Shogun Tướng quân – Tiểu thuyết của James Clavel- Kì 114

Ngừoi dịch: Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng

CHƯƠNG 48

~”Bọn rợ sống ở đây, Anjin-san.” Người Samurai tiến lên phía trước.

Blackthorne đảo mắt nhìn vào bóng đêm một cách khó khăn, không khí hầm hập, khó thở.”Ở đâu? Nhà kia à? Đây ư?”
“Vâng. Đúng đấy, xin lỗi. Ông có trông thấy không?”

Một số nhà cửa lụp xụp và xóm ngõ cách con đường trơ trụi và lầy lội khoảng một trăm bước. Một ngôi nhà lớn nhô lên khỏi xóm vạch một đường viền mờ mờ trên nền trời đen kịt.

Blackthorne nhìn quanh một lúc cho quen mắt, dùng quạt xua đuổi những con vật hút máu đang bu đầy xung quanh. Vừa mới đây thôi, khi qua khỏi cái cầu thứ nhất anh như bị rơi vào một mê cung.

Con đường mà người ta dẫn anh vượt qua số đường phố và lối ngõ, lúc đầu thì hướng ra bãi biển rồi vòng về phía Đông, bước qua những cầu cao, cầu thấp, rồi lại hướng về phía Bắc dọc theo một dòng suối khác chảy quanh co ra tới vừng ngoại thành, nơi đất đai thấp và ẩm ướt. Càng xa khỏi lâu đài, đường đi càng nhỏ dần, nhà cửa càng nghèo nàn dần. Dân ở đây càng khúm núm hơn và rất hiếm có những ánh sáng le lói qua các shoji. Đối với anh, dường như Yedo được tạo nên bằng những khối rải rác các chòm xóm bị chia cắt bởi những con đường và những dòng suối.

Ở đây, về phía đông Nam thành phố hoàn toàn lầy lội và con đường thì ngập ngụa bùn hôi thối. Đôi lúc một mùi hôi thối bốc lên sặc sụa gồm những khí độc từ rong biển, từ phân bã, từ bùn tanh và rõ hơn cả là một vị chát dịu mà anh không đoán ra là gì, tuy cảm thấy rất quen thuộc.

“Tanh tưởi như ở Billingsgate vào lúc triều xuống”, anh lẩm bẩm, trong khi lại giết thêm một con bọ đêm bò lên má anh. Toàn thân anh đẫm mồ hôi.

Thế rồi anh bỗng nghe thấy một giọng yếu ớt hát lên khúc ca về biển bằng tiếng Holland, anh quên hết ngay mọi nỗi khó chịu.

“Cậu Vinck đó chăng?”

Mừng quá, anh vội vã bước về phía tiếng động, những người phu cẩn thận soi đường, Samurai bước theo sau.

Bây giờ đã tới gần hơn, anh thấy ngôi nhà một tầng nửa giống kiểu Nhật, nửa giống kiểu u. Ngôi nhà được dựng lên bằng cột, xung quanh có hàng rào tre cao bao bọc và trông mới hơn so với các cụm nhà gần đó. Không có cổng, chỉ có một lỗ chui qua hàng rào. Mái nhà lợp rơm, cửa trước chắc chắn, tường ghép ván thô, và cửa sổ có những cánh chớp kiểu Holland. Đây đó le lói những vệt ánh sáng qua các khe hở. Tiếng hát và tiếng đùa cợt lại nổi lên nhưng anh chưa nhận ra được giọng của ai. Đường rải đá dẫn thẳng tới thềm nhà qua một thửa vườn bẩn thỉu. Một cán cờ ngắn buộc vào cổng. Anh dừng lại nhìn trân trân vào đó. Một mảnh vải bạc màu làm thành lá cờ Holland treo hờ hững làm cho nhịp mạch trong người anh đập dồn dập.

Cánh cửa trước mở ngỏ. Một vệt ánh sáng ngả xuống thềm. Baccus Van Nekk say ngả nghiêng đi vấp váp ra bờ thềm, mắt nhắm mắt mở, vạch khố ra, tè vóng lên thành một vòng cung cao.

“Aaaaa”, anh ta rên lên vì khoái cảm.

“Không gì khoái bằng tè.”

“Thế à?” , Blackthorne nói to lên bằng tiếng Holland từ cổng.

“Sao không dùng cái bô hả?”

“Hả?” Van Nekk hấp him đôi mắt nhìn vào bóng đêm tới chỗ Blackthorne đang đứng với viên Samurai dưới vệt sáng.

“Jesuma. Lạy Chúa trên trời, Samurai!” Anh ta cúi lom khom lẩm bẩm:

“Gomen nasai, Samurai Sama. Ichibon gomen nasai, cho tất cả bọn khỉ Sama.” Anh ta đứng thẳng người lên, cố nhếch mép cười, miệng lẩm bẩm như để chỉ mình nghe? Có lẽ là say. Nhưng mà cái thằng con hoang đĩ bợm kia lại nói tiếng Holland! Gomen nasai neh?” anh ta gọi to lên một lần nữa, đi nghiêng ngả quay vào nhà, tay sờ soạng vào chiếc khố.

“Hề, Bacut, không biết gì hơn là lại chui vào ổ à?”

“Gì hả?” Van Nekk quay mình như lén cơn giật, nhìn trừng trừng vào vùng ánh sáng, ráng sức nhìn cho rõ hơn.

“Hoa tiêu?” anh cất giọng nghẹn ngào.

“Có phải anh đấy không, hoa tiêu? Trời hại đôi mắt của ta, chẳng nhìn thấy gì hết. Hoa tiêu, vì lòng yêu Chúa, có phải anh đấy không?”

Blackthorne cười phá lên. Ông bạn già của anh trông trần như nhộng, kỳ cục quá, của quí vẫn lủng lẳng bên ngoài.

“Đúng rồi, tớ đây!” Rồi anh nói với người Samurai đang nhìn với vẻ miệt thị rõ rệt:

“Matte kusarai. Làm ơn đứng đợi tôi.”

“Hai, Anjin-san.”

Blackthorne tiến lên phía trước, và bây giờ qua vệt sáng anh nhìn thấy những mẩu đầu thừa đuôi thẹo quẳng vãi khắp vườn. Anh khó chịu bước qua những vật chướng ngại đó rồi chạy lên bậc thềm.

“Hêlô, Bacut, anh còn béo hơn cả lúc chúng ta rời khỏi Rotterdam, neh?” Anh nồng nhiệt vỗ vào hai vai của Bacut.

“Chúa cứu thế ơi, có đúng là anh đấy không?”

“Tất nhiên, đúng là tớ rồi.”

“Chúng tôi cứ ngỡ là anh chết lâu rồi cơ”, Van Nekk nhích người ra, sờ mó vào người Blackthorne để tin thực sự là mình không nằm mơ.

“Lạy Chúa, thế là những lời cầu nguyện của tôi đã được đáp ứng. Hoa tiêu, cái gì đã xảy ra với anh, anh vừa từ đâu tới đây? Thật là kỳ diệu! Có đúng là anh không đấy?”

“Đúng rồi. Nào bây giờ hãy làm ơn nhét của quí của anh vào chỗ của nó đã rồi ta vào trong nhà”, Blackthorne bảo bạn, nhớ tới sự hiện diện của viên Samurai.

“Gì nhỉ? À! Xin lỗi, xin lỗi, tôi…” Van Nekk vội vàng làm theo lời bạn, nước mắt bắt đầu trào ra hai bên má.

“Ôi, lạy Chúa, hoa tiêu… Có lẽ món rượu gin quỉ quái lại chơi xỏ tớ nữa rồi. Nào đi, à nhưng hãy để tớ báo trước đã, hả?”

Anh ta quay vào trước dẫn đường, hơi lảo đảo tí chút, có lẽ do cơn say bốc hơi cùng với niềm vui. Blackthorne theo sau. Van Nekk giữ lấy cánh cửa mở, hét to lên át cả những tiếng hát khàn khàn:

“Các cậu ơi! Hãy nhìn xem ông già Nôen mang đến cho chúng ta cái gì!” Anh ta đóng sầm cánh cửa đằng sau Blackthorne để tăng thêm phần hiệu quả của lời nói.

Trong phút chốc, tất cả đều im ắng.

Phải mất một lúc lâu Blackthorne mới quen mắt với ánh sáng. Không khí nồng nặc làm anh nghẹt thở. Anh trông thấy mọi người đều nhìn trừng trừng vào anh như thể anh là một bóng ma hiện hình. Thế rồi một tiếng gọi thốt ra và tất cả la hét đón chào mừng rỡ xoắn xít lấy anh, đấm thùm thụp vào lưng anh, nói nhao nhao lên.

“Hoa tiêu, anh ở đâu đến, uống chút nhé, Chúa ơi, không thể thế được, cứ tè vào mũ tớ đây này, trông thấy anh thật mừng quá, chúng tôi cứ tưởng là anh chết rồi. Không, chúng ta đều tốt đẹp, ít nhất cũng đều đẹp cả. Mang ghế ra đây đồ đĩ kia, tôn ông hoa tiêu Sama phải được ngồi vào cái ghế có đệm cỏ tốt nhất. Hê, rượu mạnh, neh? Mau lên, thề có Chúa, mau lên nào! Tai hại thay con mắt của ta chẳng nhìn thấy gì sất, ta muốn bắt tay hoa tiêu quá đi…”

Cuối cùng Vinck phải hét to lên:

“Lần lượt từng người một, các cậu ơi! Để cho anh ta thở với chứ! Lấy cho anh hoa tiêu cái ghế và đồ uống đi, tạ ơn Chúa! Đúng thật, tớ cho rằng anh ta cũng là Samurai cơ đấy…”

Có người nào đó ấn vào tay Blackthorne một cái cốc gỗ. Anh ngồi vào một chiếc ghế lung lay và tất cả mọi người đều nâng cốc rồi hàng loạt câu hỏi lại tuôn ra ào ào như mưa lũ.

Blackthorne đưa mắt nhìn quanh. Căn buồng có nhiều ghế dài, một ít ghế tựa và bàn gỗ mộc dưới ánh sáng của những ngọn nến và đèn dầu Một thùng rượu sake lớn đặt trên sàn nhà bẩn thỉu. Trên một chiếc bàn, đầy những đĩa rếch và một tảng thịt đùi nướng dở ruồi bậu đầy.

Sát chân tường là sáu người đàn bà cáu bẩn, quì mọp khúm núm, cúi đầu chào anh.

Những người của anh, mặt mày hớn hở, chờ đợi anh bắt đầu nói. Đó là Sonk – đầu bếp, Johan Vinck – phó trưởng tàu và là pháo thủ chính, Salamon – anh chàng câm, Croocq – chú nhóc, Ginsel – thợ buồm, Baccus Van Nếch-thương gia chính và thủ quĩ, và cuối cùng là Jan Roper – một thương gia khác, ngồi tách xa như thường lệ, và cũng vẫn cái mỉm cười chua chát trên khuôn mặt mỏng căng ra.

“Thuyền trưởng đâu rồi?” Blackthorne hỏi.

“Chết rồi, hoa tiêu ạ, ông ta chết rồi…” Sáu giọng cùng chen nhau trả lời, tranh nhau kể, cho đến khi Blackthorne giơ tay lên.

“Bacut?”

“Ông ấy đã chết, anh hoa tiêu ạ. Không bao giờ ông ta lên khỏi cái hố được. Anh có nhớ là ông ta ốm không hả? Sau khi chúng mang anh đi, đúng vậy, đêm đó chúng tôi nghe thấy ông ta nấc lên trong bóng tối. Có đúng không, các cậu?”

Một bản hợp âm hỗn độn những tiếng đúng, đúng cất lên, rồi Van Nekk nói tiếp :

“Tớ ngồi bên cạnh ông ta. Hoa tiêu ạ. Ông ta gắng gượng đòi uống nước, nhưng chẳng còn giọt nước nào, thế là ông ta lại nấc lên, rên rỉ. Tớ không nhớ là lúc đó mấy giờ nữa,- chúng tớ đều lo lắng nghĩ tới cái chết, – thế rồi ông ta lại nấc lên, đúng vậy, thế là thần chết gõ cửa. Thật là tồi tệ, hoa tiêu ạ.”

Jan Roper nói thêm vào:

“Thật là kinh khủng, đúng vậy. Nhưng đó là sự trừng phạt của Chúa trời.”

Blackthorne lần lượt nhìn vào mặt từng người.

“Có ai đánh ông ta không? Để cho ông ta nằm im?”

“Không – không, ồ không đâu.” Van Nekk trả lời.

“Ông ta chết ngay lúc đó. Ông ta được đặt vào trong hố cùng một người nữa, thằng Nhật, anh có nhớ không, cái thằng cứ định tự dìm chết trong thùng nước tè ấy? Thế rồi Chúa Omi ra lệnh đem xác của Spinbécghen ra khỏi hố để đi thiêu. Còn cái tên sâu bọ khốn khổ kia thì vẫn để lại trong hố. Chúa Omi ném cho hắn con dao, hắn thọc luôn con dao vào bụng thối tha của hắn, và chúng đã lấp cái hố. Anh còn nhớ tên ấy không, hoa tiêu?”

“Có chứ. Thế còn Maetsucơ thì sao?”

“Anh Vinck, hãy kể đi thì hơn.”

“Cái thằng choắt chéo mặt chuột ấy, anh hoa tiêu ạ.” Vinck bắt đầu kể, nhưng mọi người lại nhao nhao lên kể xen vào những chi tiết, đến nỗi Vinck phải quát to lên:

“Bacut bảo tớ kể cơ mà. Ôi, hãy vì Chúa! Rồi sẽ đến lượt các cậu!”

Các tiếng khác im bặt, Sonk khuyến khích :

“Anh cứ kể tiếp đi, Johan.”

“Anh hoa tiêu ạ, cánh tay của nó bị thối rữa. Nó bị một nhát chém trong lúc chiến đấu, anh còn nhớ cuộc chiến đấu lúc anh ngã xuống chứ? Lạy Chúa tôi, thế mà dường như đã lâu lắm rồi. Thế đấy, dù sao cánh tay của nó cũng đã mưng mủ lên. Tôi cứ lau máu lau mủ cho nó ngay hôm đau rồi ngày hôm sau nữa, thế rồi máu cứ đen lại. Tôi bảo nó tốt nhất là để tôi xẻo chỗ đó đi, nếu không thì phải cắt bỏ cả cánh tay, nói với nó đến hàng chục lượt như thế, tất cả chúng tôi đều bảo thế, nhưng nó không muốn. Đến ngày thứ năm thì vết thương nặng mùi hôi thối. Chúng tôi ghìm nó xuống và tôi xẻo đi gần hết chỗ thối rữa, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Tôi hiểu rằng cũng chẳng ăn thua gì nhưng một vài người nói cứ thử xem. Tên thầy thuốc da vàng con hoang có đến vài lần nhưng cũng chẳng làm được trò gì. Mặt chuột kéo dài thêm được một hai ngày nữa, nhưng vết thương bị ăn thối vào quá sâu, nó cứ nói lảm nhảm suốt. Chúng tôi buộc phải thắt nó lại cho đến điểm nút.”

“Đúng đấy, hoa tiêu ạ” Sonk nói, tay cứ gãi lia lịa.

“Chúng tôi đã phải thắt nút nó lại.”

“Thế còn xác nó thì sao?” Blackthorne hỏi.

“Chúng cũng mang lên đồi để thiêu. Chúng tôi muốn chôn cất nó cùng với thuyền trưởng theo đúng nghi lễ tôn giáo nhưng họ không cho. Thế là họ đem theo cả hai.”

Căn buồng lặng xuống.

“Anh chưa uống ngụm nào kìa, hoa tiêu.”

Blackthorne đưa cốc rượu lên môi nếm thử. Cái cốc nhớp nháp làm anh buồn nôn. Thứ rượu thô làm cháy khô cả họng. Mùi hôi hám của những thân người không tắm rửa, mùi ẩm mốc của những quần áo không giặt giũ làm anh chết ngột.

“Rượu mạnh thế nào, hoa tiêu?” Van Nekk hỏi.

“Tốt, tốt.”

“Hãy nói cho anh ấy biết về loại rượu này đi. Bacut!”

“Hê! Anh hoa tiêu ạ, tôi làm một cái nồi cất rượu”, Van Nekk có vẻ rất tự hào và tất cả mọi người cũng đều hớn hở.

“Chúng tôi làm bằng cái thùng đựng rượu. Bỏ gạo, hoa quả, đổ nước vào rồi để lên men, để đấy độ khoảng một tuần gì đó, và rồi chỉ cần một chút thủ thuật thôi…” Con người béo mập cười to lên và gãi gãi một cách sung sướng.

“Dĩ nhiên là nếu để đó một năm thì tốt hơn, cho nó dịu ngọt đi, nhưng chúng tôi đã nốc nhanh như…” Lời nói anh cứ kéo dài ra:

“Thế anh không thích à?”

“Ồ, xin lỗi, rượu tốt, tốt.” Blackthorne nhìn vào mấy con chấy trong túm tóc thưa thớt trên đầu Van Nếch.

Jan Roper nói như thúc giục:

“Thế còn anh, hoa tiêu, anh cũng tốt chứ, phải không? Về phần anh thế nào?”

Lại một trận lũ câu hỏi ập tới, cho đến khi Vinck quát lên :

“Để cho anh ấy nói nào!” Thế rồi con người mặt căng như da thuộc thốt lên vui sướng:

“Lạy Chúa, khi tôi trông thấy anh đứng ở cửa, tôi cứ ngỡ anh là một trong những thằng khỉ đó, thực thế, thực thế!”

Một loạt giọng nói tán thưởng rộ lên, rồi Van Nekk nói.

“Đúng thế. Cái áo kimono kỳ cục đáng nguyền rủa ấy, trông anh cứ như một mụ đàn bà ấy, hoa tiêu ạ, hoặc như một trong cái đám nửa người nửa ngợm ấy! Một lũ thiểu não thảm hại, hả? Thề có Chúa, hàng đống dân Nhật trông thật thiểu não! Có đứa thì, theo như thằng Croocq nói, thì…

“Rồi những tiếng la hét, đùa cợt, tục tĩu nổi lên, sau đó Van Nekk tiếp tục nói :

“Anh cần phải mặc quần áo của mình vào, hoa tiêu ạ. Anh hãy nghe đây, chúng tôi đã mang quần áo của anh để ở đây rồi. Chúng tôi lái tàu Easmus tới Yedo đấy. Họ kéo tàu tới và chúng tôi được phép mang quần áo của anh lên bờ, chỉ thế thôi chẳng được mang gì hơn. Chúng tôi mang theo quần áo của anh, họ cho phép thế mà, để giữ cho anh. Chúng tôi mang theo túi quần áo của anh, tất cả quần áo đi biển của anh trong đó. Sonk, đi lấy ra đây, hả?”

“Được rồi, tôi sẽ lấy, nhưng lát nữa đã, phải không Baccus? Tôi không muốn bỏ qua điều gì cả.”

“Được thôi.”

Cái mỉm cười của Jan Roper như căng ra.

“Thanh kiếm và áo kimono, như một dân vô đạo thực thụ! Hay có lẽ anh thích sống như tên vô đạo rồi đó, hả, hoa tiêu?”

“Quần áo kiểu này mát mẻ hơn quần áo của chúng ta”, Blackthorne trả lời một cách khó chịu.

“Tôi đã quên mất cách mặc khác thế này rồi. Biết bao nhiêu việc đã xảy ra. Đây là tất cả những gì tôi có được nên đã mặc quen đi rồi. Tôi chẳng bao giờ nghĩ ngợi nhiều về nó. Chắc chắn quần áo kiểu này mặc dễ chịu hơn nhiều.”

“Những thanh kiếm đó có phải thực sự là kiếm không?”

“Đúng, dĩ nhiên là thế rồi. Sao vậy?”

“Chúng tôi không được phép mang vũ khí. Bất cứ vũ khí nào.” Jan Roper cáu kỉnh:

“Sao chúng nó lại cho phép anh mang kiếm? Thực đúng như bất kỳ một thằng Samurai vô đạo nào, tại sao, hả?”

Blackthorne cười gằn.

“Anh chẳng thay đổi chút nào, phải không, Jan Roper? Vẫn cứ sùng đạo hơn anh đấy! Được rồi, còn nhiều lúc để nói về thanh kiếm của tôi, nhưng trước hết là phải nói những tin Tốt lành đã. Hãy nghe đây. Khoảng một tháng nữa, chúng ta lại ra khơi.”

“Lạy chúa tôi, anh nói đúng thế à, hoa tiêu?” Vinck nói.

“Đúng.”

Một loạt tiếng hò hét vui sướng ầm lên, rồi những hỏi và trả lời cứ xen nhau hỗn độn.

“Tớ đã bảo là chúng ta sẽ thoát mà. – Tớ đã bảo là Chúa luôn luôn ở bên chúng ta mà! Hãy để cho anh ấy nói, – hãy để cho anh hoa tiêu nói…” Cuối cùng, Blackthorne giơ tay lên.

Anh nhìn về phía những người đàn bà, lúc đó vẫn cứ quì gối bất động, càng khúm núm hơn khi thấy anh chú ý tới họ.

“Họ là những người nào thế?”

Sonk cười to :

“Bọn chúng là những con bò lạc của chúng tớ đấy, hoa tiêu ạ. Bọn điếm của chúng tớ đấy, rẻ lắm, lạy Chúa tôi, chưa đáng giá tiền một cái khuy mỗi tuần. Chúng tớ vớ được một đống đầy cả nhà bên này này, và ở trong làng còn khối ra.”

“Bọn ấy cứ nhộn nhạo như loài chồn ấy”, chú Croocq nói xen vào, rồi Sonk lại nói tiếp.

“Đúng đấy, hoa tiêu ạ. Dĩ nhiên là chúng lùn tịt và chân thì vòng kiềng nhưng đều sung sức và không có bệnh kín. Anh cần một đứa không, hoa tiêu? Chúng tớ đều có giường riêng, không giống như bọn khỉ kia đâu, chúng tớ tất cả đều có giường riêng, chỗ riêng.”

“Anh hãy thử dùng con bé Big Arse Mary xem, hoa tiêu, dành riêng cho anh đó.” Croocq nói.

Giọng của Jan Roper át tất cả.

“Hoa tiêu không cần đến loại điếm của chúng ta đâu. Anh có riêng rồi, phải không hoa tiêu?”

Nét mặt cả nhóm như bừng sáng lên.

“Có thật thế không, hoa tiêu? Cậu lấy vợ rồi à? Hả, kể cho chúng tớ nghe đi, nào. Bọn khỉ này tốt hơn cả so với từ trước tới nay chứ, phải không, hả?”

“Hãy kể cho chúng tớ nghe về lũ thê thiếp của cậu đi, hoa tiêu!” Sonk lại gãi vào chỗ rận cắn.

“Có nhiều điều phải nói lắm”, Blackthorne nói.

“Nhưng chỉ là riêng tư thôi. Càng ít người nghe càng tốt, neh? Cho lũ đàn bà này ra ngoài, ta nói chuyện riêng với nhau thôi.”

Vinck hất ngón tay cái về phía họ.

“Cút ra, hai?”

Những người đàn bà cúi chào và lầm bầm những lời cám ơn và xin lỗi rồi bước lẹ ra ngoài, lặng lẽ đóng cửa lại.

“Trước hết nói về cái tàu. Thật không thể nào tin được. Tôi muốn cảm ơn và khen ngợi các bạn, về tất cả những việc đó. Khi về tới nhà, tôi sẽ mời các bạn nhận cho gấp ba lần số tiền thưởng cho những công việc mà các bạn đã làm, và có thêm tiền thưởng đối với…” Anh thấy mọi người cứ nhìn nhau lúng túng.

“Gì thế?”

Van Nekk nói không thoải mái:

“Đó không phải là chúng tôi, anh hoa tiêu ạ. Đó là do những người của Lãnh chúa Toranaga. Họ làm cả đấy. Vinck đã chỉ dẫn cho họ làm, chúng tôi chẳng làm gì cả.”

“Chỉ mỗi một mình anh ấy thôi”, Sonk nói.

“Johan đã chỉ dẫn cho họ làm.”

“Nhưng làm sao mà anh bảo họ, Johan?”

“Trong đám Samurai có một tên nói được tiếng Portugal, thế là chúng tôi trao đổi, chỉ đủ để hiểu nhau nói gì thôi, Samurai đó là Sato Sama, hắn chịu trách nhiệm khi chúng tôi tới đây. Hắn nói ai là sĩ quan và thủy thủ trong số chúng tôi. Chúng tôi đã bảo hắn là có Ginsel, nhưng chủ yếu anh ta là pháo thủ, tôi và Sonk là người…”

“Làm một đầu bếp dầm dề tồi tệ nhất đã…”

“Câm cái miệng đáng nguyền rủa của cậu lại đi, Croocq!”

“Cứt, cứ để thả nổi một mình thì anh chẳng nấu nướng được gì trên bờ cả, lạy Chúa!”

“Thôi cả hai im lặng đi!” Blackthorne nói,

“Johan, tiếp tục đi.”

Vinck nói tiếp:

“Sato Sama hỏi tôi xem con tàu bị hỏng gì và tôi bảo hắn là con tàu phải đặt nghiêng đi, vá víu và sửa chữa lại toàn bộ. Họ đã nghiêng con tàu rất tốt, rửa sạch đáy tàu, kỳ cọ cẩn thận như chuồng tiêu của một hoàng tử, cuối cùng thì bọn Samurai là những ông chủ còn những thằng khỉ khác thì làm quằn quật như quỉ dữ, hàng trăm cái quân mắc dịch như thế. Cứt thật, anh hoa tiêu ạ, anh chưa hề bao giờ thấy được bọn người nào làm lụng như chúng đâu!”

“Đúng đấy”, Sonk nói.

“Thật cứ như quỷ dữ!”

“Tôi đã làm mọi việc với hết khả năng của mình để đổi lấy cái ngày… ôi lạy Chúa, hoa tiêu ơi, có đúng anh nghĩ là chúng ta có thể thoát được không?”

“Đúng vậy, nếu chúng ta kiên nhẫn và nếu chúng ta…”

“Nếu đúng là ý Chúa, phải không hoa tiêu. Chỉ khi đó thôi.”

“Đúng. Có thể là anh nói đúng”, Blackthorne trả lời, ngẫm nghĩ không biết vì cớ gì mà Roper lại bị kích động như vậy? Ta cần đến hắn, tất cả mọi người. Và cần được cả Chúa phù hộ.

“Đúng, chúng ta cần có Chúa phù hộ”, anh nói rồi quay lại phía Vinck.

(Kho tư liệu của Hội NVHP)

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder