Tập bút ký “Những người phất cờ hồng” của nhà văn, nhà báo Phạm Vân Anh trao truyền ngọn lửa cách mạng tới mai sau – Hồng Trâm

 

Xuất bản đúng vào những ngày thu lịch sử, tập bút ký “Những người phất cờ hồng” của nhà văn, nhà báo Phạm Vân Anh là tiếng lòng của thế hệ hôm nay tôn vinh và tri ân những cống hiến, đóng góp của những lão thành cách mạng, những người đã nghe theo lời hiệu triệu của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phất cờ hồng cùng cả dân tộc đứng lên giành chính quyền, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên của Đông Nam Á vào tháng Tám – 1945. Không đơn thuần là những trang viết lịch sử, bút ký “Người phất cờ hồng” còn mang tới người đọc những lát cắt sinh động, gần gũi qua hồi ức, câu chuyện của những nhân chứng sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử dân tộc.
Công tác trong quân đội, nhà văn áo lính Phạm Vân Anh có dịp được gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều nhân vật góp phần làm nên lịch sử của dân tộc. Từ những câu chuyện, chia sẻ của họ, cảm hứng về khí tiết, tinh thần của người cộng sản, tâm thế của những bậc lão thành cách mạng trước thời cuộc, trước hơn thua, được mất đã tiếp thêm cảm hứng, động lực để tác giả quyết tâm thực hiện và hoàn thành tập bút ký. Chia sẻ về cuốn sách, nhà văn Phạm Vân Anh cho biết: từ lúc nảy ra ý tưởng, ấp ủ, thực hiện và hoàn thành tập bút ký là cả một hành trình dài với nhiều công sức và tâm huyết được đầu tư, chau chuốt. “Tôi đã mất khá nhiều thời gian để tìm hiểu lịch sử, gặp gỡ các nhà sử học, tìm đến các nhân chứng để hiểu hơn về giai đoạn cách mạng đó. Cuốn sách là tập hợp những bài bút ký chân dung về những người con trung hiếu của dân tộc. Có những người đã xuất hiện nhiều trên truyền thông, được cả nước biết tới nhưng cũng có những nhân vật chưa được biết tới nhiều. Tuy nhiên, những cống hiến của họ rất đáng trân trọng. Mỗi câu chuyện của các nhân vật đều là nguồn cảm hứng, tấm gương cho thế hệ hôm nay về lý tưởng, nghĩa vụ, trách nhiệm với nhân dân và Tổ quốc”.
Với 29 bút ký về 29 nhân vật, không khí những ngày thu Cách mạng Tháng Tám 76 năm trước được tái hiện theo dọc dài đất nước, từ Cao Bằng, Lạng Sơn với những chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tới câu chuyện của những người cả đời trấn giữ biên cương hay những ưu tư, khoắc khoải như câu chuyện về người mẹ của bản Sao Tua (huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La). Tất cả tạo nên những màu sắc, thanh âm độc đáo riêng biệt trong bản hùng ca lịch sử. Và trong tập bút ký, nhà văn Phạm Vân Anh ưu ái cho quê hương Hải Phòng của mình khi dành nhiều trang viết về những người con của mảnh đất “Trung dũng – Quyết thắng” cống hiến trọn vẹn cuộc đời vì độc lập, tự do của dân tộc cũng như nhiệt huyết, hi sinh tuổi xuân để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thể kể tới nhà văn Hoàng Công Khanh, nguyên Chủ tịch Hội Văn hoá cứu quốc Hải Phòng (tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng) và trưởng ban Thông tin Tuyên truyền thành phố Hải Phòng (tiền thân của Sở Văn hóa Thể thao Hải Phòng). Sinh năm 1922, quê tại Kiến An, Hải Phòng, bị bắt giam năm 1941 vì tội tham gia mít tinh phản đối chính quyền thực dân. Từ một thanh niên yêu nước đơn thuần, ông đã được anh em tù chính trị, trong đó có đồng chí Tô Hiệu giác ngộ, hăng hái tham gia vào mọi hoạt động cách mạng trong nhà tù như viết báo, vẽ tranh, dựng kịch… Sau khi Nhật đảo chính Pháp, các tù nhân chính trị được thả, ông đã trở về quê hương Kiến An và bắt liên lạc với đồng chí Trần Thành Ngọ – lãnh đạo phong trào cách mạng của Kiến An thời bấy giờ. Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, ông đã sáng tác trên 20 bài thơ vận động binh lính người Việt bỏ súng trở về quê hương. Những bài thơ ấy được các chiến sĩ cách mạng của ta sao chép thành nhiều bản rồi rải truyền đơn khắp nơi, góp phần vận động được hàng chục người giác ngộ và trở thành người của ta.
Đó còn là những tháng ngày sôi nổi đấu tranh, chiến đấu của nghệ nhân dân gian Nguyễn Hãn – một trong “tứ hổ” bảo vệ tướng quân Nguyễn Bình tại “đệ tứ chiến khu” Đông Triều nổi danh với tiếng trống chầu ca trù tài tử. Đêm 20-7-1945, cả Quảng Yên rung chuyển trong tiếng súng nổ và tiếng quân reo hò không ngớt. đồng chí Nguyễn Hãn cùng đồng đội xung phong tiến vào chiếm đóng các cơ quan đầu não và thương thuyết để toàn bộ số lính khố xanh buông súng đầu hàng. Ngày hôm sau, có một chiếc tàu chở lính Nhật có trang bị khí giới cập vào bờ sông, đồng chí Nguyễn Bình cử một trung đội tuần tra kiểm soát dọc tuyến và bắn theo tàu. Trên tàu cũng bắn lên bờ một vài loạt đạn thị uy rồi tăng tốc nổ máy chạy ra biển. Nhân dân hai bên bờ sông đều nhất loạt vỗ tay và hô vang: “Việt minh chiến thắng, Việt minh chiến thắng…”
Hay câu chuyện về cuộc chiến đấu của Chi bộ Đảng, đội tự vệ xã Kim Sơn, Kiến Thụy đã làm nên hào khí “Tiếng trống Kim Sơn” sôi sục miền duyên hải Bắc Bộ từ tháng 3 đến tháng 8-1945 với ký ức mãi xanh như dòng sông Đa Độ của ông Đặng Nam, nguyên Trưởng ban Thanh tra Thành ủy Hải Phòng. Oanh liệt một thời trai trẻ với bí danh Hồng Việt, ông đã cùng những đồng chí, đồng đội làm nên “Tiếng trống Kim Sơn”, “Ngọn cờ Đầm Bầu”… trên miền quê Kiến Thụy anh hùng. Ông đã ghi lại thành thơ “Từ trong ba nhánh tre ươm/ Thành căn cứ địa Kim Sơn – Tân Trào/ Âm vang tiếng trống, đường dao/ Đất bằng nổi sóng phất cao cờ hồng/ Cũng từ ngọn lửa bập bùng/ Lan ra tỏa sáng một vùng Kiến An…”
Người đọc cũng sẽ rưng rưng xúc động trước sự hi sinh của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Kim Vang – nguyên Chính trị viên Đội An ninh vũ trang tỉnh Phú Yên. Năm 1954, khi mới 10 tuổi, Nguyễn Kim Vang cùng gia đình tập kết ra Bắc và được theo học tại trường học sinh miền Nam tại Hải Phòng. Ngày 22-1-1962, khi Bác Hồ về thăm Hải Phòng, với vai trò là Bí thư Đoàn thanh niên, Nguyễn Kim Vang được Ban Giám hiệu cử đứng đầu đoàn học sinh đón Bác và báo cáo thành tích học tập. Năm 1963, anh tình nguyện nhập ngũ và sau đó được cử chi viện cho chiến trường miền Nam. Sau nhiều năm chiến đấu ngoan cường, tháng 1-1972, trên đường đi công tác, Nguyễn Kim Vang và đồng đội bị địch phục kích bắn bị thương. Anh đã ở lại yểm trợ cho đồng đội thoát hiểm, kẹp súng AK vào nách bắn xối xả vào đội hình địch nhưng vẫn không quên để dành một viên cho chính mình, quyết không để sa vào tay giặc. Khi đồng đội đến giải vây, chàng trai Hải Phòng ấy đã anh dũng hy sinh.
Cuốn sách cũng khắc họa lại những tháng ngày gian khó của những thanh niên Hải Phòng lên đường mang cái chữ đến cho hàng triệu đồng bào đang mù chữ nơi núi rừng Tây Bắc như nhà giáo, anh hùng Lao động Nguyễn Văn Bôn, thầy giáo Lê Xuân Kế, cô giáo Đặng Thị Dung… Họ đã lấy miền núi làm quê hương thứ hai, coi đồng bào các dân tộc thiểu số như anh em ruột thịt nơi núi rừng thuộc Khu tự trị Thái – Mèo và cống hiến trọn vẹn tuổi xuân cho những em thơ dân tộc Thái, Mèo, Dao… Hay câu chuyện về những người chiến sĩ biên phòng xa quê hương miền biển, trở thành “điểm tựa vùng biên” cho đồng bào các dân tộc ở Bảo Lạc (Cao Bẳng), Mường Nhé (Điện Biên), Sa Thầy (Kon Tum)… Mỗi nhân vật là một câu chuyện đời khác nhau, sự thành công của họ cũng khác nhau, song đều sáng lên tinh thần dấn thân vì sự bình yên của Tổ quốc và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Họ chính là “những người đã đem ngọn cờ của Đảng để cắm trên những đỉnh núi cao nhất” (Tố Hữu).
Sử dụng thể loại bút ký, nhà văn Phạm Vân Anh dùng ngôn ngữ của nhà văn để kể một câu chuyện người thật, việc thật của những chứng nhân một sự kiện lịch sử vĩ đại. Vì thế, lịch sử qua tập bút ký không chỉ là những sự kiện được ghi lại bằng ngày tháng năm, bằng sự kiện, bằng con số mà lịch sử gắn với từng con người với những câu chuyện, với những suy tư, tâm trạng, tâm thế nhìn nhận rất riêng, rất thú vị của mỗi nhân chứng. Có lẽ vì vậy mà tập bút ký “Những người phất cờ hồng” của nhà văn Phạm Vân Anh đã góp phần vẽ nên một lát cắt lịch sử gần gũi, sinh động, sâu lắng, nhẹ nhàng thấm sâu vào tâm hồn người đọc. Để từ đó, những “ngọn cờ hồng” thắm đỏ nhiệt huyết cách mạng, ý chí đấu tranh, cống hiến vì sự phồn vinh, thịnh vượng của nước nhà mà các thế hệ cha anh đã phất lên năm nào sẽ được mãi gìn giữ và trao chuyền tới muôn thế hệ mai sau.

H.T

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder