng Tuất gọi quan chi hậu cục Đỗ Khắc Chung là cậu, rủ năm sáu người bạn lừa mấy cô gái vào cánh rừng thưa làm điều bậy bạ. Mấy cô gái không chịu, vùng vẫy, có người thoát được bỏ chạy về kêu làng nước. Dân thôn kéo ra, các cô còn lại đã bị bọn Đặng Tuất làm nhục rồi. Quan đại tư xã vùng ấy làm giấy trình lên Chiêu Văn vương nhưng vì đã có chỉ của nhà vua bảo vệ thương binh nên Chiêu Văn vương cũng chỉ gọi bọn Đặng Tuất lên quở trách qua loa rồi bảo lần sau không được làm thế nữa. Đặng Tuất nghĩ mình là cháu quan to không ai dám làm gì nên không những không hối cải mà còn rủ đám người xấu ra đường cái quan chặn dân chúng bắt họ cho tiền.

Trong lũ bạn của Đặng Tuất có một đứa tên là Hồ Nhi rất tinh ranh. Một hôm nhân lúc rượu đã ngà ngà, Hồ Nhi bảo Đặng Tuất cùng cả đám rằng:

- Chúng ta đứng ở đường sao bằng cứ vào thẳng trong làng, thế nào chả kiếm được cái ăn.

Cả bọn cho là phải, liền vào các xóm ven núi mua gà mua rượu, nhờ gia chủ làm mâm đánh chén, ăn xong hẹn nhà chủ lần sau đến trả tiền nhưng đến hai mươi cái lần sau cũng chẳng thấy đồng tiền nào. Không những thế, nhà ai có có con gái trông sạch sẽ là chúng buông lời trêu ghẹo, làm chuyện xấu xa. Người nào dám ngăn cản liền bị chúng chửi:

- Mẹ cha chúng mày. Chúng ông đổ máu ở nơi trận mạc thì chúng mày mới được yên ấm thế này. Vậy mà chúng mày dám chống lại chúng ông à?

Chửi xong, xông vào đánh người ta. Có người bị đánh tưởng chết. Dân chúng quanh vùng căm lắm, hoá ghét lây cả những thương binh khác, kéo nhau lên trại kêu với Chiêu Văn vương. Chiêu Văn vương thấy tình hình nghiêm trọng mới gọi Trương Tích đến, dặn:

- Ngươi đem một trăm lính đi tuần xuống các làng, thấy thương binh nào quấy nhiễu dân lành, bắt đem về đây.

Trương Tích nhận lệnh đi ngay, quả nhiên mới đến cánh đồng đã thấy bọn Đặng Tuất đuổi theo mấy cô gái đang trồng khoai, định làm điều càn rỡ, liền hô quân bắt cả lại, đưa luôn mấy cô gái lên trại để đối chứng, chỉ có tên Hồ Nhi trốn thoát. Đặng Tuất bị bắt vẫn dương dương tự cho là không ai dám làm gì mình, đến khi quỳ trước công đường còn nói rằng:

- Chúng tôi là thương binh có công với nước, vua còn phải nể, cớ sao vương gia cho người bắt?

Chiêu Văn vương nghiêm nét mặt, nói:

- Đúng! Các ngươi đều là thương binh, vua cũng phải nể, nhưng binh phải có luật. Ngươi có biết binh luật thế nào không?

Đặng Tuất khinh khỉnh cười mũi, nói:

- Những điều sâu xa tôi không nhớ hết nhưng biết chắc là thưởng người có công, phạt kẻ có tội. Chúng tôi có công sao cũng phải phạt?

Lúc bấy giờ phía ngoài công đường có tiếng ồn ào. Thì ra tên Hồ Nhi trốn về trại nói với anh em thương binh rằng:

- Chiêu Văn vương cho người bắt trói thương binh.

Nhiều người không tin, nói:

- Làm gì có chuyện ấy. Văn vương xưa nay thương lính như con, có đâu lại làm như vậy.

Hồ Nhi bảo:

- Các anh không tin, đến công đường mà xem. Năm sáu người bị bắt đem về đấy, sắp chém cả. Chỉ vì họ ham chơi một tí đấy thôi.

Có mấy người bị kích động, nói:

- Về đây nghỉ ngơi, ham chơi một chút đã sao, có gì mà phải bắt bớ.

- Anh em ta kéo nhau lên công đường xem đứa nào dám trói thương binh.

- Mang cả kiếm đi xem chúng nó có dám bắt không.

Đám thương binh vừa đi vừa hò hét gọi nhau, chốc đã có mấy trăm người kéo đến vây cửa công đường, đòi vào gặp Chiêu Văn vương. Lính canh không sao cản được họ lại. Tên Hồ Nhi thừa lúc ồn ào, nói to lên rằng:

- Vua còn phải nể chúng ta, Chiêu Văn vương chưa là cái thá gì. Anh em cứ xông vào bắt hắn lại, giải cứu cho anh em mình.

Đám thương binh nhiều người chưa biết mô tê ra sao nhưng cũng hùa theo, gào to lên:

- Đúng rồi! Bắt lại. Tước vương cũng chưa oai đâu nhá. Anh em ta sống chết ở chiến trường không phải để về đây cho họ bắt nạt.

- Thương binh sống được về đến đây là quý, không biết thương anh em lại còn bắt bớ.

Đặng Tuất nghe đám thương binh gào to như vậy, hí hửng cười khẩy. Phó Tường đứng sau Chiêu Văn vương thấy đám thương binh xông vào, tình hình đã căng thẳng lắm, nói:

- Xin vương gia cho tôi mang vệ binh bắt chúng lại.

Chiêu Văn vương giơ tay ra hiệu không được làm vậy rồi rời khỏi án, bước ra cửa đến trước đám thương binh. Tên Hồ Nhi trông thấy, nói:

- Trần Nhật Duật ra đấy. Anh em bắt lấy.

Có mấy người tuốt kiếm xông lên. Chiêu Văn vương mặt không đổi sắc, nói:

- Anh em! Nghe ta nói đã rồi muốn bắt thì bắt.

Đám thương binh im lặng. Chiêu Văn vương nói tiếp:

- Anh em xông pha nơi chiến trận phỏng ta không sống chết ở chốn biên thuỳ sao? Ai nói ta không biết thương anh em? Không thương các ngươi mà ta lặn lội khắp mọi nơi để tìm đón các ngươi về đây ư? Không thương các ngươi  vì sao ta phải đội mưa đôi nắng lên núi tìm thuốc chữa chạy cho các ngươi? Thôi! Cũng không phải nói nhiều. Ta hỏi các ngươi câu này: Vì ai mà chúng ta không tiếc thân, đánh giặc?

Đám thương binh lại ồn lên trả lời:

- Vì nhà vua.

- Vì giang sơn xã tắc. Vì muôn dân bách tính.

- Nó đánh mình, mình phải đánh nó chứ còn vì cái gì nữa?

Chiêu Văn vương giơ tay ra hiệu im lặng, nói:

- Các ngươi nói đúng cả. Vì sự bình yên của muôn dân trăm họ, chúng ta không tiếc máu xương để chônga quân thù. Vậy mà bây giờ có kẻ ức hiếp dân chúng, đi ngược lại với sự mong muốn của chúng ta, phải xử thế nào?

Mấy binh lính nói  to:

- Thế thì không được rồi! Phải giết!

- Đúng đấy. Kẻ nào phản dân thì phải giết đi!

Chiêu Văn vương nói tiếp:

- Những kẻ bị bắt đang quỳ trong kia chính là như vậy. Ta sẽ cho kê án ra đây để các ngươi được cùng xử chúng.

Mấy anh vệ binh dẫn bọn Đặng Tuất ra sân, lại khiêng án thư ra trước cửa để Chiêu Văn vương xử. Chiêu Văn vương hỏi Đặng Tuất:

- Khi nãy ngươi nói luật nhà binh là thưởng người có công, phạt kẻ có tội phải không?

Đặng Tuất thấy tình hình ngả theo chiều bất lợi cho mình, cúi mặt đáp lúng búng:

- Đúng ạ!

- Vậy ngươi nói xem như thế nào là có tội?

Đặng Tuất cùng đồng bọn không nói được câu nào. Chiêu Văn vương ngẩng lên hỏi anh em thương binh:

- Thế nào là có công, thế nào là có tội các ngươi đã được học chưa?

Đám thương binh đồng thanh đáp:

- Chúng tôi đã được học rồi.

Chiêu Văn vương vui vẻ chỉ anh lính người nhỏ bé, cụt một cánh tay, đứng cạnh đấy, hỏi:

- Ngươi có biết người lính như thế nào là có tội không?

Anh thương binh đứng thẳng nói lớn:

- Phàm đã là lính:

Một là, gọi tên không thưa, vời không chịu đến, đi về trái hẹn, hành động trái luật, gọi là quân lờn, phải chém.

Hai là,...

Ba là,...

...

Bẩy là, hễ đến nơi nào lấn áp dân cư, thông dâm phụ nữ, goị là quân gian, phải chém.

Tám là, nhanh mồm lém lưỡi, tranh cãi phải trái, gây oán với quan quân, nghe lệnh không theo, gọi là quân báng, phải chém

Mười sáu là, trong khoảng doanh trại, không có việc khao thưởng, vô cớ  uống rượu, gọi là quân cuồng, phải chém1.

Chiêu Văn vương khen:

- Tốt lắm! Đem những điều trên mà chiếu, Đặng Tuất cùng đồng bọn luôn bỏ trại đi chơi, gọi đến không thấy, đi lại không kể giờ giấc, nhiều lần cưỡng hiếp phụ nữ, răn bảo không nghe, mua chịu ăn quỵt, chặn đường trấn cướp, đánh đập chúng dân gây thù kết oán, khi bị quan binh ngăn cản lại tranh cãi lôi thôi không chịu nhận sai, thường hay mang rượu về trại uống say đánh lộn nhau gây chuyện lộn xộn, toàn phạm vào những điều phải chém. Nay anh em thương binh chúng ta có hàng chục vạn, ai cũng cậy công, làm càn như thế thì hỏi nước có loạn không? Xương máu anh em ta đổ ở chiến trường còn có nghĩa gì. Vì những kẻ làm bậy này mà dân chúng ghét lây đến cả những anh em tốt, oán vọng triều đình. Thảng hoặc quân giặc lại sang, có mất nước không? Ta nói hết rồi! Bây giờ các ngươi muốn bắt ta hay muốn trị tội những kẻ làm càn này?

Anh em thương binh cùng nói:

- Trị tội những kẻ làm càn.

- Chém chúng nó đi

- Còn thằng Hồ Nhi là đồng đảng của chúng. Xin vương gia cho bắt.

Đám thương binh dẫn Hồ Nhi đến trước án thư, Chiêu Văn vương nói:

- Hồ Nhi làm càn, nói bậy, kích động ba quân, chê gièm quan binh, tội chẳng thể tha. Cùng bọn Đặng Tuất thật đáng chết, nhưng thương vì chúng đã từng lập công ở chốn sa trường nên hẵng tạm giam lại. Ta làm bản tấu dâng lên triều đình để nhà vua phán xử.

Anh em thương binh hô to:

- Vương gia thiên tuế! Vương gia thiên tuế!

Hô xong ai về trại ấy còn bọn Đặng Tuất, Hồ Nhi bị tống vào ngục. Chiêu Văn vương cho người mang biểu về Thăng Long dâng lên thiên tử. Trần Nhân tông họp quần thần, phán rằng:

- Trong trại thương binh có kẻ cậy công, coi thường phép nước, vin vào những ân huệ của trẫm mà làm càn. Các khanh bàn xem nên xử trí thế nào?

Bấy giờ người của Đặng Tuất cũng đã về đến kinh thành nên Đỗ Khắc Chung biết hết mọi chuyện mới tâu:

- Mạng người là quan trọng. Bọn Đặng Tuất, Hồ Nhi dẫu có làm bậy nhưng chưa đến nỗi phải chết. Xin thánh thượng gia ân tha thứ chắc chúng không dám làm càn nữa.

Quan hành khiển là Quách Nhẫn tâu rằng:

- Thần không nghĩ như quan chi hậu cục. Phép dùng binh là thưởng người có công, phạt kẻ có tội. Nay quân lính không chịu phục tùng thượng lệnh, cậy công làm càn đó chính là mầm hoạ cho xã tắc chứ không phải nhỏ. Xin thánh thượng nghiêm trị để răn đe kẻ khác.

Đỗ Khắc Chung tâu rằng:

- Nếu đem thương binh xử tội, e rằng quân lính bất mãn cũng không phải không gây hoạ.

Thượng thư bộ hình là Hàn Thuyên tâu rằng:

- Hình luật là cái gốc để trị nước. Sợ kẻ bất mãn mà không dám thi hành hình luật, quốc gia sao bền vững được.

Đỗ Khắc Chung lại tâu:

- Thương binh ai chẳng có cha mẹ vợ con. Họ dám bỏ tình nhà, dám chết cho nghiệp nước thật đáng trọng lắm thay, việc gây nên tội chỉ do tuổi trẻ nông nổi nhất thời. Vả lại những lời tấu của Chiêu Văn vương biết đâu đã là minh xác. Nay đem chém những người cho là có tội, họ chết là xong nhưng cha mẹ vợ con họ sao chẳng đau lòng.

Câu nói này của Đỗ Khắc Chung đánh trúng vào lòng nhân từ của Trần Nhân tông. Nhà vua phán:

- Chiêu Văn vương là người cẩn trọng, xưa nay làm việc chưa từng sai sót bao giờ. Ông ấy có quyền chém trước tâu sau mà phải viết bản tấu về triều như vậy cũng biết trong lòng ông ấy không muốn giết. Vì thế những lời tấu không có gì phải nghi vấn. Việc này hãy tạm để lại đã.

Khi ấy quan thẩm hình viện Đặng Ma La đang ốm, nghỉ ở phủ, sau buổi chầu, Nhân tông ngự đến thăm, đem chuyện thương binh phạm tội ra hỏi rằng:

- Sự việc như vậy, ý khanh nên xử ra sao.

Đặng Ma La tâu:

- Muôn tâu bệ hạ! Gia có gia quy, quốc có quốc pháp, quân có quân luật. Nếu bỏ những thứ ấy đi có còn nhà, còn nước, còn quân nữa không?

Nhà vua nghe theo, hôm sau sai sứ đến Phả Lại truyền lệnh đem bọn Đặng Tuất, Hồ Nhi ra chém, còn những kẻ khác tuỳ tội nặng nhẹ mà xử, lại cử Tá Thiên vương Trần Đức Việp làm quan giám hình. Chiêu Văn vương nhận chỉ, đòi bọn tội phạm lên công đường, lại báo cho anh em thương binh cùng đến dự tuyên án. Từ đấy trại dưỡng thương mới được yên ổn. Mấy tháng sau nhiều thương binh đã được chữa lành, Chiêu Văn vương  cấp bổng cho họ về quê với người nhà. Mấy anh lính làng Cao Duệ cũng trong số ấy.

Từ sáng sớm Phạm Quang đã rủ anh em thuê xe ngựa cùng về quê. Trên đường có vô số xe khác cũng chở anh em thương binh về các ngả. Bụi đường cuốn tung, hòa vào sương sớm làm hình ảnh những chiếc xe như đang lướt trong mây. Những chú ngựa hào hứng trước buổi sáng đẹp trời, dựng bờm thi nhau phi nước đại . Một anh lính bảo bác đánh xe:

- Ông cho xe chạy chậm thôi. Anh em chúng cháu có người còn đau đấy.

Bác đánh xe lỏng cương cho con ngựa chạy nước kiệu nhỏ. Xe lăn bánh êm hơn trên con đường lầm cát. Gió đồng thổi vi vút mát rượi. Trước cảnh ấy, mấy chú thương binh hứng khởi tranh nhau cười nói vui vẻ. Mai Văn Sử gãi gãi mẩu chân cụt, bảo:

- Này Phạm Quang! Cảnh đẹp thế này sao cậu không làm thơ đi.

Mấy anh lính cùng làng ồn cả lên tán thưởng:

- Phải đấy! Phải đấy! Làm thơ đi, làm thơ đi.

Phạm Quang đang ngồi lim dim như ngủ. Một ống tay áo thắt lại bên ngoài cánh tay cụt, đung đưa theo nhịp xe lắc. Một anh bạn nói:

- Cảnh đẹp thế này mà thi nhân lại ngủ gật được sao.

Phạm Quang mở mắt, cười nói:

- Ngủ đâu! Tớ đang nghĩ thơ nhưng mãi chưa ra câu nào.

- Chưa ra câu nào cũng cứ đọc đi.

- Đọc thì đọc.

Phạm quang hắng giọng đọc:

- Hừ hừ... Mỏi bánh xe quay, đường lầm bụi

Vài ý thơ tồng tộc kẹt trong hồn.

Cả bọn cười ngất, nói:

- Thơ gì mà lại thơ tồng tộc?

Phạm Quang cũng cười, bảo:

- Tớ làm quái gì có thơ hay, chỉ có thơ tồng tộc thì đọc thơ tồng tộc chứ sao nữa.

- Nhưng thơ thì làm thế nào mà kẹt trong hồn?

- Nghĩ mãi không tìm được vần thì kẹt trong hồn chứ sao.

Mai Văn Sử bảo:

- Thơ tồng tộc cũng được, cứ đọc đi. Lặng im! Lặng im, nghe hết bài xem thế nào.

Phạm Quang hừ hừ mấy tiếng rồi đọc lại từ đầu:

Mỏi bánh xe quay, đường lầm bụi

Vài ý thơ tồng tộc kẹt trong hồn

Mấy mảnh nắng cuối thu sà xuống bãi

Nhuốm rực vàng thảm cỏ phía đầu thôn

Những chàng lính xa nhà lâu trở lại

Mải ngóng nhìn đồng ruộng xóm làng xưa

Tàn chinh chiến. Ai còn? Ai đứng đợi

Sau phiến rào hoa tím rắc lưa thưa

Mòn ngày tháng mẹ chờ bên song cửa

Sương gió nhiều, mái tóc ánh chiều pha

Giặc tan hết, mắt già cười đẫm lệ

Mừng đàn con trở lại đất quê nhà.

Cả bọn cùng reo lên:

- Hay! Hay! Đúng là thi nhân làng mình. Chẳng kém chi Lý Bạch, Đỗ Phủ của Tàu, hào sảng hơn hẳn Trần Tử Ngang1.

Bác đánh xe góp chuyện, bảo:

- Trai đất Việt đánh giặc giỏi, làm thơ hay, thật chẳng hổ danh con Lạc cháu Hồng của đất nước văn hiến.

Phạm Quang bẽn lẽn nói:

- Thơ cháu là thơ tồng tộc ấy mà.

Mọi người cùng cười ngất. Bác đánh xe kéo cương cho con ngựa rẽ vào con đường chạy về làng. Bỗng mấy người chỉ một cô gái đang rảo bước phía trước, nói:

- Ai như chị Hoa con nhà bác Hiệp.

Cô gái ngoảnh lại. Mai Văn Sử reo lên:

- A! Đúng chị Hoa rồi, này lên xe cùng về đi.

Lâu lắm mới được gặp cô gái người làng, mấy anh thương binh mừng vui tíu tít, hỏi thăm người nọ người kia. Đoàn Hoa bảo:

- Tôi cũng như các anh, mới về đến đây, đã biết làng xóm ra sao đâu.

- Thế chị đi đâu về?

Đoàn Hoa nói giấu:

- Đi chạy giặc chứ còn đi đâu nữa. Có chừng này anh về thôi ư? Còn anh Hương con bác Điền mấy những anh khác đâu cả?

Phạm Quang trả lời:

- Số trai tráng làng ta vào lính chỉ còn tất cả thế này thôi chị ạ, quá nửa đã nằm lại ở chiến trường rồi. Anh em còn lại đây cũng không ai nguyên lành nữa. Người thì cụt tay như tôi đây, người thì mất chân như anh Sử kia, các anh này cũng bị giáo đâm, tên bắn đầy mình cả.

Bác Đoàn Sĩ Hiệp đã ở vào cái tuổi chi thiên mệnh, lại đau yếu luôn, thuốc thang cơm cháo bữa có bữa không nên gầy yếu lắm. Bác gái lăn lộn với ruộng đồng, lại bị coi là gia đình không có người vào lính nên xã quan gọi đi dân phu phục dịch quan binh đánh giặc, mới được về tháng trước. Hôm nay thấy con gái về, vợ chồng mừng rơi nước mắt. Đoàn Hoa hỏi bố mẹ:

- Sao thày bu không nói là con đã vào lính rồi để khỏi phải đi dân phu?

Bác Hiệp nói:

- Con ơi! Chẳng lẽ mày không biết nhà vua có chỉ không tuyển con gái vào lính ư. Lộ ra là mất đầu cả nhà chứ chẳng chơi. Xã quan Vĩ Thử bảo thế, cho là mày trốn việc đi phu, cử trương tuần Dư truy lùng mãi đấy. Họ biết con về đây rồi thế nào cũng vào hỏi cho mà xem, không khéo lôi thôi to. Nhưng hết giặc, còn nguyên lành mà về được thế này là tốt lắm rồi. Thế nào cũng có lúc trời mở mắt.

Đoàn Hoa cười, nói:

- Thày dậy ăn cháo đi. Trời cũng sắp mở mắt rồi đấy ạ.

Cả nhà đang nói chuyện, ngoài cổng vang lên tiếng chó sủa, rồi trương tuần Vũ Văn Dư dẫn mấy tráng đinh cầm tay thước xông vào, gọi:

- Ông Hiệp có nhà không? Con gái ông trốn phu đã về rồi hả.

Bác Hiệp gái chạy ra bảo:

- Con tôi đi vắng thì tôi đã đi phu thay nó. Các ông còn định làm gì.

Trương Dư1 vung vung cái roi gân bò, nói:

- Mụ đi phu là suất của mụ. Còn nó trốn, bây giờ phải làm gấp đôi. Hôm nay các quan đang kê khai sổ đinh, ăn uống ở ngoài đình, chưa có người rửa mâm bát, quét dọn. Nó phải làm bù.

Bác Hiệp gái nói:

- Tôi đã năm mươi tuổi rồi, làm gì còn phải đi phu dịch. Tôi đi là đi thay cho con tôi.

Trương Dư vuốt ria mép, cười, nói:

- Tôi không biết! Xã quan bảo như thế tôi biết thế. Con Hoa kia có ra đình dọn dẹp không thì bảo.

Đoàn Hoa trong nhà bước ra, đứng trước mặt Vũ Văn Dư, bảo:

- Tôi không ra, ông định làm gì.

- Không ra! Ông đánh cho tuốt xác chứ còn làm gì! Bướng này.

Vừa nói, Vũ Văn Dư vừa giơ chiếc roi gân bò nhằm đầu Hoa quất xuống. Nhanh như cắt, Đoàn Hoa giật lấy chiếc roi, thuận chân đạp một nhát. Trương Dư ngã kềnh ra sân, giơ bốn vó lên giời giãy giãy, quát tráng đinh:

- Đồ ăn hại! Để nó đánh ông thế này à! Không mau trói nó lại.

Mấy tay tráng đinh bước lên định trói. Đoàn Hoa quát:

- Dừng lại! Các ngươi có biết cái gì đây không?

Đoàn Hoa rút trong người ra một tấm thẻ ngà giơ lên. Vũ Văn Dư đọc những chữ trên tấm thẻ:

- Đô trưởng Đoàn Hoa đánh giặc có công.

Đoàn Hoa dõng dạc nói:

- Đây là tấm thẻ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương cấp cho ta. Các ngươi dám hỗn, ta quyết không tha.

Trương Dư sợ hãi, lồm cồm bò dậy, dẫn bọn tráng đinh ra cổng. Đoàn Hoa ở nhà với bố mẹ mấy ngày rồi lên đường tới Vạn Kiếp.

Triều đình có lệnh tuyển quân, bác Phạm Anh cho hai cậu con trai thứ là Phạm Trí, Phạm Dũng lên đường. Bác Mai Văn Tự cho Mai Văn Quyển đi. Bác Nguyễn Văn Điền cho cậu con thứ hai là Nguyễn Văn Hoà vào lính. Các nhà khác cũng vậy. Anh về em đi thay. Lớp lớp con em làng Cao Duệ cùng trai tráng trong cả nước kế tiếp nhau trận. Hôm tiễn tân binh, Phạm Quang cầm tay hai em, dặn rằng:

- Các em hãy luyện tập cho tốt, thay anh giết thật nhiều quân giặc. Chớ có để con trai xứ Hạ Hồng thua kém mọi người đấy nhé. Anh chờ tin các em.

Phạm Trí, Phạm Dũng cùng nói:

- Chúng em quyết không thua cha và anh đâu. Phải cho bọn Thát biết thế nào là trai đất Việt.

Đây nói Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chịu mệnh của nhà vua ra trấn giữ Vân Đồn, trước khi mang quân đi, Hưng Đạo vương kéo đến bên tấm bản đồ bằng da, chỉ vào mấy điểm khoanh tròn, dặn rằng:

- Ông mang quân ra đấy, dựa vào thế đảo thế nước mà đóng quân từ Vạn Hoa sơn1 đến cửa Nam Triệu2. Giặc thế nào cũng chở lương theo đường biển. Nếu cướp hết được thuyền lương của chúng, công của ông thật là cái thế vô song đấy.

Khánh Dư nói:

- Từ Vạn Hoa sơn đến cửa Nam Triệu là cả một dải dài non nước. Quân của tôi không còn đến ba vạn người, e rằng khó giữ hết được những nơi hiểm yếu.

Hưng Đạo vương bảo:

- Được! Để tôi điều thêm quân cho ông.

Nói xong liền gọi Phạm Ngũ Lão đến, ra lệnh:

- Hãy giao số quân của ngươi cho Nhân Huệ vương, chỉ mang bọn hàng tướng người Hán về ngay Đông Ngàn luyện tân binh cho ta.

Phạm Ngũ Lão vâng mệnh giao quân rồi mang bọn Lã Kiều, Hạ Hầu Vân, Quách Ngung, Hứa Dĩ về Đông Ngàn. Ngày hôm sau Trần Khánh Dư cho quân lên thuyền đến thẳng Vân Đồn, ngoài những tướng cũ, có thêm bọn Đoàn Hoa, Văn Thắng, Phạm Bình, Vương Thanh giúp sức, lại thu gồm tất cả các đồn ải ven biển, quân số lên đến hơn năm vạn người, thanh thế rất mạnh. Mấy hôm sau thuyền quân đến đảo Vạn Hoa, Khánh Dư họp các tướng bàn cách bố phòng, nói:

- Ta đóng đại doanh tại đảo Vạn Hoa. Phan Hoành mang tất cả thuyền lương vào đảo Tam Trĩ. Khúc Bá Lợi, Ninh Cát Đại đem quân giữ cửa Nam Triệu. Phạm Sĩ Thành, Văn Thắng đem thuyền nhẹ tuần tiễu đến tận Ngọc sơn. Từ Ngọc sơn trở lên thuộc địa phận của Nhân Đức hầu Trần Toàn1. Trần Thái Bảo, Lý Châu Nương, Ngô Kế Trung, Đoàn Hoa, Vương Thanh, Phạm Bình đợi lệnh.

Các tướng nhận lệnh đâu về đấy. Lúc bấy giờ quân tuần giang cũng nhập vào tuyến phòng thủ của Trần Khánh Dư, trong đó có cả tuần giang trưởng giáp Hà Vinh cùng bọn Nguyễn Vĩ Dương, Vũ Hàm. Một hôm Vĩ Dương thấy hai vị đô trưởng vừa đi vừa nói chuyện trên bãi biển, nhìn kĩ thì một trong hai vị ấy chính là Đoàn Thị Hoa, vội về báo với Hà Vinh rằng:

- Vị đô trưởng đang đi ngoài bãi biển kia chính là đứa con gái tên là Đoàn Thị Hoa, con ông Đoàn Sĩ Hiệp ở làng tôi.

Hà Vinh hỏi:

- Có đúng thế không?

Vũ Hàm cũng bảo:

- Anh nói thế nào ấy chứ. Cái Hoa con ông Hiệp ai lạ gì. Nó là con gái làm sao vào lính, còn làm đến đô trưởng nữa?

Vĩ Dương nói:

- Tôi đã nhìn đích xác. Trưởng giáp không tin, cho Vũ Hàm đi cùng tôi ra xem lại.

Hà Vinh nói:

- Được! Hai ngươi ra nhìn cho thật kĩ, nếu quả đúng như vậy, về báo lại để ta lên trình với Nhân Huệ vương, bắt tội nó.

Vĩ Dương, Vũ Hàm vâng lệnh ra tận nơi nhìn, quả không sai mới quay ngay lại báo. Hà Vinh nói:

- Các ngươi theo ta lên trình với Nhân Huệ vương, nhất định phen này có thưởng to đấy.

Bấy giờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đang ngồi bàn việc cùng Ngô Kế Trung và Hiếu Ngân, có lính cận vệ vào báo trưởng giáp Hà Vinh xin cầu kiến trình việc cơ mật. Khánh Dư cho vào. Hà Vinh dẫn Vĩ Dương, Vũ Hàm vào trình rằng:

- Nhà vua đã có chỉ không tuyển nữ binh, vậy mà có kẻ giả trai lọt vào quân ngũ, thế là khi quân phạm thượng. Xin vương công bắt y trị tội để răn đe những kẻ coi thường phép vua.

Bọn Hà Vinh tưởng Khánh Dư nổi giận đùng đùng, không ngờ mới nghe thấy có gái ở trong quân, Khánh Dư đã thích quá bảo:

- Tốt! Tốt. Nó là kẻ nào vậy? Có xinh không? Sao không báo sớm cho ta để bảo nó vào làm bạn với Liên Nhi?

- Dạ! Trình vương công! Kẻ đó chính là đô trưởng Đoàn Hoa mới chuyển từ đạo quân của Phạm Ngũ Lão sang đấy ạ.

Trần Khánh Dư bảo:

- Tưởng ai chứ đô trưởng Đoàn Hoa thì ta biết. Người ấy tuy có mảnh mai trắng trẻo thật nhưng võ nghệ cao cường, ở lính lâu như thế làm sao mà là con gái được.

- Dạ! Trình vương công! Đoàn Hoa chính là người làng của hai anh lính này. Xin vương công cứ hỏi ắt rõ ngay thôi ạ.

Trần Khánh Dư hỏi cặn kẽ lại. Bọn Vĩ Dương, Vũ Hàm mới kể hết tên tuổi cha mẹ, quê hương, gia cảnh của Đoàn Hoa. Khánh Dư liền cho lính đi gọi đến hỏi:

- Nhà ngươi có phải là con ông Đoàn Sĩ Hiệp ở làng Cao Duệ, huyện Tường Tân, châu Hạ Hồng không?

Đoàn Hoa không hiểu sao Nhân Huệ vương lại biết rõ lại lịch của mình như vậy, nhưng thấy hỏi cũng cứ tình thực trả lời:

- Dạ! Thưa vương công đúng vậy ạ.

Khánh Dư đập án quát:

- Vậy nhà ngươi là gái, cớ sao không ở nhà lấy chồng sinh con mà dám giả trai vào lính? Không biết như vậy là trái mệnh vua hay sao?

- Dạ! Thưa vương công! Tiện nữ cũng biết thế là có tội nhưng thiết nghĩ khi đất nước lâm nguy, mọi người phải chung tay góp sức phù trì xã tắc, làm tròn bổn phận dân nước chứ sao lại phân biệt trai gái nên mới đắc tội như vậy.

Khánh Dư cười lớn, nói:

- Giỏi giỏi! Khá khen cho nữ nhi mà cứng cỏi chẳng kém gì nam tử, thật không hổ danh con cháu bà Trưng bà Triệu. Ngày sau chàng trai nào được gá ngãi trăm năm với ngươi hẳn là tốt phúc lắm thay. Vậy ngươi đã có nơi nào thề nguyện ba sinh hay chưa?

Đoàn Hoa xấu hổ đỏ mặt, thưa rằng:

- Đô trưởng Vương Thanh chính là ý trung nhân của tiện nữ, đã hẹn rằng khi nào đánh tan hết giặc sẽ về quê cấy lúa, trồng dâu chăn tằm, chung sống với nhau đến đầu bạc răng long.

Hà Vinh ở phía sau bước ra thưa rằng:

- Gái giả trai vào chốn quân doanh là tội chết. Xin vương gia trị tội Đoàn Hoa để giữ nghiêm quân luật.

Khánh Dư tuy tham bỉ hiếu sắc nhưng lại rất ghét bọn xu nịnh hại người, lườm Hà Vinh, quát:

- Gái giả trai thì làm sao? Nó đi đánh giặc chứ ăn trộm ăn cắp gì của nhà chúng mày mà tội? Nhà vua chỉ nói không tuyển nữ binh chứ có cấm đâu. Ngươi nói xem điều nào trong quân luật xử tội nữ binh? Bà Lý Châu Nương vợ ông Trần Thái Bảo đang cầm quân đây chẳng phải là gái hay sao? Từ nay ta cấm, không được nói lôi thôi gì nữa.

Bọn Hà Vinh, Vĩ Dương, Vũ Hàm cụt hứng lùi lũi đi ra nhưng trong lòng oán hận lắm. Trần Khánh Dư lại sai lính đi gọi đô trưởng Vương Thanh đến, hỏi rằng:

- Nhà ngươi có phải là tình quân của Đoàn Hoa hay không?

Vương Thanh thưa rằng:

- Thưa vương công! Chúng tôi đã thề sống chết có nhau, khi nào giặc tan thì về quê chung sống ạ.

Khánh Dư cười lớn, nói:

- Trời ơi! Thề chi mà dại thế. Nhỡ hai mươi năm mới đánh hết giặc, các ngươi định để mốc lên à? Ta giải cho các ngươi lời thề ấy. Phải thề lại là vừa đánh giặc vừa cưới nhau vừa đẻ con, mai sau mới có đứa tòng quân chứ. Để ta xem trong tháng này ngày nào tốt, cho các ngươi cưới ngay đi thôi.

Đoàn Hoa thẹn đỏ mặt, lí nhí thưa rằng:

- Cảm ơn vương công có lòng thương. Nhưng việc nhân duyên còn phải có ý của cha mẹ hai bên nội ngoại chứ ạ.

Khánh Dư nhăn mặt kêu:

- Ôi giời ôi! Ta lấy bao nhiêu vợ mà song thân có biết đâu. Vả lại có câu Phụ tử tri binh, chúng mày không coi ta như cha được sao. Nội ngoại gì cũng là ta tất. ở đây cha mẹ họ hàng đều xa, ta sẽ lo tác thành cho hai đứa, chứ trai khôn gái lớn cả rồi, để lâu quá tội lắm. Cưới xong ta cho ít bạc, về quê nghỉ một tháng trình với họ hàng rồi lại ra đây đánh giặc.

Vương Thanh nói:

- Chúng tôi về quê nhỡ ở đây giặc đến thì sao ạ?

- Bố chúng nó cũng chẳng đến nhanh thế được. Cứ yên trí ở nhà một tháng mà hưởng hạnh phúc con ạ.

Hôm sau Trần Khánh Dư gọi Lý Châu Nương cùng Liên Nhi đến dặn:

- Ta giao việc làm đám cưới Vương Thanh, Đoàn Hoa cho hai ngươi. Tính sao cho nhanh gọn nhưng phải rôm rả, các ngươi chớ phụ lòng ta.

Lại gọi Phạm Bình, Văn Thắng đến, dặn:

- Các ngươi đều là chiến hữu đã lâu của cô dâu chú rể, hãy mang quân chặt cây, lấy lá làm cho chúng một ngôi lán uyên ương thật xinh xắn trong rặng cây kia, rồi xem bào ngư, cá mực cùng các thứ tranh pháo đã đủ chưa.

Các tướng ai nấy đều vui vẻ nhận việc đi làm. Mấy ngày sau tiến hành tiệc cưới, cô dâu, chú rể, họ nội, họ ngoại đều là lính. Bàn thờ đặt ngay trên bãi cát, không có lư hương, chỉ có hoa rừng. Hoa rừng nhiều lắm, khắp nơi nơi chỗ nào cũng ngào ngạt mùi hương. Bướm trắng bay từng đàn theo đám rước cô dâu, chẳng khác chi cảnh thần tiên trong chuyện truyền kỳ. Lớp lớp sóng bạc đầu theo nhau tràn lên bãi cát như muốn cùng góp mặt chung vui. Pháo nổ vang trời, có cả tiếng trống, tiếng thanh la như trong ngày hội lớn. Các chú lính ăn mặc chỉnh tề đến chúc mừng cô dâu chú rể. Phạm Sĩ Thành bảo Văn Thắng:

- Nhân Huệ vương đúng là người có tấm lòng quảng đại khó ai bì kịp.

Văn Thắng nói:

- Tôi cũng nghe nói nhiều chuyện về Nhân Huệ vương, nhưng việc tác thành cho lính là có một không hai. Vương Thanh, Đoàn Hoa thật là tốt phúc.

Bạn bè chiến hữu của cô dâu chú rể lần lượt đến chúc mừng, tung vào người họ những chùm hoa rừng. Tiệc cưới, ngoài những món ăn thường ngày của lính còn có thêm bào ngư, cá mực tươi và cả thịt dê núi nữa. Cô dâu, chú rể nâng chén chúc nhau, khuôn mặt ửng hồng, nói cười vui vẻ, thật là đám cưới của lính. Tiệc tan, tân lang và tân giai nhân được đưa vào động phòng hoa chúc trong một ngôi lán mới tinh còn thơm mùi cỏ lá. Mấy chú lính khép cánh cửa hoa rồi lui ra, ôm nhau cười lăn trên bãi cát.

Thật là:

Ai bảo biên cương toàn máu lửa

Lính đồn, trai gái cũng nên duyên

Người ta vẫn nói Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư hay làm những điều lạ, nguyên việc tác thành cho lính ngay ở nơi đồn trú cũng có thể giải thích vì sao ông luôn là người lập được chiến công. Mời bạn đọc tiếp chương sau.




1 Hàn Thuyên: Tức Nguyễn Thuyên.

1 Hạ Nghi: Người xã Hạ Lạc, huyện Thanh Lâm (Nay thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương), đỗ thám hoa khoa thi năm Bính Dần, niên hiệu Thiệu Long thứ 9 (1266), đời Trần Thánh tông, làm quan đến chức thịlang.

2 Trần Uyên: Người huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng (nay là huyện Mỹ Hào, Hưng Yên), Đỗ thám hoa khoa thi năm Bính Thìn(1256).

3 Trần Cố: Người huyện Thanh Miện, châu Hạ Hồng ( nay là huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương), đỗ trang nguyên khoa thi năm bính Dần (1266).

4 Quách Nhẫn: Người huyênh Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đỗ thám hoa khoa thi năm ất Hợi (1275).

1 Những điều này lấy trong cuốn Binh thư yếu lược của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Đỗ Mộng Khương, nhà xuất bản công an nhân dân, năm 2001, trang 116, 117. Tuy nhiên sách này chưa được coi là bản gốc của Trần Hưng Đạo.

1 Lý Bạch, Đỗ Phủ, Trần Tử Ngang là những nhà thơ lỗi lạc đời nhà Đường - Trung Quốc. Trần Tử Ngang có bài thơ Đăng u châu đài ca rất buồn như sau:

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc sảng nhiên nhi thế há

Xin tạm dịch là:

Nhìn trước chẳng thấy người xưa

Ngóng sau hút mắt ai chưa đến cùng

Đi trong trời đất mông lung

Xót mình đơn lẻ lệ dòng không thôi.

1 Trương Dư: Tức là Trương tuần Vũ Văn Dư ( gọi chức vị kèm tên) không phải họ Trương  tên Dư.

1 Vạn Hoa sơn: Đảo Cái Bầu ngày nay.

2 Nam Triệu: Khu vực cửa sông Bạch Đằng sát với Hải Phòng ngày nay.

1 Nhân Đức hầu Trần Toàn: Sách An Nam chí lược của Lê Trắc chép là Nhân Đức hầu Trần Da. Có thuyết cho rằng thượng vị Nhân Đức hầu Trần Toàn có quan hệ họ hàng với thượng vị Nhân Huệ hầu Trần Khánh Dư - Trước khi được phong vương, Trần Khánh Dư tước thượng vị Nhân Huệ hầu.

Đ.T

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Chiều ngày 17/12/2017 tại hội trường tầng 2 Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp, số 53...
Hình ảnh
Ngày 15/12/2017 tại TT tổ chức sự kiện Ks Bình Minh Trường Sơn; Trung tâm Văn...
Hình ảnh
Nhân dịp  Lễ Giáng sinh Vănhaiphong.com đưa ra ba bài xướng về đề tài TÌNH...
Hình ảnh
Chào mừng kỷ niệm 73 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-...
Hình ảnh
"Ta lại thua cuộc rồi" - Ông Petronius nghĩ thầm. Và quay trở về nhà ông tin...
Hình ảnh
Françoise Sagan tên thật là Françoise Quoirez. Bà sinh ra trong một gia đình tư bản...
Hình ảnh
Kìa em! Gió đã gọi thu về Để giọt may lùa những tái tê Lặng lẽ chiều...
Hình ảnh
Có một điều lạ cho đến bây giờ tôi chưa hiểu thực sự trận đánh hôm ấy....
Hình ảnh
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy nàng, cô gái tôi đã từng yêu trước kia. Nàng ...
Hình ảnh
Ngày 14/12/2017 tại Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp, đã diễn ra lễ trao giải thi thơ...
Hình ảnh
Khi xu hướng đọc sách đang chìm lắng, việc trẻ tiếp cận truyện tranh là...
Hình ảnh
Bên ngoài trời sầm sập, mưa như trút nước. Đã 2 giờ sáng mà phòng chỉ huy...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2665
mod_vvisit_counterHôm qua7623
mod_vvisit_counterTất cả9041335
Hiện có 335 khách Trực tuyến