Trần Mạnh Hảo – một kiểu “phán rơm” trong phê bình văn học - Liêu Thái

Những lỗ hổng cơ bản

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều trước khi đặt tựa cho bài viết này, nhưng cuối cùng, tựa hợp nhất có lẽ là tựa trên đây. Vì lẽ, với thâm niên viết già dặn, với tên tuổi cũng không phải thuộc hàng làng nhàng gốc mít bụi tre, mà là một cái tên từng gây trận nổi đình nổi đám trong làng văn, từng tạo ấn tượng không ít cho tôi thời sinh viên. Nhưng rồi, càng đọc, càng thấy ông Trần Mạnh Hảo là người viết cẩu thả, thiếu tính khoa học, võ đoán và có đôi chút hằn học nào đó ẩn chất bên trong bài viết của ông. Có lẽ đây là điều đáng buồn nhất ở một cây bút phê bình như ông.

Xin nói rằng lẽ ra cũng không có bài viết này, nhưng chính vì thái độ quá xem thường độc giả (trong đó có tôi) của ông Trần Mạnh Hảo mà tôi buộc phải ngồi vào bàn viết những ý rời này.

Gần đây nhất, đọc loạt bài viết nhận định/phê bình về các giải thơ của năm 2010-2011, nhìn cách ông đánh giá tài năng, giá trị thi ca, dẫn luận và phán xét trong bài viết thì chỉ cho thấy đôi điều: Ông viết bằng hệ thống luận điểm không logic nhưng chuyển tải bằng giọng văn hùng hồn và biết kĩ thuật đánh người; hoàn toàn thiếu thao tác phân tích khi đưa ra những phán xét có tính sinh sát tới tác giả mà ông nhắc đến; cố tình bóp méo những khái niệm hầu chứng minh là mình đúng; Viết bằng một thái độ hằn học của lối phê bình ‘phán rơm’.

Tôi xin chứng minh:

Trong các bài “Trạng nguyên thơ, hay là Trạng... nguyên hình?” và “Sao Hội nhà văn Việt Nam lại hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài?”, ông đưa ra và trích những luận điểm cơ bản để cho thấy: Mai Văn Phấn, Đinh Thị Như Thúy, Đỗ Doãn Phương, Từ Quốc Hoài không phải là những tài năng thi ca, sự cách tân của họ là “vô lối”, và những trạng nguyên thơ này không xứng đáng.

Ông đã viết/trích:

“Xin quý vị đánh tên bốn vị trạng nguyên thơ này lên trang tìm kiếm http://google.com sẽ thấy hiện ra hàng trăm bài khen ngợi rất kinh hãi và đao to búa lớn. Tất nhiên, cũng có một số bài chê bốn vị trạng nguyên này là trạng nguyên dỏm, trạng nguyên bịp vì thơ của họ không phải là thơ vì nó thiếu hàm súc, thiếu hình tượng, thiếu cấu tứ, thiếu tư tưởng, dễ dãi, linh tinh lang tang và quan trọng là nó thiếu nghệ thuật, tức nó không hay.

Nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên, trong http://lethieunhon.com đã coi hai tập thơ được giải Hội nhà văn VN năm 2011: “Hoan ca” của Đỗ Doãn Phương và “Ngày linh hương nở sáng” của Đinh Thị Như Thúy là hai tập thơ làng nhàng, nếu không nói là thơ dở, như sau:

“Nhìn lại giải thưởng thơ 2011”: “Theo ý kiến của nhiều người, Hoan ca và Ngày linh hương nở sáng là 2 tập thơ có một số bài đọc được, còn lại phần lớn chỉ ở mức trung bình, thậm chí có những bài chưa thể xếp vào thơ được, xét trên mọi khía cạnh. Còn nhà thơ Đỗ Hoàng thì gọi đây là 2 tập thơ “vô lối”.

Sự “vô lối” đầu tiên thể hiện ở chỗ là cả hai tập thơ không hề có bất cứ một cảm quan gì mới về thực tại, dù chỉ là mô tả về những điều mắt thấy tai nghe bằng ngôn ngữ thi ca hoặc những suy tư triết học. Vẫn là cách chối bỏ thực tại, chối bỏ những “lẽ phải thông thường”, chối bỏ cái không thể chối bỏ được bằng một lối nói dễ dãi, không hề có xúc cảm từ phía chủ thể, cũng không có hình thức thể hiện mới lạ, nên rất khó để có thể truyền dẫn cái hồn của thơ đến với công chúng: Đột nhiên không muốn trồng chuối/ Cũng bỏ nốt trồng màu/ Nơi này không cuốc cày vun xới/ Bằng phẳng dải đất ven đê/ Chiều, sau khi trẻ đá bóng/ Đất bằng ngửa mặt mênh mông/ Đón nỗi trống không/ Bằng bầu trời (Đỗ Doãn Phương - Bãi đất ven đê). Điều đáng nói là những bài thơ theo lối trẻ em “tập viết” như thế này trong Hoan ca của Đỗ Doãn Phương rất phổ biến. Ngay ở bài Hoan ca về đất được coi là bài “đinh” trong tập thơ của anh, ta vẫn thấy sự dễ dãi đến lạ thường: “... Hoa cỏ, gạch đá, bãi rác, hàng cây, hồ ao và xa xa dãy núi/ Đâu là nơi đất đai sẽ bị đào lên khiến mạch nước đứt tung tứa máu/ Đâu là nơi mặt đất sẽ mở ra và mím thắt lại/ Đâu là nơi cốt nhục ta sẽ hóa đất đời đời?,...”

Có thể nói, ở bài thơ này, người thơ thấy gì nói ấy, không cần chắt lọc, chưng cất, càng không cần sự tham gia của xúc cảm thẩm mỹ, mà chỉ là một lối nói huỵch toẹt cho xong. Vậy mà không ít người lại cho rằng đấy đích thị là những bài thơ có sự “sáng tạo” (!?).”

(Trích: “Trạng nguyên thơ, hay là Trạng... nguyên hình?”)

Với những ý kiến đưa ra trong bài viết, ông hoàn toàn không phân tích được ngôn ngữ, cấu trúc, nội hàm, phức cảm, ý niệm cũng như tư tưởng của những tác phẩm nhận giải thơ, mà ông chỉ làm một thao tác đơn giản là tách mấy bài trong những tập thơ của người đoạt giải và so sánh (mặc dù trong thao tác so sánh này, ông cũng không dẫn luận được cú pháp, ngữ nghĩa, cấu trúc, ý niệm, phức cảm ngôn từ, phức thể tác phẩm và phức niệm toàn tập của từng tác giả!) với một tác giả khác, rồi sau đó viết bài giễu nhại để đi đến chê bai dở hay.

Đó là chưa muốn nhắc đến quan niệm, thẩm mỹ của ông khi ông đưa ra luận điểm dở - hay, chuẩn thơ, sự trong sáng của tiếng Việt… để phán xét, dựa vào giọng văn khá hùng hồn, cuốn hút, đặc biệt là đánh vào tâm lý độc giả (trong đó có tôi) chẳng ưa gì những thứ giải nhà nước, giải “chính thống”… để mà lôi độc giả về phía mình bằng cách cào bằng hàng loạt giải nằm chung một sàn, sau đó mặc sức la lối, chê bai, thậm chí mắng nhiếc tác giả.

Một khi rơi vào tình thế này, cho dù tác giả những tập thơ trên có thấy ông vô lý họ cũng đành ngậm bồ hòn với ông vì lẽ, nếu họ lên tiếng, họ sẽ rơi vào trạng huống: Chứng minh mình hay hoặc chứng minh cái giải thơ của mình là hợp lý, là xứng đáng, là khoa học. Mà, với một người viết có lương tri, một người cầm bút có lòng tự trọng, chẳng ai đủ “gan” để lên tiếng chứng minh những điều trên. Kết quả là ông vẫn tiếp tục oang oang chê, oang oang mắng nhiếc người khác.

Đây là gì nếu không phải ông rất rành kĩ thuật tìm đồng minh để đánh hội đồng một ai đó bằng cách xếp người sắp bị đánh vào phe đối lập, “phe đỏ”, vào vị trí việt gian rồi sau đó mặc sức đấu tố, sỉ vả, khiến cho người ta tối mặt tối mày, không có đường ra vì ra hướng nào cũng gặp cửa tử?!

Và, trong một luận điểm khác, ông viết/trích:

“Ngôn ngữ, tư duy của người Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy nước ngoài. Vậy mà Nguyễn Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà người ta gọi là thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại các nói cách, tư duy của người nước ngoài cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất kiêng kị khi nói về quạ (quan điểm cổ xưa đó là loài chuyên mang điều gở) nay Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một người đang học nói tiếng Việt: “Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh …” (Chạy theo mái nhà). Trời ạ, thế mà người ta dám gọi là thơ thì thật là liều...”

(Trích: “Trạng nguyên thơ, hay là Trạng... nguyên hình?”)

Riêng luận điểm này, ông chỉ nêu mà không hề phân tích và chứng minh Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn và một số nhà thơ liên đới giống nước ngoài chỗ nào, việc dẫn thêm tập Lá Cỏ của Walt Whitman trong loạt bài phê bình này cũng chẳng có phép so sánh hay đối chiếu nào từ ý tưởng, cảm quan, ngôn ngữ, ý niệm, khái niệm, tư tưởng giữa những nhà thơ này, ông chỉ phán đúng một vấn đề “xanh rờn” là họ học lối viết nước ngoài, giọng thơ của họ lai căn nước ngoài. Độc giả có đọc nổ con mắt cũng không thấy được một câu thơ nào của Walt Whitman trong bài, càng mù tịt về cái sự mà ông gọi là lai căn của Nguyễn Quang Thiều và Mai Văn Phấn.

Và, không biết ông đào đâu ra cái điềm gở của loài quạ trong quan niệm chỉ có duy nhất người Việt mà nước ngoài không kiêng kị loài quạ? Xin thưa với ông là tôi kính nhờ ông nêu thử có bao nhiêu nước trên thế giới này không lồng ghép hình ảnh loài quạ với xác chết, với điềm gở? Hơn nữa, ông bảo rằng Mai Văn Phấn “lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một người đang học nói tiếng Việt…” Vậy, cụ thể Mai Văn Phấn đã học kiểu tư duy này của nước nào? Của ai? Hơn nữa, thế nào là tư duy truyền thống của xứ ta?

Nếu ông trả lời chuẩn xác được ba câu hỏi trên, thì chí ít ông cũng tránh được một mâu thuẫn của bản thân ông, đó là vừa chê bai người khác không có gì mới, không có sự cách tân, lại vừa cổ xúy cho cái gọi là “truyền thống”. Ngược lại, nếu ông không phân tích, chứng minh một cách cụ thể, có khoa học những gì ông nêu ra thì e rằng lâu nay ông đã bịp độc giả, lừa mị họ bằng thứ ngôn ngữ rỗng tuếch, đao to búa lớn… Ông đã rơi vào loại phê bình võ đoán, phán rơm.

Ở bài “Sao Hội nhà văn Việt Nam lại hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài?”, ông viết:

“…Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” (NXB Văn hóa Thông tin 1999 trang 1827) định nghĩa: “vô thức: ngoài ý thức của con người, trạng thái vô thức, hành động vô thức”. Nếu không có sự hiểu, hiểu biết, nhận biết, tức ý thức thì không còn là con người nữa, vì con người là con vật tự ý thức. Họ phán, chúng tôi làm thơ bằng vô thức, các ông lại lấy ý thức ra để phê bình thơ chúng tôi theo kiểu ông nói gà bà nói thóc lép là đánh tráo khái niệm?!

Thưa các quý ngài CÁCH TÂN THƠ đang làm kinh hãi thi đàn, hóa ra quý vị làm thơ trong giấc ngủ ư ? Nhưng sau khi quý vị thức dậy, không phải vô thức mà chính ý thức mách bảo với quý vị nhớ lại bài thơ quý vị viết trong giấc ngủ. Nhớ lại bài thơ viết trong lúc ngủ chính là một hành vi ý thức đấy. Rồi quý vị cầm lấy bút, viết lên giấy cái bài thơ được sinh ra bằng giấc mơ (khiếp thật) thì quả là các vị đã nằm trong vòm sinh quyển của ý thức mất rồi. Nói tôi làm thơ bằng vô thức chung quy là một cách nói bịp bợm…”.

Ý này ông đã đánh đồng vô thức với giấc ngủ, vậy ông hiểu gì về vô thức? Ông đọc ở đâu ra cái vô thức với giấc ngủ là một vậy? Hơn nữa, ông còn cố gắng chứng minh những nhà thơ cách tân là những người bịp bợm vì họ nói là họ viết bằng vô thức, nhưng khi cầm bút là họ đang thức, đang hồi tưởng giấc mơ…?

Xin thưa với ông Hảo, ông đã đọc không tới đầu tới đũa phân tâm học (mặc dù ông dẫn bằng cả tiếng nước ngoài!), bằng chứng là ông chỉ phân loại trạng thái tâm thức con người thành ba phần: Vô Thức; Tiềm Thức và Ý Thức. Ông chịu khó đọc thêm, con người, ngoài Vô Thức, Tiềm Thức, Ý Thức, còn có thêm Siêu Thức. Vấn đề này ông tự tìm thêm sách phân tâm mà đọc, tôi không có trách nhiệm chỉ cho ông biết cuốn nào đã chia như vậy. Điều tôi muốn nói ở đây là ông đã hiểu sai về chữ Vô Thức. Giả sử có một nhà thơ nào đó nói rằng họ viết trong vô thức, thì ông đừng nên hiểu họ đang viết trong giấc ngủ. Vì Vô Thức hoàn toàn không đồng nghĩa với giấc ngủ, ở một chừng mực nào đó, khi con người rơi vào trạng thái ngủ, cũng là lúc tiềm thức đồng thời cộng hưởng với vô thức và hoạt động song hành. Nhưng tuyệt nhiên, giấc ngủ không đồng nghĩa với vô thức, vô thức ở đây được hiểu là sự can thiệp của hệ thần kinh thực vật, ví dụ như tim của ông, ông không bảo nó đập nó vẫn cứ đập, bao tử của ông, ông muốn nó ngừng hoạt động cho đỡ thèm ăn thì nó vẫn cứ co bóp, tay chân của ông khi gặp lửa, ông có cố không rút lại thì nó vẫn cứ thụt vào, ông mộng du, u a, ú ớ và bước đi mặc dầu khi tỉnh dậy ông chẳng bao giờ muốn thế (xin đừng hiểu theo kiểu mộng du xảy ra lúc ngủ, vậy mộng du cũng đồng nghĩa với giấc ngủ nốt!).

Chữ Vô Thức của người sáng tạo/tác ở đây cần được hiểu nó không phải là thứ hành động mang tính thực vật, bởi lẽ, dù sao thì thi sĩ cũng không phải là bác sĩ thần kinh, càng không phải là nhà phân tâm học, nên cách dùng chữ chuyên môn của họ có thể nhầm lẫn. Rất tiếc là ở đây ông chỉ nói chung chung, không nêu ra một ai từng tuyên bố sáng tác bằng vô thức. Kiểu chơi này đôi khi na ná “gắp lửa bỏ tay người” hoặc “ngậm máu phun người”. Nếu là tôi, tôi sẽ nói rằng họ viết theo lối Automatic, lối ‘vô thức mặc định’. Cụ thể, yếu tố mặc định này liên quan đến sự cộng hưởng của ba yếu tố Ý Thức, Vô Thức và Tiềm Thức thông qua hành bút tự nhiên, không cần đến sự can thiệp của lý trí về mặt vần điệu, cấu tứ, nhạc tính, họa tính, dung lượng từ trên câu và trường độ cảm xúc… Ở một góc độ khác của phân tâm học, lối viết Automatic là lối viết khai thác Siêu Thức triệt để (đương nhiên sự “triệt để” này lại phụ thuộc vào căn tính, tài năng của mỗi cá thể sáng tạo).

Cái cách ông đồng nhất giấc ngủ với vô thức để chứng minh những người sáng tác có ý hướng cách tân là bịp bợm là một kiểu nói ác ý, nếu không nói là hằn học với đồng nghiệp (sáng tác thơ, vì ông cũng là nhà thơ), và bịp bợm đối với bạn đọc.

Đây là gì nếu không gọi là bóp méo khái niệm?

Kiểu viết ‘phán rơm’

Đọc đoạn này của ông:

“Còn đây là thơ của Mai Văn Phân trích trong tập thơ «Bầu trời không mái che» (NXB Hội nhà văn 2010) ; xin trích một đoạn đầu trong bài siêu dài của nhà thơ được giải thưởng Hội nhà văn VN :

CỬA MẪU

(trích từ bài thơ dài )

Mẫu nâng niu con ánh trăng

Tiếng chuyền cành tiếng hú

Da thịt con yêu trải sâu đêm tối

Dựng tầng mây mưa nguồn

Cành cây la đà mặt nước

Một con chim vừa đậu

Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường

Xa mảnh vườn những đàn chim khác

Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước

Nhìn hương bầu trời mở đôi cánh

Ngọn cây vườn mỏ con chim

Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió

Tiếng hạt vỡ trong ngực

Bãi trống và quả xanh

Qua rừng sâu tán lá rậm rạp

....Có trích cả nghìn câu văn xuôi tẻ nhạt xuống dòng liên tù tì này mạo nhận là thơ của tập thơ được giải thưởng của Mai Văn Phấn, cũng tịnh không tìm thấy một câu thơ hay đích thực. Chúng tôi, với tài hèn sức mọn, xin lỗi, nếu cần phải ngoáy nhanh hơn chuột chạy, trong một ngày, chúng tôi có thể ngoáy tới cả chục tập thơ được giải na ná chất lượng như « Bầu trời không mái che » này. Xin ứng tác luôn trên máy vi tính để thi thố « tài năng » với Mai Văn Phấn bằng một thi pháp bông phèng của ông Phấn, như sau :

KHÉP LẠI

Em khép lại, khép lại thời cuộc

Cá nhảy trên guốc dép

Môi mắt em muộn phiền con rắn mối

Sông đùn lên tình anh xanh xanh

Con mèo hoang bay lên từ buồn buồn

Bướm đậu lên râu cá trê phi

Khép lại, khép lại mặt trời sám hối cũ

Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha

Có thiên lôi tình ái im phắc

Màu xanh đi trên đất chan chứa

Mở ra sự khép lại trinh nguyên...

(Hết thơ bắt chước Mai Văn Phấn)

Xin quý vị đọc tiếp đoạn cuối trường ca «NHỊP IX» của tập thơ Mai Văn Phấn viết rất kinh hãi như sau :

Những con sơn dương tràn xuống đồng bằng

Phía sau bụi tung, đá lở

Lao vun vút mũi tên

Dây cung bật lên phút chốc

Đây trời cỏ

Đại dương cỏ

Phơi phới lời sông hồ

Mũi tên xuôi gió về đích

Từng vạt cỏ bị bứt tỉa, đốn gục

Nghiền nát trong hàm răng sắc

Bầu trời vỡ tiếng gọi đàn khoái cảm đêm đen

Bước bước sơn dương

Mặt cỏ phun nhuệ khí trùm lấp

Phấn khích giờ tạo thiên lập địa

Mùa mới đợi chờ cỏ xanh cắt sát gốc

Những móng vuốt tì chân cỏ bật căng

Cỏ non kinh động

Càng chồi lên mở lại những chân trời »

(hết trích «thơ» Mai Văn Phấn)

Còn đây là «thơ» ứng tác viết liền của tác giả bài phê bình thơ này, mô phỏng thi pháp bông phèng Mai Văn Phấn :

MŨI TÊN EROS

Hắn chút chút rình rập vũ trụ

Hắn bắn ai là tình yêu tử thương

Mũi tên hắn ghê gớm hơn bom A bom H Bắc Triều Tiên

Hắn làm anh và em gục ngã ư ử

Ta rên xiết trong cơn động tình giãy chết

Em ơi em ơi đi đường nào cũng tiêu

Đi xuống địa ngục cũng gặp anh

Chết rồi hắn vẫn tìm hồn ta bắn tên

Chạy đi chạy đi như loài sơn dương trong thơ Mai Văn Phấn

Hắn be bé mà bay nhanh hơn tên lửa Tô-Ma-hốc

Nhưng không có hắn

Thế giới này buồn như con chuồn chuồn

Chúng ta hoan ca, tình ca, quỷ ca vì có hắn

Không ai rên xiết vì hạnh phúc

Nếu thế giới này thiếu hắn

Hắn là cỏ non, lúa mạch hay rượu nho ?

Không

Hắn là em và anh vừa hóa thân vào con rắn

Hắn là thần tình yêu, thấn chiến tranh của đôi lứa

Eros, em ơi, em ơi »

(hết thơ mô phỏng bút pháp tào lao của Mai Văn Phấn)

Nếu chê hai tập «Hoan ca» của Đỗ Doãn Phương và «Bầu trời không mái che» của Mai Văn Phấn vừa đoạt giải thưởng thơ Hội Nhà văn VN là hai tập thơ dở thì lời chê ấy lại hóa ra lời khen chúng. Vì hai tập văn xuôi tẻ nhạt năng xuống dòng, dễ dãi, tào lao, bông phèng kia có phải là thơ đâu...mà bảo nó là thơ dở ?...”.

(Trích: “Sao Hội nhà văn Việt Nam lại hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài?”).

Tôi xin phép phân tích ngắn để so sánh giữa “Cửa Mẫu” của Mai Văn Phấn và “Khép Lại” của ông để thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa hai thứ mà ông cho rằng nó giống nhau, ông có thể mô phỏng, làm cả ngàn bài…

Mẫu nâng niu con ánh trăng

Tiếng chuyền cành tiếng hú

Da thịt con yêu trải sâu đêm tối

Dựng tầng mây mưa nguồn

Mở đầu của đoạn thơ này là một phức cảm, đi từ ánh sáng đến âm thanh, nhục thể, và ý hướng Hình nhi thượng… Nhằm mô tả một thứ âm thanh, hình ảnh khác được khởi lên từ vô thức, tiềm thức thông qua sự chứng nghiệm, trải nghiệm của ý thức để rồi phác họa trên câu chữ, con chữ ở đây đóng vai trò minh họa, mô phỏng cho dòng chảy của phức cảm phía sau nó.

Cành cây la đà mặt nước

Một con chim vừa đậu

Tiếp theo là một nét chấm phá, được tách riêng thành một khổ (đương nhiên kĩ thuật tách khổ hoàn toàn dựa vào ý thức) nhằm mô phỏng một cái bóng khác của đời sống vừa mang mang chiêm bao vừa ngây ngây thực tại. Nó hiện hữu cũng đồng nghĩa với sự hiện hữu của người thơ.

Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường

Xa mảnh vườn những đàn chim khác

Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước

Nhìn hương bầu trời mở đôi cánh

Ngọn cây vườn mỏ con chim

Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió

Tiếng hạt vỡ trong ngực

Bãi trống và quả xanh

Qua rừng sâu tán lá rậm rạp

.... Đây là một lời giãi bày, một kiểu tự sự chông chênh giữa mộng và thực, giữa một thực thể phi ý thức này (Con) với một biểu tượng phi thời gian kia (Mẫu). Toàn bộ khổ thơ là một sự hàm ơn, nỗi hân hoan của một thực thể vừa trực nhận, vừa được quán chiếu vào sự sống thường hằng, vừa nhìn thấy ý nghĩa của đời sống cùng mối tương quan sinh tử của nó trong một khoảnh khắc dị biệt chỉ riêng người thơ nắm chớp.

Với bài “Khép Lại” của ông Hảo:

Em khép lại, khép lại thời cuộc

Cá nhảy trên guốc dép

Môi mắt em muộn phiền con rắn mối

Sông đùn lên tình anh xanh xanh

Khổ thơ mở đầu được viết trên một tâm thế hoàn toàn tỉnh táo, giọng thơ vừa tự sự vừa đẩy mình về một góc khác để phán xét đối tượng “em” mà có thể đối tượng đó cũng chính là người thơ. Những hình ảnh cá nhảy trên guốc dép, đôi mắt em muộn phiền con rắn mối và sông đùn lên tình anh xanh xanh vừa mang tính giễu nhại về một cuộc tình nào đó, vừa là một kiểu ghi chép cảm xúc, hoàn toàn không mang bóng dáng, hình hài của thực thể phi ý thức cũng như biểu tượng phi thời gian.

Bước chuyển sang khổ cuối, không tạo nhịp rớt bằng hai câu chấm phá như “Cửa Mẫu”:

Con mèo hoang bay lên từ buồn buồn

Bướm đậu lên râu cá trê phi

Khép lại, khép lại mặt trời sám hối cũ

Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha

Có thiên lôi tình ái im phắc

Màu xanh đi trên đất chan chứa

Mở ra sự khép lại trinh nguyên...

Từ hình ảnh “con mèo hoang bay lên từ buồn buồn”, “bướm đậu trên râu cá trê phi…”, “Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha”, “thiên lôi tình ái im phăng phắc”, cho đến “Mở ra sự khép lại trinh nguyên…” Là một kiểu chơi chữ dựa hoàn toàn vào sự can thiệp và phân bổ hình ảnh, cảm xúc của lý trí. Toàn bài thơ mở ra một sự trống rỗng của ái tình đánh mất và những cảm nhận, hờn trách, tiếc nuối, đau khổ (đến độ điên điên) của người thơ. Nó viết thì như điên như dại, nhưng càng đọc, càng cảm càng thấy nó rất tỉnh và hơi luận đề tình yêu, hơi vô duyên.

Ở đoạn trích trường ca NHỊP IX của Mai Văn Phấn, đem so sánh với MŨI TÊN EROS của ông, cũng chẳng có điểm nào giống nhau hoặc na ná nhau từ cấu trúc cho đến cú pháp, ngữ nghĩa, ý niệm, tâm thế sáng tạo… Vậy tôi không hiểu cái chữ “mô phỏng” hoặc “bắt chước” ở đây ông dùng theo nghĩa gì?

Và, nếu thật sự ông cho rằng giữa mấy bài thơ của ông và mấy khổ thơ của Mai Văn Phấn, Đỗ Doãn Phương… là một sự mô phỏng hay sự bắt chước để thông qua đó giễu nhại họ thì ông hoàn toàn có lý của ông. Vì đó là cái lý của người không biết, mà không có ai trách người không biết cả. Trách nhiệm của người thấy/biết là chỉ cho người chưa thấy/biết cái mình đã sở đắc nhằm tránh tình trạng ‘phán rơm’ như ông đang gặp phải.

Vài lời cùng ông trong một bài viết ngắn, ý rời, nói chưa hết, xin hẹn gặp ông ở bài tới tôi sẽ phân tích kĩ hơn cái khái niệm ‘phán rơm’ mà tôi đã ghép cho ông. Xin chúc ông sức khoẻ, vui vẻ!

Quảng Nam, 19/6/2012

L.T


Từ  trannhuong.com)

Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Sáng ngày 21/8/2017 tại hội trường Chùa Phổ Chiếu số 218 đường Miếu Hai Xã,...
Hình ảnh
Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng vừa tổ chức thành công Trại sáng tác VHNT về...
Hình ảnh
Nhà thơ Trần Quốc Minh vừa ra đi ở tuổi 75. Nhưng bản lĩnh, nghị lực và ý...
Hình ảnh
Đón Mùa Vu Lan; mời các bạn xem phim "Bài hát: Lòng Mẹ" trên vanhaiphong.com.  ...
Hình ảnh
Cầu Bính cong cong vươn cánh én Thủy Nguyên nhấp nháy gọi đò sông Thuyền ai...
Hình ảnh
Tôi nhớ rất rõ khi đó cô Hồng mới sinh cháu Nguyễn Đức Thiện (nay đã là ...
Hình ảnh
Trang là người bé nhỏ, gầy gò nhất dễ làm việc này hơn: Nó cầm dao và leo....
Hình ảnh
Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Hải Phòng và gia đình vô...
Hình ảnh
Tiếng kêu la: “Roma đang tận số!” không rời khỏi miệng đám đông, mà sự ...
Hình ảnh
Nguyễn Tùng Linh là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ. Ông tự khẳng định mình...
Hình ảnh
Ở một làng quê nọ ngấp nghé bên bờ sông Hồng. Vào những năm 1962, 1963. Có...
Hình ảnh
Tôi đề nghị Quốc hội phải đưa vào chương trình nghị sự nghiên cứu ban ...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4600
mod_vvisit_counterHôm qua3400
mod_vvisit_counterTất cả8107495
Hiện có 310 khách Trực tuyến