Chuyện tình người điên kì 47– Tiểu thuyết của Nguyễn Hiếu

Chương bảy

Đêm hôm sau vua Biđa lại cùng tướng Quýt lặng lẽ ròi cung vua. Tướng Quýt một mặt thích thú vì được vua tin cậy, một mặt luyến tiếc hoi ấm ngưòi đàn bà đang bước vào tuổi sung mãn. Nàng rạo rực đến lạ lùng và làm cho tướng Quýt chao đảo mỗi khi được ôm ấp nàng. Nàng là ai? Để tránh cho bạn đọc sốt ruột vì cặp ngựa của vua tôi Biđa đã phóng như bay trên đường, hon nữa để cho chắc chắn hon, tên tuổi người đàn bà này chúng tôi còn tra cứu lại di cảo viết trên những tấm da đã ngả màu của sử gia Li Đa không có lẽ lại là. Thôi, lại nói đến vua Biđa và tướng Quýt, sở dĩ hôm nay hai ngưòi đi ngựa vì theo ý của vua Biđa cuộc vi hành sẽ ra khỏi kinh thành đến những vùng quê lân cận. Vua Biđa muốn cưõi ngựa vì ngài muốn thử lại sức khoẻ của mình ra sao, và chính vó ngựa làm ngài sống lại thòi oanh liệt thuở xưa. Ngài còn hy vọng những cái xóc liên tục trên mình ngựa và lần gió rít bên tai làm ngài quên hết nỗi ưu phiền nặng nề gặm nhấm từ đêm qua đến giờ. Khi lưng ngựa đã ướt đầm mồ hôi thì vua tôi rẽ vào một con đường nhỏ. Cặp mắt tình tường của tướng Quýt nhận ra con đường chạy giữa cánh

 

đồng. ‘Tháng này, lúa chớm lên đòng”. Vua sực nhớ lại, dừng cương căng mũi hít, ngài muốn bắt gặp mùi thom quen thuộc từ dạo nhỏ mà đã xa vắng lâu rồi noi thâm cung. Ngài cố hít mãi, nhưng chỉ có mùi đất ẩm ướt, thoáng vị tanh xộc lên. Ngài nhảy xuống ngựa, đưa tay sờ xuống mặt ruộng. Ngài giật mình khi nhận ra ruộng đầy cỏ dại. Vua thờ thẫn căng mắt dõi theo xa thì thấy tất cả đều một màu như thế. Vua thở dài nghĩ thế nào lại thôi. Ngài nhảy lên ngựa, giơ roi quất mạnh. Trí nhớ của ngài nhắc rằng, chỗ này ngày xưa, hồi mang quân tiến vào thành, ruộng đầy ắp lúa, những giống lúa mà khi thổi com, đầu thôn cuối thôn ngửi thấy mùi thom. Sao thế nhỉ? Vua Biđa ra roi liên tục làm tướng Quýt ngạc nhiên không đoán nổi ý vua. Đang chạy, vua nhận ra quầng sáng của ánh đèn tỏa ra hiệu tướng Quýt rẽ vào. Tiếng chó sủa ran khi thấy hai con ngựa dừng lại trước cửa nhà. Một gã nông phu to ngang cầm gậy, xách đèn chạy ra, thấy hai ngưòi gã cúi rạp xuống cung kính:

  • Ông chủ chúng tôi kính mòi quý khách quá bộ vào trong nhà.

Vua Biđa và tướng Quýt đưa dây cương cho gã nông phu, rồi cả hai đi vào. Đôi mắt già của vua nheo lại vì ánh đèn cùng ánh đuốc sáng chói. Khi đã quen với ánh sáng – vua nhận thấy hàng chục hàng trăm mâm cỗ bầy la liệt, cùng hàng trăm thực khách đang ngả nghiêng ăn uống. Từ đâu đó, một quan nhân mặt choắt, tai bẹp, lung thụng bộ triều phục màu lam lệt xệt đi ra. Khi đến gần vua, quan nhân dừng lại, đôi mặt trố giương ra, mồm ông ta liến láu.

  • May quá, may quá, thật là phúc đức cho nhà bỉ nhân, hai vị thật là hiếm hoi, rẽ vào tệ xá, chứ không như lũ ăn mày, chúng đến đông quá, phải cho đánh chết gần chục đứa lũ nó mới sợ. Mời hai ngài, mời hai ngài, ở đâu người sang trọng, cao quý cũng tìm thấy nhau.
  • Thưa chủ nhân, ngài có thể cho hai chúng tôi biết đây là đâu?
  • Vua Biđa cất lòi hỏi sau khi cầm chén trà thom phức theo lòi mời của chủ nhân.
  • Trình hai ngài đây là làng Phương Phi – tổng Tư Tha.
  • A, tổng Tư Tha. Tôi nhận ra rồi, phải rồi, noi đây gạo rất ngon. Chẳng hay vì sao đồng ruộng chốn này lại không trồng lúa nữa.
  • 0, thưa hai ngài, chắc hai ngài ở xa đến, hoặc chí ít hai ngài là ngưòi ở kinh thành tráng lệ về nên hai ngài mói không biết. Bây giờ lũ dân đen chúng lưòi nhác lắm, lúa không trồng, mía cũng không trồng, bông đay hoa trái cũng thế, chúng bỏ ăn xin, bỏ ra kinh thành buôn bán lừa đảo.
  • Sao lại thế? – Vua Biđa suýt nữa quên mình đang cải trang.
  • Có gì đâu, do chúng lưòi, muốn làm ít ăn nhiều nên chúng đổ cho là sưu cao, thuế nặng, quan nhũng quân nhiễu. Có phải đâu. Kỳ này, bỉ nhân lên nhậm chức sẽ níu đầu chúng lại.
  • Ngài lên quan?
  • Vâng. Lên quan tốn lắm, hai mưoi cân vàng cho khâm sai, ba mưoi cân vàng cho quan bộ binh, còn ăn uống, biếu xén.
  • Ngài nhiều vàng thế sao ngài không dùng để buôn bán?
  • Ầy, mời hai ngài dùng chén rượu nhạt với bỉ nhân, để bỉ nhân xin phép được đưa chén. Vâng, vàng bạc của cải thì do thân phụ mẫu bỉ nhân để lại, cũng do bỉ nhân là con một, hồi nhỏ được nuông chiều, ham choi, học hành, chữ nghĩa có ra sao nên buôn chẳng biết bán thì không, đợi tuyển làm quan theo tài cán tu luyện thì ngay làm một thằng lính lệ bỉ nhân cũng khó lắm, chữ đâu. Nhưng cứ để vàng mà ăn mãi cũng hết. May sao, kế mẫu của bỉ nhân có họ với quan huyện, quan huyện lại là đồ đệ của quan phủ chốn kinh thành, vị này lại anh em thúc bá với quan khâm sai. Các vị đều dạy “chẳng có gì chóng giàu, chóng lợi bằng làm quan, muốn làm quan thì phải bỏ vốn”, cũng may nhà bỉ nhân có chút ít. Xong rồi, xong thật rồi. Lên quan kỳ này, chắc chỉ độ một năm sau bỉ nhân sẽ hòa vốn và sinh lợi thôi.

Vua Biđa càng nghe chủ nhà nói, nét mặt càng ủ dột. Tướng Quýt sợ vua không nén chịu được, liền đưa cho vua xiên chim rẽ nướng. Vua hiểu ý, cầm lấy, xé ra, vừa ăn vừa khen:

  • Ngon quá, à này, ngài có thể cho tôi biết làm cách nào mà chóng bù lại vốn thế.

Chủ nhân quay mặt lại, lấy tay che vành tai hỏi lại một lần nữa, rồi cười ha hả bảo:

  • 0 thưa ngài, dân như cái giẻ tướt, để tự nhiên thì nước chỉ rỏ giọt, vì thế muốn nước nhiều phải vắt, phải bóp thật khỏe.
  • Ngài thật là tài.
  • Không dám, ngài quá khen. Làm quan nhiều cái lợi lắm, quan càng to lợi càng nhiều, lợi ở chỗ dân cung phụng. Dĩ nhiên mình cũng phải biết cách nặn dân, nếu cứ đợi dân mang đến thì cũng khô miệng, lợi ở chỗ mình có quyền làm được nhiều việc mà thằng dân không dám làm, mình lại có các mối bang giao, cái này cũng sinh nhiều lãi lắm.

Vua Biđa muốn chủ nhân càng vui chuyện, ngài móc trong túi ra một viên ngọc, đặt lên chiếc mũ đưa cho chủ nhân:

  • Gọi là có chút quà mọn.

Viên tân quan mặt choắt ngạc nhiên, bộ điệu rối rít, cung kính.

  • Trời ơi, hai ngài, thật không biết số bỉ nhân thế nào mà diễm phúc làm vậy – Chủ nhân đưa cả hai tay có những ngón tay ngắn trùng trục vồ lấy viên ngọc rồi quay vào phía trong gọi to:
  • Thằng La đâu?

-Dạ.

  • Cho bọn cử nhân làm gấp bài thơ ca tụng hai vị khách quý của ta nhé. Khách ngọc đấy.

-Dạ!

Sau tiếng “dạ”, chừng uống được nửa đấu rượu thì một người mặt vuông chữ điền, áo khăn mượt mà thẳng nếp mặc dù vạt áo đã hoi sờn ra trước bàn tiệc đang đãi đằng vua Biđa đứng im chờ đợi.

  • Xong chưa? – Chủ nhân cau mày hỏi.
  • Thưa xong.
  • Đọc nghe. Khách ngọc đấy, nhớ chưa? – Chủ nhân giơ tay bảo người đứng trước bàn sửa soạn, ông ta quay sang phía vua Biđa khoe:
  • Bỉ nhân có học hành gì đâu, nhưng cần có thơ, có nhạc, cần nghe xướng ca, có ngay, muốn bài gì, loại gì cũng được. Có tiền là mua được hết.
  • Ngài dạy chí phải – Vua Biđa ái ngại nhìn người cầm bản thơ đang đứng chờ.
  • Đọc đi!

Gã cử nhân hắng giọng chuẩn bị đọc, chủ nhân lấy chiếc đũa ngà gõ vào mâm nhắc mọi người trong nhà im lặng. Giọng đọc thơ to dần, thoáng nghe thì vui, nghe kỹ thì như có vị mặn của nước mắt chảy vào trong:

«Khách ngọc giữa khuya đến điền trang Nhu cơn gió mát mừng tân quan Phúc lộc, an khang lời châu báu Rượu nồng uống cạn đợi trăng tan”.

  • Hay, hay lắm, này thưởng.

Viên tân quan đưa cốc rượu uống dở cho thi nhân. Ông này cúi đầu, đưa tay đón. Vua Biđa nhìn dáng tội nghiệp của nhà thơ hỏi chủ nhân.

  • Chắc viên cử nhân này nhà nghèo.
  • Vâng, làm thơ ca thì gì mà không nghèo. Mơ màng vớ vẩn. Lũ này còn khôn, chứ ở tổng Bi La bên kia, thi sĩ như hắn chẳng còn ai. Mà bên ấy cũng chẳng có ai sinh phúc như bỉ nhân, nên chết đói khối. Thôi vào đi, nhớ ăn no để thức đợi khách, chờ lệnh ta nghe.

Chủ nhà xua những ngón tay ngắn cũn hất nhà thơ vào. Đợi viên cử nhân đi khuất, vua Biđa cũng đứng dậy từ giã chủ nhân. Tân quan nháy mắt cho lũ gia nhân, rồi đưa khách ra cổng. Vua tôi nhảy lên ngựa, phóng thật nhanh cho kịp về triều trước khi trời sáng. Không ngờ mới rời khỏi nhà viên tân quan chưa bao lâu thì từ hai bờ ruộng, một lũ người gậy gộc giáo mác xông lên, miệng gầm thét.

  • Để hết vàng bạc, châu báu lại, sẽ tha mạng, bằng không…

Tướng Quýt và vua Biđa vung gươm. Lũ chúng làm sao địch được hai người nên chỉ một loáng sau, bọn ăn cướp đã bị sứt đầu, mẻ trán nằm rạp trên mặt đường kêu la đau đớn. Vua Biđa hét to một tiếng rồi vỗ ngựa phóng đi, tướng Quýt nghe tiếng vua, phi nhanh lên gặng hỏi:

  • Tâu bệ hạ, chúng có phạm vào mình rồng ạ?
  • Không!
  • Thần nghe tiếng kêu của bệ hạ.
  • Không. Ta kêu “Ôi, xứ sở đau buồn của ta”.

N.H

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder