Phía ngoài cổng – Truyện dài cho thiếu nhi của Ngọc Châu

Chương10:

Mẹ và Bố

 

Thật là buồn khi đứa bé chỉ có mẹ mà không có bố. Nhưng do đâu mà có nỗi buồn ấy,  em làm sao hiểu đuợc.

Lúc hiểm nguy

Em mới hiểu

Mẹ và cha

Anh với em

Không thể thiếu…

Lúc hiểm nguy

Em càng hiểu

Bạn là gì

Đối với em

Không thể thiếu…

Hoan chưa bao giờ được biết mặt bố nó. Đúng ra thì trong giấc mơ các bà Mụ nên nhắc cho thằng bé biết rằng có lần nó đã nhìn thấy, nhưng không biết đó là bố. Mẹ chỉ bảo bố bị mất tích trong chiến tranh, chẳng bao giờ kể gì về bố cả. Không có bố thật là buồn, nó rất tủi thân khi thấy thằng Thăng và những đứa khác có cả bố cả mẹ. Từ ngày cu Hoan đi học thì hai mẹ con vẫn sống bằng nghề xay bột làm bánh rán. Mẹ nó đem bánh đi bán suốt cả buổi sáng, buổi chiều lại hì hục ngâm gạo, xay bột. Luật quật cả ngày. Thằng bé đâu biết rằng mẹ mình đã học qua truờng Cao đẳng Sư phạm, từng là một cô giáo dạy Văn rất có năng khiếu, nhưng vì bố nó đào ngũ nên mẹ nó mới không được trường nào nhận vào dạy học.

Tuy có tỵ với thằng Thăng về chuyện bố mẹ nó là cán bộ nhà nước nhưng quanh đấy cũng có khối người là kỹ sư, là giáo viên và sỹ quan quân đội,  cả đại uý với thiếu tá nữa, mà chẳng đủ tiền để làm nhà, nuôi con. Vậy nên cu Hoan chẳng bao giờ có câu hỏi trong đầu rằng “sao mẹ mình lại chỉ là bà bán bánh rán ?” Nó đuợc đi học, không phải nợ tiền học phí hay tiền đóng góp quỹ gì đấy như một số đứa khác trong lớp. Đáng ra Hoan cũng học ngang lớp với bạn Thăng của nó, nhưng hồi đầu có những trục trặc gì đấy khiến mẹ nó không xin đuợc cho con đi học. Vậy nên nó đi học muộn, bây giờ vẫn kém thằng Thăng một lớp. Thỉnh thoảng mẹ Hoan cũng cho con tiền ăn quà, mua cho chiếc áo mới hay cuốn truyện mà nó mơ ước. Thế thì mẹ nó cứ bán bánh rán cũng đuợc. – Thằng bé nghĩ như thế, có thể vì nó chưa có mong mỏi gì lớn lao.

Bạn Mèn của Trũi có trí nhớ tốt, nhưng ý nghĩ trong đầu thì cứ nhảy từ chuyện này sang chuyện nọ, như con chim chích liên tục chuyền cành để tìm sâu. Trũi ít suy nghĩ hơn, nhưng những gì đã để ý cứ đeo đẳng trong đầu, khó mà quên được. Từ buổi tối thứ hai ở cùng nhóm Bạch Dương nó cứ nhớ việc những đứa bạn mới đòi phải có quà khi quay về. Giá Bắc Cạn có bờ biển như bãi tắm Đồ Sơn thì chỉ việc nhặt thật nhiều các con ốc mượn hồn về cho mỗi đứa một vài con thì bọn chúng cũng thích mê tơi, nhưng ở đây không có bãi biển, ven suối chỉ có những tảng đá nhẵn thín, to quá không thể mang về được.

Từ trưa hôm ấy trời có sấm động ầm ì nhưng không thấy mưa. Trong khi mấy người nhớn còn đang mải công việc của họ, hai đứa trẻ rủ nhau ra chơi ở ven con suối gần ngôi nhà sàn. Truớc mặt hai đứa là đoạn suối cạn, khá rộng vì dòng suối sắp đổ vào hồ lớn mặc dù cũng còn cách đấy khá xa nên hai đứa chưa được nhìn thấy hồ. Bên kia dòng nuớc nhỏ có một khu rừng rậm rạp, bị dòng suối bao quanh trông như hòn đảo hoặc bán đảo xanh, ven theo bờ suối có những bụi cây gì đầy những chùm quả màu đỏ sẫm rất là đẹp mắt. Nếu có dịp ở lâu hơn chắc rồi hai đứa sẽ biết đó cũng là một loại thảo dược tên là “cam thảo dây”. Rễ, dây và lá của thảo dược này có vị ngọt cam thảo, dùng ở dạng thuốc sắc có thể chữa ho, giải cảm. Hạt thì độc nên chỉ dùng ngoài da để sát trùng, làm nhọt chóng vỡ mủ.

Lúc này hai đứa bé chỉ để ý thấy loáng thoáng những cụm hoa hồng hồng, mọc từng chùm nhỏ ở kẽ lá hay đầu cành, nhưng có rất nhiều quả như quả đỗ ván màu đỏ.

– A, cây chu chi kìa, nhiều quá Mèn ơi! Chúng mình sang hái rồi tách lấy hạt xâu thành chuỗi, khi về cho bọn Bạch Dương mỗi đứa một chuỗi. Đi, nhanh lên Mèn ơi! – Trũi hối hả giục bạn vì có lần về Kiến Thuỵ nó đã biết hạt chu chi này tròn xoe, cứng, có màu đỏ tuơi, rốn lại đen bóng, trông đẹp lắm.

Hai đứa chạy băng con suối cạn tới sát mép nước. Trông thế nhưng lòng suối chỗ đó cũng rộng đến bốn năm mét, có một chiếc thuyền gỗ  buộc đầu dây vào một mỏm của tảng đá lớn phía bờ bên này.

– Cởi dây ra Mèn ơi! – Trũi giục bạn – chỉ đẩy một cái là thuyền sang bờ kia ngay thôi mày ạ.

– Không cần đẩy thuyền sang đâu. Nếu nó trôi đi thì sao. Để tao giữ một đầu dây ở bên này, mày leo qua thuyền sang đầu kia, nhảy một cú là lên bờ ngay đấy mà. Nhiều thế kia chỉ cần vơ một ít là thừa đủ mày ạ!

Trũi thoăn thoắt leo lên thuyền, chạy sang đầu kia và quả nhiên chỉ một cú nhảy nó đã khoa tay kêu “hu ra” trên bờ sỏi đối diện, rồi chạy thoăn thoắt về phía bụi cây chu chi. Nhưng ngay lúc đó có tiếng gì lục cục, lạch cạch khiến Mèn hốt hoảng. Nó quay đầu và thấy một khối nước chảy, đá lăn xuất hiện từ sau khúc ngoặt. Nước từ phía nguồn đang cuốn đá, cuốn cành cây ào ào tiến về chỗ nó đang đứng và dâng lên nhanh khủng khiếp. Mèn chỉ kịp gào lên “Trũi ơi!” thì dòng lũ đã xô vào con thuyền, khiến nó phải buông sợi dây nhảy giật lùi mới không bị cuốn đi theo.

Thì ra đã có mưa ở thượng nguồn từ lâu, chỉ chưa mưa đến chỗ đó nhưng lũ thì đã tới, tới rất nhanh. Làm sao bọn trẻ có thể biết đuợc điều ấy. Nhảy phắt lên bệ đá, Mèn kinh hoàng nhìn sang bên kia thấy nước cũng đang dâng cao, đã liếm vào chân các bụi cây. Nghe Mèn gọi, đầu tiên Trũi định chạy trở về, nhưng thấy con thuyền bị xô đi băng băng còn nước thì dâng lên, nó cũng khôn ngoan vội vàng  chui qua khóm cây len lên chỗ cao, mất hút sau các bụi rậm.  Mèn không nhìn thấy bạn mình đâu nữa, chắc rằng nó đang cố sống cố chết tìm chỗ nào cao để leo lên, tránh mức nước bám đuổi theo chân. Trong khi ấy  nước càng lúc càng dồn về, rồi  Mèn thấy một con  thỏ, tiếp theo là một con rắn ngoi ngóp giữa dòng nước lũ.

Ba chân bốn cẳng, Mèn chạy ngược về phía ngôi nhà sàn.

– Ông Nam ơi, chú Xân ơi! Nuớc, nuớc, cứu thằng Hoan! Cứu thằng Hoan! – nó gào lên đến khản giọng.

Một người đàn ông chạy ra từ phía con đường mòn. Đó chính là người Mán, sáng hôm nay cùng đi hái thuốc với chị em bà lang, chủ ngôi nhà sàn mà ông Nam và ông Si-li-tau đang ngồi trên đó. Người này hốt hoảng hỏi Mèn:

– Thằng Hoan đâu? Nó đâu?

Nghẹn cả họng nên Mèn giơ tay chỉ sang hòn đảo ngập nước, mãi mới nói được.

– Bên… bên kia. Nó sang hái quả chu chi.

Người Mán không nói một lời. Ông ta chạy băng tới chỗ tảng đá lớn đã bị nuớc bao quanh, rồi lao thẳng xuống dòng nuớc chảy xiết, bơi sang hòn đảo. Mèn kinh hoàng đứng nhìn ông ta vật lộn với dòng nuớc lũ, bị cuốn đi, cuốn đi nhưng mỗi lúc một gần vào bờ mép bên kia. Thằng bé chắp hai tay lại, muốn cầu xin một bà Tiên hay ông Phật nào đó giúp đỡ, nhưng nó không thể nhớ ra là nên cầu bà Tiên hay đức Phật nào, cũng không biết nên cầu điều gì ngay bây giờ. Chợt nó  không nhìn thấy người đang vật vã dưới dòng nước nữa, không biết ông ấy đã bị chìm hay khuất sau những chòm lá xanh còn nhô lên trên mặt dòng nuớc lũ hung dữ.

Mèn khóc tức tưởi khi những người lớn chạy ra từ trong ngôi nhà sàn.

– Nước không lên đến đây được đâu – Chú Xân nói ngay – ở đây đã gần hồ lớn nên nước không dâng lên cao như chỗ khác đâu. Nhưng thằng Hoan đâu rồi, Hoan ơi! Hoan đâu rồi hở cháu?

Chú lái xe quay sang hỏi thằng bé đang khóc. Cả ông Nam và ông Si-li-tau cũng cuống quít lên.

– Nó ở bên kia, sang hái quả chu chi…Nước ở đâu bỗng dưng chảy đến… nó chui qua bụi để leo lên cao… rồi cháu không nhìn thấy nó đâu nữa…

Tất cả xô ra bờ con suối cạn, lúc này đã thành một dòng sông cuồn cuộn chảy, bất lực nhìn sang bờ bên kia.

– Lúc nãy ông Mán sáng ngày đã nhảy từ hòn đá xuống nuớc rồi bơi sang, nhưng trôi đến chỗ kia thì cháu không trông thấy ông ấy nữa. – Mèn vẫn đang khóc, không chỉ vì ông Mán có thể bị chết đuối rồi, mà kinh hoàng vì Trũi của nó lúc này không biết ra sao.

Những người đàn bà Mán nói gì đó rồi chú Xân bảo: – Có thể ông Pình không việc gì đâu, ông ấy bơi giỏi lắm. Người Dao ở núi không biết bơi nhưng ông Pình không phải người Dao. Ông ấy ở dưới xuôi, kết bạn với một người Dao lúc cùng đánh thằng Mỹ, cùng bị bệnh rồi về đây chữa bệnh. Bây giờ bệnh khỏi rồi đấy. Ông ấy không chết dưới nước được đâu. Giàng chưa muốn ông ấy chết đâu..

– Có cách gì sang được bên đảo bây giờ không? – Ông Nam hỏi.

– Không có cách gì. Mùa mưa, lũ đã về thì phải đợi vài ngày. Nếu trên nguồn trời không mưa nữa mới có thể dùng thuyền sang bên đó đuợc, trời tiếp tục mưa thì cứ phải đợi thôi à…

– Phía bên kia đảo có đường thông đi đâu không, có tới đuợc làng bản nào không? – Đó là câu hỏi của Ông Si-li-tau, sau đó là lời dịch của ông Nam.

– Không có đuờng. Chỗ xanh xanh tận cùng kia có vách đá, có hang cụt không ai vượt qua đuợc đâu.

Mặc người nhớn muốn nói gì thì nói, lúc này Mèn chỉ ngóng mắt nhìn sang phía chỏm xanh trên hòn đảo đã trở nên bé nhỏ và xa vời vợi. Nó chỉ mong nhìn thấy bàn tay của thằng Trũi đưa lên vẫy vẫy, hoặc bàn tay của ông người… ông Pình ấy cũng được. Tuy nhiên từ phía bên đó không hề có động tĩnh gì. Thằng bé chợt nghĩ nếu có con hổ hay có con rắn cắn Trũi của nó chết rồi thì sao? Chính là tại nó đầu têu rủ rê. Chính nó đã hối thúc thằng Trũi làm việc này việc nọ…

Mèn bỗng dưng oà khóc, khóc to, tức tưởi.

– Ông Nam ơi, ông Si-li-tau! Chúng cháu nói dối các ông đấy. Chúng cháu trốn nhà đi chơi. Bố mẹ cháu và mẹ nó không cho đứa nào đi đâu. Ông hôm nọ không phải chú của cháu và thằng Hoan đâu. Thằng ‘Chôm chỉa”. . thằng Dương. Chúng…chúng cháu… – Nó cứ khóc nức nở, không thể nói tiếp được nữa.

Người lớn bao giờ cũng bình tĩnh, người lớn không hay hốt hoảng. Cái gì phải làm và làm đuợc thì người ta làm ngay, cái gì không còn cách nào giải quyết thì phải chờ đợi. Ông Nam và ông Si-li-tau dẫn thằng bé đang khóc sướt mướt về ngôi nhà sàn, đợi cho nó bình tĩnh lại rồi mới hỏi han và dần dần hai ông biết hết mọi chuyện. Lúc đó trời cũng bắt đầu mưa nặng hạt, những hạt mưa to và nặng làm rách cả những tàu lá chuối và bẻ oằn cành cây mỗi khi gió giật.

Không thể dùng điện thoại di động của ông Tây vì ngày đó rất ít nơi đuợc phủ sóng. Cả đoàn phải quay ra thị trấn mới gọi đuợc điện về Hải Phòng, phải hỏi người này người nọ mãi mới liên lạc đuợc đến số điện của cơ quan bố thằng Thăng. Rồi họ lại quay ngay về ngôi nhà sàn để xem thử có cách nào trợ giúp thằng bé đã sang bên đảo và người đàn ông tên là Pình hay không.

Phải đến tối mịt ngày hôm sau ông Nam và chú Xân mới đón đuợc bố Thăng, anh Thiên nó và mẹ thằng Hoan từ thị trấn về đến ngôi nhà sàn. Bố nó không mang theo cây roi mây nhưng cu Thăng không vì vậy mà thấy mừng. Giá bố nó cứ đét cho nó hai roi, không, kể cả mười roi cũng đuợc mà thằng Hoan có thể trở về với nó thì nó chịu ngay, không cần phải xin thuốc cao “Sơn Đông” của anh Thiên để bôi truớc vào mông đít. Ngay anh Thiên của nó trông cũng không đáng ghét như mọi khi nó vẫn nghĩ.

Bố nó, ông “Bói Cá” như có lúc nó đã trộm vía gọi như vậy, chỉ ôm lấy nó, nức lên một tiếng mà không nói gì, còn bà mẹ thằng Hoan thì khóc ròng. Bà không hỏi đủ mọi chuyện như ông hàng xóm, mà nhờ anh Xân làm phiên dịch để hỏi kỹ hai bà lang người Dao về việc trên đảo có thú dữ không, có rắn độc không, hỏi về người đàn ông tên là Pình nhà ở đâu. Bà muốn đến nhà ông ta nhưng hai người đàn bà Mán cho biết ông ấy không có gia đình, không làm nhà riêng, ở chung với người bạn cùng trở về từ chiến truờng, lúc đó trông như người hủi…

– Khi bị lụt thì rắn không tự dưng cắn người đâu. Hổ báo ít khi thấy có  ở bên ấy. Còn ông Pình bây giờ khỏi rồi – Anh Xân dịch lời của một người đàn bà Mán – Vài năm nay thi thoảng ông ấy có đi theo các bà lang này xuống bán thuốc duới Hải Phòng. Có lần ông ấy nói có người nhà, hình như có vợ con dưới đó nhưng không hiểu sao không ghé qua nhà ấy bao giờ.

Mẹ thằng Hoan nấc lên một tiếng rồi thốt ra “Có phải là anh không, anh Bằng! Sao anh lại thế? Hoan ơi! Con đâu rồi?!… rồi chỉ lau nước mắt mà không hỏi gì thêm nữa.

Em chẳng biết gì

Về ngày xưa ấy

Lẫm chẫm biết đi

Bố đâu không thấy

Em và mẹ thôi

Đút cơm, bắt chấy

Nuôi con lần hồi

Lớn bằng từng ấy…

N.C

Bài viết khác