Thuyền nghiêng – Tiểu thuyết của Dương Thị Nhụn

Chương XVII

 

Chuyện ông Hình vẫn chưa có hồi kết và được dân làng Đông Phong lan truyền theo cấp số nhân. Mộ bà Hiên vẫn ở chỗ cũ. Bụng Hãn giờ lặc lè chờ đến ngày ở cữ. Vớ thành người đàn ông đích thực trong gia đình. Hàng ngày Vớ quanh quẩn trong nhà dọn dẹp nấu nướng và chăm sóc Hãn chu đáo không chê vào đâu được. Nhà Hãn đông người ra vào vì có họ hàng bên mẹ đẻ qua lại. Họ muốn bù đắp tình cảm cho đứa cháu bị bỏ rơi bấy lâu.

Ông Tấn và Tố được chạy chữa chu đáo nên bệnh tình đã ổn. Thời gian này Tố vẫn nằm viện nhưng tranh thủ về quê theo dõi công việc. Nhà thờ tổ gần như hoàn thành trong thời gian Tố nằm viện. Kể ra cũng không đến nỗi nhưng trong lòng Tố vẫn có điều gì không yên. Ông Húng kiên quyết yêu cầu xây hậu cung giờ lại nêu ý kiến phải phá bỏ. Ông lí luận rằng hướng nhà không thuận để hậu cung ngay lối ra vào trông chướng lắm. Nếu xoay nhà thờ tổ theo hướng Đông Nam mới đúng luật phong thuỷ. Tố thấy đúng nhưng nếu ủng hộ ông Húng sẽ bị gần như cả họ phản đối. Chuyện đang căng thẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Trong lòng Tố nhất quyết phải theo lời thầy bói nhưng chưa biết làm thế nào. Có phải có tiền là làm gì cũng được đâu, nhất là trong thời điểm này, Tố nghiệm ra điều đó. Nhà thành hình rồi lại bới tung lên thế nào cũng lắm chuyện. Đành phải nhờ ông Húng. Người trong họ không ưa nhưng ông ấy là em ruột ông Vấn, vả lại tiến sĩ nói chữ nghĩa rắc rối người nghe ù ù cạc cạc không phân biệt được đúng sai, sau đó là mặc kệ. Ông Húng chơi kiểu càng đưa ra học thuyết nọ, danh ngôn kia để sự việc càng rối tung lên. Người quê cần gì lực hút với lỗ đen trái đất. Thế là từ cái anh bảo vệ luận án tiến sĩ phương Đông bên trời Tây ông ấy còn chen một chút từ trường trái đất vào sự tồn tại của nhà thờ tổ. Khi ông Húng nói chỉ duy nhất ông Tấn bưng miệng cười.

Tố kéo ông Húng ra một góc khuất:

– Ông cháu mình cùng quan điểm. Nhà thờ tổ phải xoay hướng Đông Nam mới đúng luật phong thuỷ và hợp tuổi ông Tấn. Hội đồng gia tộc khăng khăng nói từ xưa đến giờ nhà thờ tổ chỉ quay hướng Tây. Ông làm thế nào xoay chuyển được tình thế cháu cho là tài.

Ông Húng trợn mắt:

– Thế mày cho ông là dở hơi từ xưa đến nay à?

Tố vội vàng nắm tay ông Húng:

– Không! Ý cháu nói ông tài giỏi trong chuyện thay đổi được thói tư duy bảo thủ của người nhà quê cơ.

Ông Húng đưa tay bịt miệng Tố:

– Mày đừng nói thế! Mày cũng từ nhà quê chui ra đấy. Bức vách có tai. Người nhà quê bảo thủ lạc hậu thật nhưng họ chất phác, đơn giản. Họ tư lợi một chút nhưng không tham lam. Họ đố kị một chút nhưng không gian ác.

Tố gật đầu như bổ củi:

– Cháu biết rồi! Ông làm sao thì làm. Cháu nghĩ đây là công trình thế kỉ chứ không phải chỉ tồn tại ngày một ngày hai.

– Điều này thì ông hoàn toàn đồng ý với mày.

– Họ Hoàng sẽ tự hào vì có một ngôi nhà thờ hoành tráng.

– Lấy đâu ra mà hoành tráng? Quy mô thế nào mới được gọi là hoành tráng?

– Ông buồn cười thật! Không có ta làm thành có mới tài.

– Làm thế nào?

– Ông cứ đưa vấn đề xoay nhà rồi cháu sẽ chịu hết trách nhiệm. Đã tốn thì cũng tốn rồi. Cháu đi xem thầy bảo còn tán nhiều, không tai nạn thất thoát thì cũng vận xui. Thầy giải cho rồi nhưng nói phải chú ý công đức vào việc họ.

– Mày biết sao không tự làm?

– Ông buồn cười thật. Vai của ông chỉ sau ông Tấn và ông Vấn. Vả lại ông học rộng tài cao, Đông Tây kim cổ thông vanh vách. Người có học lí lẽ có sức nặng hơn thằng cháu ông đây.

Ông Húng được thằng cháu nịnh thì tươi hơn hớn.

– Thôi được rồi! Ông cháu mình phải thống nhất ý kiến đấy nhá. Không có kiểu bỏ của chạy lấy người đâu.

– Cháu thề!

Tố đưa hai tay chắp trước ngực tỏ vẻ thành kính. Ông Húng nhìn thằng cháu cười.

Ông Húng chắp tay sau lưng chậm rãi bước quanh ngôi nhà. Đầu ông gật rồi lại lắc, lắc rồi lại gật. Ông chưa kịp lên tiếng thì sau lưng có người ngã đánh “uỵch” xuống nền nhà. Mọi người lập tức nhao nhao:

– Thằng Công! Công!

– Công làm sao thế?

Công nằm dưới nền đất, người giật giật. Ông Tấn biết chút ít về y học hồi ở bộ đội nói Công bị động kinh.

– Nếu bị động kinh thì đừng có động vào. Đứa nào lấy cho tao cái đũa cả.

Khi chiếc đũa cả được đưa đến ông Thìn nhanh tay đút ngang miệng Công. Lập tức Công bật khóc.

Tiếng khóc của Công nghe ai oán và đầy buồn tủi. Mắt nhắm nghiền nhưng nước mắt vẫn trào ra. Tiếng ai đó ghé vào tai gọi:

– Công ơi! Sao cháu khóc?

– Công ơi! Công!

Tiếng khóc vẫn run lên như người bị đánh. Chiếc đũa cả ướt sũng nước bọt nhểu ra hai bên mép. Ông Húng cúi xuống lay nhẹ:

– Công ơi! Cháu làm sao đấy?

Tức thì tiếng khóc nức nở hơn:

– Không phải Công!

– Sao lại không phải Công?

– Không phải! Không phải!

– Thế thì là ai?

Công chợt nhỏm dậy, một tay giật cái đũa cả khỏi miệng, một tay túm chặt ông Húng:

– Anh ơi! Anh không nhận ra em ư? Em bị bom bỏ nát người khổ lắm rồi sao còn chặn họng em? Anh Húng! Anh không nhận ra em thật à?

– Em là…

– Anh không nhận ra em ư? Anh ơi ời….Em dặn anh bao giờ về quê nói với thầy bu em là thằng Hải giết được nhiều giặc lắm cơ mà? Sao anh không nói?

Mặt ông Húng biến sắc. Hai tay ông run lập cập:

– Em!

– Anh Húng! Sao anh không nói cho thầy bu em biết?

– Anh chưa…chưa nói được…

– Em bị oan sao anh không minh oan cho em….Anh em ăn ngủ cùng nhau…

– Em ơi! Người ta muốn mọi việc rõ ràng và phải có nhiều người chứng kiến.

– Nếu em không cứu anh thì….thì em không… chết. Thế mà anh không nhớ….

– Anh nhớ chứ. Bây giờ anh vẫn nhớ…Anh chạy đi tìm em…

– Em ở ngay dưới hố bom mà anh không tìm thấy….

– Anh bới mãi nhưng không tìm thấy em.

– Em thương anh quá nên bảo quân y chỉ mộ em. Có mỗi chuyện anh không nhớ…

– Anh biết rồi! Anh xin lỗi em…

– Bao nhiều lần em muốn về nói cho mọi người biết nhưng sợ anh….

– Em sợ anh làm sao? Giờ anh có ra gì đâu mà em phải sợ anh?

– Em…sợ…anh lại …lên cơn….hờ…hờ…anh ơi…

– Em ơi….

Nước mắt chan hoà trên mặt tất cả những ai có mặt trong nhà thờ tổ. Ông Hiến sai người chạy đi gọi ông cụ Lượng cha Hải.

Cụ ông cụ bà Lượng lập cập sà ngay xuống chỗ Công nằm. Cụ bà nức nở:

– Con ơi! Sao hôm nay con mới về… Con ơi…

Cụ ôm Hải như ôm người bằng xương bằng thịt. Hải vẫn non nớt như một chàng trai mười bảy tuổi, cử chỉ thay đổi như đứa trẻ làm nũng mẹ:

– Bu ơi…Con có tội.

– Con không có tội. Tội ở thằng xâm lược…

– Không phải.

– Không! Con không có tội. Con là người có công với đất nước.

– Con làm khổ thày bu….Con….nhớ bu lắm….

– Con ơi….

– Con bất hiếu…. Con không đền đáp công lao của thày bu…. Không ai công nhận con…

– Thày bu không cần….Thày bu biết con không phản bội tổ quốc.

– Không bao giờ…Con muốn giết nhiều giặc để thày bu tự hào về con…Chưa kịp đến nơi… Thày bu phải chịu tiếng xấu vì con….Khổ quá!

– Thày bu muốn tìm con về. Con chỉ chỗ để cả nhà đưa con về…con ơi…

Hải nhắm nghiền mắt không nói gì. Lát sau anh nhỏm dậy túm tay ông Húng:

– Anh ơi! Giờ anh phải nói. Anh công nhận cho em…

Ông Húng nghẹn ngào:

– Anh mơ thấy em luôn ở bên anh nhưng anh không làm gì được. Năm nào anh cũng gửi tiền vàng cho em.

– Nhưng em có nhận được đâu. Bọn nó cướp hết của em. Cả thày bu em gửi em cũng không nhận được. Em đói lắm…

– Anh sẽ đi tìm em.

– Anh trả cho thày bu em tiền ngày xưa em gửi anh. Anh phải trả…Ngày xưa anh khó khăn nhưng giờ anh phải trả. Anh không tốt….Anh không giữ lời hứa…Anh ơi…Em thương anh lắm….Em không trách anh đâu…

Ông cụ Lượng khóc lặng cạnh Hải. Ông nói Hải chỉ nơi nằm nhưng Hải lắc đầu. Hai cụ già nước mắt lưng tròng vuốt ve dỗ dành con trai như một cậu bé. Sau một hồi vật vã vì bao năm phần hồn mới được về, Hải nằm im lìm.

Nhiều người muốn nói chuyện với Hải nhưng ông Thìn ngăn lại:

– Để chú ấy nghỉ..

Tuy vậy mấy người cùng lứa với Hải vẫn cố chen vào:

– Hải! Chú có nhớ anh không?

– Anh Thống.

Ông Lên ngó sát mặt Hải:

– Anh biết em là thằng nào không?

– Thằng Lên! Mày dạy tao bơi…

Ông Lên gật đầu như bổ củi. Hồi bé ông và Hải hay ra sông tắm.

– Anh có nhớ chuyện gì nữa không?

– Mày xúi tao hô khẩu hiệu.

Ông Lên chịu hẳn. Những chuyện ấy chỉ khi Hải nói ông mới nhớ. Người ta cứ bắt học sinh đi hô cổ động. Mất buổi đá bóng nên đứa nào cũng tức. Thích nhất là đi trong hàng quân nghĩ ra những câu khẩu hiệu buồn cười để cả bọn cùng rúc rích. Vì chuyện ấy Hải bị cán bộ đoàn cho là chậm tiến, mới nứt mắt đã có tư tưởng chống đối.

Người đến nhà thờ tổ mỗi lúc một đông. Chỗ nào cũng đặc kín người. Đúng là so với một dòng họ lớn thì khuôn viên này không đáp ứng được. Vớ cũng lò dò ngó xem người ta có nói gì đến mình không? Khi biết người âm nói hết bí mật từng người, Vớ lủi nhanh ra ngõ. Nhỡ đâu ông Hải thấy Vớ sẽ lôi chuyện ông Hình ra thì chết. Hai vợ chồng ngày đêm nhắc nhở nhau nhất quyết không để lộ chuyện. Tuy vậy Hãn rất hay khóc thầm. Đêm tỉnh giấc Vớ thấy Hãn nức nở than sao cuộc đời trớ trêu đến thế? Sao trời Phật bắt vợ chồng Hãn phải chịu cảnh bất hiếu này?

Ông cụ Lượng quay qua ông Húng. Mấy chục năm nay hai cụ âm thầm đau khổ vì gia đình phải gánh chịu chuyện mất tích của Hải. Thời ấy người được tuyên dương, người trở về vẻ vang, những người hi sinh cũng có giấy báo tử, được công nhận gia đình liệt sĩ, mỗi con cụ không được nhắc tới. Cụ không biết cúng con vào ngày nào, đành lấy ngày con vào quân ngũ. Ngày kỉ niệm thương binh liệt sĩ cụ vẫn làm mâm cơm gọi con về. Cụ biết con cụ không bao giờ từ bỏ lí tưởng. Bao năm gia đình cụ đi tìm và muốn trả lại tiếng thơm cho con mà chưa có kết quả. Không ai có thể minh oan trừ những người đã chứng kiến con cụ chết hoặc mất tích như thế nào. Cách đây hơn chục năm, lúc ấy ông Húng còn là viện trưởng, cụ lên tận Hà Nội nằn nì ông làm chứng cho Hải, nhưng ông ấy một mực từ chối. Ông nói hai người bị xé lẻ ngay từ ngày hành quân đầu tiên nên không biết gì hết. Sau đó ông bị thương và đi du học. “Cuộc đời quân ngũ của tôi ngắn lắm, tôi cũng buồn vì anh em gắn bó từ bé mà không bảo vệ được nhau”.

Lúc này sự thật bị phơi bày, ông Húng không một lời chối cãi. Không hiểu sao gặp việc này ông ấy có thể ngồi im? Ông cụ Lượng nhìn ông cháu họ bằng đôi mắt của một con người đi gần hết cuộc đời. Tất cả tinh lực dồn vào ánh mắt ấy nên ông Húng thấy người nóng ran như lửa đốt. Cả một hành trình dài dối trá không thể mãi mãi bị chôn vùi. Ông ta vẫn nhơn nhơn nói về phép đối nhân xử thế của con người. Trong lúc không tỉnh táo ông ta vẫn chọn lựa việc nào nói được, việc nào không. Ai bảo ông ấy là vô đạo đức? Đạo đức có phải là một khái niệm tuyệt đối hay tương đối? Dưới bộ mặt thẫn thờ kia thì bên trong là quỷ dữ hay người lương thiện? Con cụ bị chôn vùi mấy chục năm mà ông ta không mảy may hối lỗi. Không! Có lẽ ông ấy chỉ tỏ ra đau khổ trên vẻ mặt thôi. Đang ở chiến trường đùng một cái được quay về địa phương sang Tây du học. Anh em ông ta sắp xếp một cách bài bản đường đi nước bước để dễ dàng qua mắt những người nhẹ dạ cả tin. Có điều ông ta ác quá, trải qua quãng thời gian dài đằng đẵng mà vẫn im lìm.

Cụ Lượng quay qua ông Húng:

– Ông nghe con tôi nói rồi chứ? Sự việc xảy ra có đúng thế không?

Ông Húng đờ người không nghe thấy gì. Các con mắt dồn cả vào hai người. Họ muốn chính miệng ông Húng thừa nhận việc này để định lại giá trị của anh em ông. Mọi điều ngâm ngợi về truyền thống dòng tộc, về đức hạnh được ông ấy sử dụng như một bài học luân lí cho con cháu họ Hoàng có phải là thật? Tại sao bài học đạo đức ấy lại được thốt ra từ miệng lưỡi của những người có tâm địa xấu xa. Truyền thống dòng tộc, giọt máu đào hỏi có ý nghĩa gì nữa?

– Ông Húng! Con tôi nói có đúng không?

Vẫn một không khí nặng nề đến nghẹt thở. Đầu ông Húng càng cúi thấp hơn. Hải vẫn gối đầu vào đùi mẹ. Ông Thống châm điếu thuốc ghé vào miệng Hải:

– Tôi nhớ ngày xưa chú có hút thuốc. Giờ anh em gặp nhau chú làm mấy hơi.

Tức thì Hải rít lấy rít để. Chỉ nhoáng cái điếu thuốc đã cháy đến đầu lọc. Giọng Hải tỉnh bơ:

– Chả biết thuốc gì. Ngày xưa không có.

– Ngon không chú?

– Khét lắm. Cái anh thuốc lào thơm hơn.

Nói hết câu Hải lại bật khóc:

– Trong rừng đói…rét….thèm mồi thuốc quê mình….mà….không …có…

– Thuốc ngoại đấy chú ạ. Thuốc lá của Mỹ đấy!

May từ ngoài nói chen vào. Lập tức Hải nhổ bọt phì phì, mặt đỏ lên tức giận:

– Sao lại hút thuốc của bọn xâm lược? Nó bắn giết bao nhiêu đồng bào ta. Ngu thế!

– Giờ khác rồi. Làm bạn với nhau rồi.

Hải giãy nảy:

– Không! Không bạn bè gì hết.

Bà cụ Lượng cúi xuống dỗ dành con trai:

– Thôi không nói chuyện đấy nữa. Kệ người ta. Con mau về với thày bu thôi. Bu chỉ mong như thế.

Hai mẹ con lại sụt sịt. Tiếng khóc không còn tức tưởi nhưng cụ ông lòng nóng như lửa đốt.

– Ông Húng! Tôi xin ông nói sự thật để con tôi được minh oan. Nó không thể là đứa phản bội. Cuộc đời ông được vinh hoa phú quý tôi mừng cho ông. Còn con tôi, nó không là anh hùng thì xin ông hãy cho nó chết như một người bình thường. Nó chết thế nào thì ông nói đúng như thế. Tôi không cần ông phải thêu dệt làm gì. Tôi van ông đấy. Tôi xin lấy vong hồn con tôi lạy sống ông….

Cụ Lượng lùi lại lấy một khoảng cách cần thiết chậm chạp quỳ xuống. Không ai can ngăn cụ, bởi họ đang muốn xem màn kịch diễn ra như thế nào? Việc này quan trọng lắm lắm !

Ông Húng ôm mặt, người ông rung lên từng chập. Chuyện dài lắm, mà ông biết mở lời thế nào bây giờ? Vỏ bọc vô hình bóp chặt cuộc đời ông đến nỗi mọi lời nói ra đều dối trá. Ai có thể bóc nó giúp ông được bây giờ?

– Anh Húng! Sao thày em nói anh không bắt lời? Anh em mình thống nhất rồi mà. Em không muốn “B” quay vì muốn được như anh Vấn. Anh trách em bao nhiêu lần anh không nhớ à? Anh Húng! Em không trách anh mà, anh Húng!

Không thể thốt lên lời làm người ông Húng như một quả bóng bay bơm đầy khí. Ông muốn bay vọt lên cao để tránh mọi con mắt đang dồn vào mình. Nhưng người ông nặng trĩu, đầu đau nhức như búa bổ. Ông cố ngồi cho vững, gắng nhoi tấm lưng gầy cho thẳng song khó quá. Một vật gì đang lao như tên bắn về phía ông. Búa? Bom? Hình như quả thép? Ông chưa thể phân định rõ ràng vật vô hình ấy thì nó đã đấm thẳng giữa mặt. Thân hình trắng toát đổ đánh “rầm” cạnh Hải. Ông Húng ôm chầm Hải nức nở:

– Em ơi!….

Gọi Hải hồi lâu song lời thú nhận vẫn không thể thốt ra. Mặt ông đỏ lựng như gà chọi. Công, May và nhất là Bằng Anh Bằng Em cùng thúc giục. Tiếng ồn làm máu dồn lên óc. Ông Húng cảm thấy tim mình đang bị bóp nghẹt. Phải vùng dậy không sẽ ngã gục.

Sau tiếng hét «

Hải ơi ! Anh xin lỗi » là hành động của người tâm thần không làm chủ được bản thân, ông nhỏm dậy chạy như bay ra ngõ. Bộ quần áo trắng toát dần được cởi bỏ vứt mỗi nơi một cái. Có tiếng người chạy theo ông:

– Anh Húng! Đừng chạy nữa! Ngã chết!

Tiếng kêu thất thanh, ông Húng vẫn một mạch hướng thẳng về phía bờ đê. Ông chạy trước, cái bóng lẽo đẽo theo sau. Bờ đê cỏ dày như thảm xanh mướt. Ngày nay trâu bò không nhiều nên cây cỏ thi nhau mọc tràn khắp nơi. Ông cảm nhận được sự mềm mại của cỏ đang bám nhẹ vào đôi chân trần. Tiếng gọi càng lúc càng sát như gió thổi qua tai.

– Anh Húng ơi ời….Anh đừng chạy nữa. Em không trách anh đâu.

Tiếng khóc bật lên khi ngực ông bị bóp nghẹt. Ông biết ai đang rót vào tai mình những âm thanh rất sâu ấy. Dường như không chịu được, ông thét lên:

– Hải ơi! Tha lỗi cho anh!

– Em không trách anh mà! Anh đừng chạy nữa. Anh cũng khổ suốt đời rồi. Anh ơi…..

Tai ông ù đi vì âm thanh lúc này trầm đục khác thường. Đúng là tiếng bom. Sao giữa thời bình nó lại dội bom xuống làng Đông Phong của ông? Lần này không phải Hải mà người ông dựng lên như cái lò xo bị kéo căng. Phải trú thôi! Chỗ kia có cái hố. Hải ơi! Xuống đây trú với anh!

Ông thét lên giữa cánh đồng xanh bát ngát. Đàn cò trắng phau phởn phơ rỉa lông đằng xa nghe tiếng thét giật mình bay vù lên khoảng trời xanh ngắt. Mây trắng từng quầng trên cao lững lờ trôi. Và gió, bên trái là sông, bên phải là cánh đồng lúa đang ngậm đòng nên gió mát và thơm ngây ngất. Kệ tất thảy những mắc mớ của người đời, thiên nhiên nơi đây vẫn mặc sức bay bổng và lãng mạn.

Ông Húng không hề cảm nhận được sự thanh khiết tuyệt đỉnh của bức tranh quê. Nếu có chút tỉnh táo ông đã nằm xuống bờ đê lăn qua lăn lại cho thoả thích rồi chạy như bay về nhà sà vào lòng cô vợ đang hồi xuân. Thiên nhiên chẳng phải là tột đỉnh của cái đẹp đó sao? Tai ông chỉ còn tiếng bom từng chùm, từng chùm nhằm thẳng đầu mình dội xuống. Khoảnh khắc giữa hoà bình và chiến tranh ông không thể phân biệt được. Ông phải nhảy xuống cái hố phía dưới.

Khi mọi người đi tìm thì ông Húng đã úp mặt xuống vũng nước im lìm. Lại tiếng la hét kinh hãi, lại những bước chân rầm rập. Làng Đông Phong lại những đêm không ngủ. Tiếng ai oán của người vợ như trút vào lòng mọi người nỗi hờn giận. Không thể an ủi người phụ nữ đã quá mệt mỏi vì ông chồng sống u mê giữa thời bình.

Họ Hoàng ai nấy oải ra vì sóng gió liên tiếp. Giờ là lúc cần một người dám đứng lên làm nhiệm vụ quy tụ các con dân họ Hoàng về một mối. Nhưng là ai bây giờ?

Một đêm tối trời người ta thấy một người lặng lẽ rời khỏi làng Đông Phong. Bước chân ông như lê trên con đường bê tông. Giờ này nhà nào cũng châu đầu vào mâm cơm thực hiện bổn phận của một sinh vật sống chứ nào vui thú gì. Nghe tiếng chó sủa, mọi người hơi nghểnh tai lên nghe ngóng nhưng cũng chẳng chịu chạy ra xem việc gì. Có lẽ người ta quá mệt mỏi, quá chán vì lắm chuyện. Quen quá hoá nhàm. Bao nhiêu người đỗ đạt của làng nhưng làm sao có thể kê chiếc thuyền Đông Phong trở lại cân bằng? Vì thế, cuộc ra đi của ông như đoàn tàu bí mật năm nào thầm lặng làm nhiệm vụ. Đời ông từng gặt hái vinh quang, được tung hô song tâm chưa bao giờ thôi trăn trở. Sự khao khát được cống hiến trước sứ mệnh đất nước là mục đích đúng đắn, nhưng không phải ông không lồng tham vọng cá nhân trong đó. Ông đã vạch đường đi nước bước cho bản thân và cho chính em trai ông, hoàn hảo đến mức không ai nghi ngờ. Địa vị, tiếng tăm, công danh….mà anh em ông gặt hái được cuối cùng chỉ là ảo tưởng, là danh hão. Lúc vong của Hải về bóc trần tất cả sự thật anh em ông vùi chặt trong lòng suốt bao năm. Người ông muốn khuỵu xuống khi mấy thằng thanh niên không ai bảo ai cùng đồng thanh hô: “Thần tượng đã sụp đổ!”. Biết trốn chạy chỗ nào để tránh những ánh mắt khinh bỉ của chính người cùng giọt máu đào với mình? Ông biết sự thật cần được phơi bày nhưng anh em ông không đủ dũng khí để mở lời. Có lẽ nỗi ân hận canh cánh trong lòng khiến em ông không thể thành người bình thường. Ông đã cảnh cáo bao nhiêu lần khiến em ông chỉ biết gục xuống khóc. Giờ đây thân già này đang nặng nề lê bước như một kẻ trốn chạy. Bao nhiêu lần không ngủ được vì vết thương hành hạ, ông ước quá khứ có thể quay trở lại. Những tưởng cuộc sống sẽ bình lặng và an nhiên khi trở về nơi ông sinh ra. Quê hương chẳng phải là nơi trú ngụ cuối cùng của con người sau khi chấm dứt cuộc hành trình dài đó sao? Sự lầm tưởng tai hại. Nếu ông không khước từ ngôi biệt thự năm nào và hưởng thú vui nhàn tản giữa anh em chiến hữu thì chắc chắn sự thể sẽ khác. Mỗi năm về làng vài lần tư thế của ông sẽ khác. Ông lại là người anh hùng một thời, lại là ông với những lời tung hô mãnh liệt của lớp trẻ. Không phải kế hoạch nào cũng thành công, nhất là ở nơi không cần kế hoạch là người dân quê ông. Anh hùng không phải miếng vàng lúc cần thì bẻ ra phân phát cho mỗi người một ít. Ông muốn hoà đồng song khoảng cách giữa người được xã hội ưu đãi và trọng dụng với người dân nơi ông sinh ra quá lớn. Họ nhìn khoản lương hưu của ông với đôi mắt thèm thuồng, họ nhìn em trai ông được học hành tử tế bằng đôi mắt ghen tị. Đôi lúc ông tự biện hộ rằng thời thế bắt buộc phải thế, ông bị cả guồng máy nó cuốn đi. Khi trở về nơi chôn rau cắt rốn bốn bề là nước, ông muốn làng Đông Phong sẽ bình yên. Ông không ngại ngần thay ông Tấn giải quyết việc họ, muốn ngàn người như một nhưng khó quá. Phải chăng ông đã đi vào ngõ cụt? Cái chết của em trai khiến ông bừng tỉnh. Người ta càng tin vào thế giới tâm linh khi vong hồn trở về nói ra nhiều điều chỉ được truyền tin từ người này sang người khác một cách bí mật. Lẽ nào anh em ông nỡ thế? Sự thật phơi bày và người ta cho cái chết của em trai ông là một sự trả giá. Tượng đài cũng có lúc sụp đổ, thần tượng cũng có lúc biến thành kẻ tội đồ. Không hiểu ông đã trở thành thần tượng như thế nào hay người ta tự dựng nên từ hình bóng của ông? Ngày ấy ông không tự vấn bản chất sâu xa của vấn đề mà tự thoả mãn với vinh quang được dựng nên một cách có chủ ý.

Khi những dằn vặt và cả sự bẽ bàng chất đầy trong lòng thì cách tốt nhất là ra đi, ông nghĩ vậy. Trong ngôi nhà gỗ lim duy nhất còn sót lại trong làng, những tưởng nơi đây có thể đem lại cho ông tháng ngày thanh thản. Ba giờ sáng ông trở dậy ra tràng kỉ ngồi im lìm. Bộ ấm chén khiến ông nhớ mấy hôm nay ông không uống một ngụm trà nào. Chỉ khi thấy trong lòng thư thái ông mới ngồi nhâm nhi tách trà. Hương vị đằm thắm của loại chè mộc thượng hạng man mác toả nhè nhẹ ngòn ngọt trong cổ họng. Bằng này tuổi sao ông phải đứng ra giải trình và hứa bảo lãnh cho những đứa cháu trong họ trộm trâu? Sao ông phải hoà giải mối bất đồng của họ Hoàng với các họ khác? Thằng Vớ có sai phạm gì người ta cũng gọi ông tới giải quyết? Tại sao ông phải quyết định chuyện con của cô Hãn mang họ nào? Nhà thờ họ nay xây nên mai đập đi mọi người cũng yêu cầu ông đứng ra? Và chuyện của chú Hải vỡ lở thì anh em ông phải gánh chịu tất cả. Ông muốn bằng cái tâm của mình che lấp đi sai lầm anh em ông gây ra. Nhưng tất cả đều đi theo một hệ quả tất yếu mà cả người thông minh hay ngu đần có tính toán cũng không được.

– Ông nghĩ gì mà thần người ra thế?

Tiếng bà vợ cất lên từ bóng tối khiến ông giật mình. Người ông bây giờ đến lạ, gặp chuyện gì bất ngờ lại giật mình thon thót.

– Tôi nghĩ kĩ rồi, có lẽ tôi phải đi xa một thời gian.

– Ông đi để tôi ở nhà một mình à? Họ Hoàng còn bao nhiêu chuyện chưa đâu vào đâu. Ông đi thế người ta bảo ông chạy trốn đấy.

– Thì đúng là tôi muốn thoát khỏi những chuyện không hay này mà.

– Không hay nhưng là chuyện của người nhà mình, họ mình, làng xóm mình.

– Tôi bây giờ còn giá trị gì đâu mà tham gia việc này việc nọ?

– Ông phải đối đầu và chấp nhận sự thật. Ông có chạy trốn được suốt đời không?

– Thì cứ biền biệt không bao giờ trở về đất này là được chứ gì?

– Tôi đố ông đấy.

– Tôi ngán lắm rồi. Chuyện gì người ta cũng vin vào tôi.

– Mình làm sai thì mình nhận lỗi.

– Ngần này tuổi rồi bà bắt tôi phải đi xin lỗi cả những đứa đáng tuổi con cháu mình à?

– Chứ sao! Ông tưởng đi được là thoát à? Tâm ông có thanh thản không? Mà ông cũng lạ, chuyện xấu không giấu được đâu.

– Tôi không hiểu thời nay thế nào nữa, người trần mắt thịt không tin lại đi tin lời nói nhăng cuội của những kẻ buôn thần bán thánh.

– Ông ơi! Khi người trần mắt thịt không bảo được nhau thì phải dựa vào thế giới tâm linh. Chuyện gì không giải quyết được thì người chết sẽ nói hộ, thần thánh sẽ nói hộ. Rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy thôi.

Mặc cho bà thuyết phục, ông vẫn muốn ra đi. Một lần nữa ông không ngờ bà vợ lạc hậu quê mùa của mình có lời lẽ thấu đáo và nghĩa tình đến thế. Càng sống ông càng ngộ ra nhiều điều. Khi ở trên đỉnh vinh quang người ta không biết ở phía dưới vẫn có thể ẩn giấu những kho báu. Chiếc ba lô vài chục năm nằm yên trong chiếc hòm cũ được lôi ra. Mắt ông mờ đi khi gặp lại hình ảnh thân thương của anh em đồng đội. Người nào cũng được phát một chiếc ba lô giống hệt nhau, đồ dùng giống nhau nên xảy ra nhầm lẫn là chuyện thường. Anh em hay chí choé, thậm chí đánh lộn vì đồ của mình không biết tại sao lại nằm ở ba lô người khác. Mỗi khi có người không trở về, chiếc ba lô nằm im lìm gieo vào lòng mọi người nỗi nhức nhối khôn nguôn. Anh em thường đem hoá rồi rắc tro xuống biển thầm mong người ra đi hãy nhận lại kỉ vật của mình. Ai cũng biết cái chết đến bất cứ khi nào nên không mảy may hi vọng kỉ vật sẽ được trở về với người thân. Tất cả tài sản người lính gửi vào chiếc ba lô nên ai cũng nâng niu và giữ gìn như giữ của quý. Chính ông đã ôm chiếc ba lô này khóc nức nở trong ngày toàn thắng.

Ông đút vội vài bộ quần áo vào ba lô rồi bước ra khỏi nhà. Bà vừa sang nhà con gái lấy chồng làng bên. Ngọn đèn dầu vẫn leo lét cháy trên ban thờ. Ông không dám thắp   cả nén hương cho em trai. Những gì đã trải qua trong thời gian qua, ông mong muốn có kiếp sau và có thế giới tâm linh. Có kiếp luân hồi người ta sẽ không dám lừa lọc, giả dối, đố kị và độc ác. Người đời sẽ không phải ân hận, phải “Giá…, Nếu…, Ước gì…..”. Những ngày qua ông nghiệm thấy con người mình cần phải thay đổi.

Bước chân ông nặng nề vì thất vọng và tuổi tác. Mãi rồi cũng đến chùa Tây. Ngôi chùa lọt thỏm trong những tán cây cổ thụ. Không ai nghĩ phải tôn tạo, nâng cấp chùa Tây vì từ xưa nó vốn đã nhỏ nhoi như thế. Phía bên kia nhà cô Hãn sáng rực ánh điện. Có tiếng thằng Vớ:

– Mình để tôi đỡ dậy ăn cơm chứ đừng tự tiện đi lại. Bác sĩ bảo đẻ non thì khổ.

Lòng ông chợt thấy ấm lại. Nếu không có gia đình thì một thằng cầu bơ cầu bất làm sao có lời nói ân cần như thế được. Từ ngày gắn bó với cô Hãn nó khôn ra nhiều. Trẻ con không bám lấy nó trêu chọc và gọi “thằng Vớ” nữa. Ông mừng vì Vớ đã bắt nhịp tương đối tốt với cuộc sống mới.

Nhìn cảnh làng xóm êm đềm chìm trong màn đêm, ông nghĩ không có mình người ta vẫn sống, có khi tốt hơn, bởi vì cuộc sống cứ trôi, bất chấp mọi biến cố.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết

 

 

Đúng như điều ông Vấn trăn trở, từ ngày rộ chuyện nhập vong người chết lên miệng người thân nói ra nhiều chuyện bị giấu kín lâu nay khiến quan hệ giữa người với người thay đổi hẳn. Mâu thuẫn trong họ mạc hoặc làng xóm không còn căng thẳng như trước. Người ta tin rằng có kiếp luân hồi, những gì mình làm ở kiếp này thì kiếp sau sẽ lặp lại như thế. Thực hư, hư thực đang tràn ngập lòng người. Hình như người làm điều không tốt có thuần hơn. Những lời dèm pha, cạnh khoé cũng vơi đi.

Họ Hoàng đang gấp rút chờ ngày khánh thành nhà thờ tổ. Cuối cùng thì một ngôi nhà gỗ cũng được dựng nên. Và điều đặc biệt hơn nữa, khi Tố thuyết phục hội đồng gia tộc xoay nhà thờ tổ thì ai cũng đồng tình. Chọn ngày lành tháng tốt, Tố mời một thầy địa lí giỏi đến trấn trạch và đặt móng nhà thờ. “Nhất vị, nhị hướng”, một dòng họ lớn đã không có được ngôi nhà ở vị trí tốt thì phải chọn hướng và xoay trở vị trí tốt để khắc phục, thầy phán như thế. Hướng Đông Nam, trước mặt là vườn cây xanh mướt và cái ao rộng nước trong vắt. Con dân họ Hoàng đồng tình cũng bởi thầy nói trong họ nhiều người đỗ đạt nhưng không làm quan to vì nhà thờ hút hết khí tụ của nhà trước mặt. Thằng Công chả khóc ti tỉ lúc nhập vong là gì. Cụ tiến sĩ Hoàng Sang và bao nhiêu vong hồn họ Hoàng vất vưởng ở ngoài làm ma đói ma khát. Ngày giỗ tổ lễ vật dâng đầy ban thờ nhưng có vong hồn nào được hưởng. Vậy ai dám bác lại lời thầy, kể cả ông Tấn?

Ngày xoay nhà thờ thực sự là ngày hội của người họ Hoàng. Không cần kêu gọi, người đi xa đổ về làng lũ lượt. Xe to xe nhỏ, ô tô xe máy nổ vang. Đường làng tắc nghẽn ngay từ chỗ ông Hình bị đánh bất đắc kì tử. Người họ Hoàng đi xa nhưng chuyện ở làng không ai bỏ sót một chi tiết. Ngay từ sáng một sư thầy đã ngồi tụng kinh gõ mõ, phía sau là đám con cháu họ Hoàng sì sụp quỳ lạy. Sư thầy đọc kinh với giọng trầm ấm trong bầu không khí trang nghiêm. Nét mặt ai cũng thành kính, kể cả đám thanh niên hay gây rối. Sự việc xảy ra bấy lâu đố ai dám nhạo báng thánh thần. Có một đấng linh thiêng từ trên cao nhìn thấu chúng sinh đấy. Thái độ của ai thế nào người trần mắt thịt còn nhầm chứ thánh thần nhầm sao được. Sau câu kinh dài sư thầy lên giọng:

– Vái ba vái…..

Tức thì cả đám đông quỳ mọp sát đất đều như được tập sẵn. Sân chật và bừa bộn gạch đá nên người nọ va người kia nhưng tuyệt nhiên không một tiếng cười. Sư thầy đọc xong câu kinh lại cao giọng:

– Vái năm vái….

Lại là những thân thể đổ rạp về đằng trước như người làm động tác hít đất. Vong hồn họ Hoàng thiêng lắm, trước đây mọi người không biết kêu cầu nên bị hãm và các giá trị đạo đức bị đảo lộn ai cũng nhìn rõ. Từ nay phải thay đổi! Người người, nhà nhà sẽ tốt lên, điều đó thể hiện rõ trong ánh mắt từng người. Khi sư thầy kết thúc việc khấn vái đứng dậy định thì mọi người vẫn im lìm như chìm đắm vào cõi hư vô. Lòng dạ mọi người trở nên nhẹ bẫng. Nhà Phật dạy ấy là lúc tư tưỏng tình cảm của con người trở nên sáng rỡ, nhân hậu và thánh thiện. Tố phải lên tiếng:

– Xin mời mọi người đứng dậy dồn về phía cuối sân để thầy làm lễ!

Lại là những thủ tục rườm rà được thực hiện trong không khí thành kính. Ngôi nhà cổ gỗ lim đen bóng che chở những sinh linh tội nghiệp đang run rẩy cầu mong điều tốt đẹp. Tuy ngôi nhà không bề thế như ý muốn nhưng cũng là nhất từ xưa tới nay. Chỗ mối mọt được che kín bằng câu đối và tất cả được lau dầu luyn bóng nhoáng. Người ngoài họ có thể bàn tán này nọ chứ họ Hoàng không mấy bận tâm. Ông Đinh họ Ngô nói cột kèo mục ruỗng thì trước sau cũng sập. Anh em thằng Bằng định tìm ông hỏi cho ra nhẽ song bị mọi người phản đối quyết liệt. Người họ Hoàng bây giờ thuần rồi, đánh nhau chỉ mang tội mang nợ. Bố nó còn nằm chình ình ra đấy, giời vật không biết sợ hay sao? Mục được cũng còn khướt. Bố con ông Tấn hỏi còn bệnh gì không mắc mà vẫn vắt vẻo từ thế kỉ này sang thế kỉ khác một cách ngon ơ đấy thôi. Đừng lí giải mọi sự rành rẽ quá, nó tồn tại thế nào thì cứ để như thế. Mà nói cho cùng, nếu đổ cái này ta lại dựng cái khác, to hơn, đẹp hơn và chắc chắn sẽ vững chắc hơn. Vậy thì sự sụp đổ chưa chắc đã là cái gì đó mang lại điều khủng khiếp.

Không còn người đứng ra cầm cương mọi việc, chuyện xảy ra hàng ngày dẫn đến suy nghĩ của người họ Hoàng trở nên ba phải như thế. Mới mấy hôm trước chuyện xoay nhà thờ còn bị phản đối thậm tệ. Tố là người đưa ra nên tất nhiên bị mọi lời công kích dồn tới. Bà Hiến vung vẩy đôi tay khẳng khiu:

– Nó cậy có tiền muốn làm gì thì làm à? Các cụ ngày xưa có đần dại đâu mà không xem hướng?

Ông Trọng đế theo:

– Họ Hoàng ta từ ngàn đời nay trọng cái chữ cái nghĩa chứ đâu có để ý đến tiền tài địa vị. Người có học hiểu sự đời và biết hưởng cái thú chơi sang của người có học còn hơn ba vạn chín nghìn thằng trọc phú. Tiền đã là cái gì.

Không ít người bưng miệng cười vì cách ví von của ông Trọng. Người ta không so sánh người có học với thằng trọc phú bằng thành ngữ “ba vạn chín nghìn”.

– Nó nấy đâu ra bằng chứng mà  ní nuận rằng nhà thờ tổ không hợp hướng? Nó biết người nàm nhà ngày xưa tuổi gì không? Chi dưới cứ đòi ngoi cao. Chỉ giỏi ní nuận. Ní nuận cái n… bà đây này. Xoay nhà mà dễ à?

Bà Thống có tiếng là chua ngoa nhảy chồm chồm như con loi choi giữa đám đông. Bà không ngượng ngùng đưa tay vỗ bồm bộp vào chỗ bà vừa văng tục. Cũng may Tố không có mặt để khỏi phải hứng từng ấy thứ bẩn thỉu vào người. Người ta phản đối chung quy cũng bởi sợ động. Con cháu dám quay ngược lại truyền thống tổ tiên hử? Rồi có đứa bị đào mồ cuốc mả cho mà xem.

Khi Tố đưa thầy địa lí và một xe ô tô chở đồ nội thất về cho hoàn chỉnh nhà tổ thì người họ Hoàng lại im re. Người ta chỉ mạnh mồm trong khuôn viên người nhà, có người lạ đố dám. Từng đôi câu đối sơn son thiếp vàng lấp lánh, bát hương ngai thờ vàng choé xếp tạm chỗ gốc vải đủ nói lên sức mạnh của đồng tiền. Người khinh cũng như người coi trọng đồng tiền đều im re lặng lẽ thưởng thức sự tinh tế và giàu sang phú quý thể hiện trong mỗi vật dụng Tố dâng tặng. Ông Trọng, bà Thống, bà Hiến và những người tham gia trong vụ “ba vạn chín nghìn” lấm lét nhìn đống đồ rồi lại liếc trộm Tố. Hình như họ sợ lỡ lời một chút là Tố sẽ đem hết chúng đi. Nhà thờ lại trống hơ trống hoác, lại phô bày sự nghèo nàn chứ chẳng chơi. Con cháu có lòng thật nhưng ai đủ khả năng làm một việc như thế?

Tố chỉ đạo mọi việc đâu ra đấy. Khi mọi thủ tục tế lễ của sư thầy và thầy địa lí xong xuôi, Tố cúi lạy tổ tiên một hồi dài. Không ai đếm bao nhiêu cái nhưng mọi người bắt đầu nản mới thôi. Người ta nghĩ Tố cúi lạy nhiều thì lòng thành của Tố càng được tổ tiên nhìn nhận. Công lẩm bẩm:

– Sốt cả ruột! Không biết học ở đâu thứ rởm đời.

May huých nhẹ:

– Kệ nó! Sự thành tâm không bao giờ thừa.

Tố phủ phục dưới đất hồi lâu mới ngẩng đầu, hai tay xoa vào nhau cao giọng:

– Thưa bà con gia tộc họ Hoàng! Hôm nay ngày lành tháng tốt, vào giờ thanh long   hoàng đạo, họ nhà ta xin phép tổ tiên xoay nhà thờ tổ cho hợp hướng để các vong linh họ Hoàng được bình an cực lạc nơi chín suối, để con cháu họ Hoàng được hưởng phúc lộc tổ tiên. Mọi việc đã có thần thánh đưa đường chỉ lối. Những người được phân công bắt đầu làm việc. Ai già cả đau yếu xin mời ra ngoài.

Ông Tấn vắt cái khăn màu cháo lòng đứng chếch về phía góc ao. Nhà ông giờ để người ta muốn xoay thế nào thì xoay, ông chỉ biết đứng nhìn. Người như ông bây giờ còn làm được gì, nhất là việc đào đất vá giời như thế.

Thanh niên trai tráng họ Hoàng tề tựu đông đủ phải nói là hùng mạnh. Dễ đến trăm người chứ chả chơi. Ngày thường ai nấy mải đi xa làm ăn, làng trở nên vắng vẻ, người ta không nghĩ thanh niên nhiều đến thế. Nhát mai đầu tiên chạm đất, người thực hiện không ai khác là Tố. Thầy chọn người động nhát mai đầu tiên kĩ lắm, phải hội tụ đầy đủ các yếu tố như tuổi, tâm, tình, tiền, tướng….. Mọi người đứng lặng chờ thầy ra lệnh. Tố cầm chắc chiếc mai trong đôi tay lực lưỡng, mắt căng ra chằm chằm nhìn vào chỗ mình sẽ bập nhát mai đầu tiên.

– Bắt đầu!

Giọng thầy sang sảng ra lệnh, Tố đưa hai tay nâng mạnh cái mai cao quá đầu. Trong đầu Tố đột nhiên như có mũi tên xuyên thẳng khiến mắt mũi tối sầm. Cơn đau lập tức toả khắp người. Tố muốn đổ sụp xuống nhưng không kịp. Hai tay bỗng thõng ra làm chiếc mai rơi đánh phập xuống dưới. Không ai tưởng tượng được sự việc xảy ra nhanh đến thế. Bằng Em cầm cây pháo dài chờ nhát mai đầu tiên bổ xuống sẽ cho nổ tung chưa kịp hành động thì mọi người đã hét lên kinh hãi. Chân phải Tố văng ra đến nửa mét vì lưỡi mai đâm sập vào. Máu! Máu từ chân Tố túa ra như suối. Tố ngã đánh “rầm” về phía trước, trán đập đánh “cốp” vào cán mai. Không thể tả được âm thanh hỗn loạn khi thấy cảnh tượng hãi hùng như vậy. Tố nằm trên vũng máu phải đến mấy phút mọi người mới nghe ông Tấn hét:

– Còn đứng ì ra đấy hả? Mau đưa nó lên bệnh viện.

Những người bạo dạn đổ xô vào. Ai đó rút chiếc khăn bịt mặt buộc chặt đầu chân bị đứt rồi bế thốc Tố lên. Tiếng chạy rầm rập nhốn nháo không thể tả. Người chưa kịp thoát khỏi ngõ lại nghe đánh “uỵch”. Công nằm thẳng cẳng ngay lối đi, mắt nhắm nghiền. Lại những cái lay gọi. Nhưng Công không nói gì, tay chân khua loạng quạng như tìm kiếm ai. Bất chợt nó há miệng quát lớn:

– Cho chết! Cho chết!…

Thì ra vong nhập. Bà Thống cúi xuống:

– Cụ là ai hở cụ?

Không thèm trả lời, Công vẫn nằm thẳng cẳng. Những người còn lại xúm lại.

– Dỗ phải khéo vong mới trả lời chứ hỏi như quát thế bố vong nào nghe.

– Chuyện! Chiều như chiều vong mà lại.

Cái Nhàn con bà Thống thích Công thấy vậy sán lại. Đôi tay xoa nhè nhẹ mặt Công dỗ dành:

–  Cụ ơi! Cụ về thì xưng danh để bề dưới chúng cháu biết mà gọi chứ. Cụ nói cho cháu nghe đi! Cụ…cụ là ai.

Giọng nói ngọt xớt như mía lùi khiến vong cũng phải mềm lòng:

– Hoàng Sang!

Thì ra cụ tiến sĩ.

– Cụ có gì dạy bảo con cháu không ạ?

Mặt cụ tiến sĩ nhăn lại:

– Không thì về làm gì?

Ông Thìn ngồi xuống nắm tay cụ thân ái:

– Chúng cháu làm nhà thờ đẹp để vong linh họ Hoàng mát mẻ. Cụ có đồng ý không ạ?

Tức thì cụ tiến sĩ lắc đầu quầy quậy:

– Ngu mới làm thế!

– Chúng cháu xem kĩ rồi. Hướng Đông Nam mát về mùa Hè, ấm về mùa Đông cụ ạ.

– Sát khí! Chết cả nút!

– Đằng trước có nhà vệ sinh cụ ạ.

– Xa thế có làm sao. Nhà đằng trước nó che chở cho cả họ, không còn chết nữa.

– Thế có xoay nữa không cụ?

– Ngu mới xoay.

– Không xoay nữa cụ nhá.

– Nói rồi! Ngu quá! Phạt!

Cụ tiến sĩ quát lớn khiến nhiều người nổi gai ốc. Ai nấy phân vân không biết nên theo Tố lên bệnh viện hay ở lại xem cụ Hoàng Sang chỉ bảo. Đột nhiên Công ngồi bật dậy, mắt ngơ ngác nhìn xung quanh. Cái Nhàn tay vẫn nắm chặt Công hỏi:

– Anh vừa làm sao đấy?

– Bình thường chứ có sao đâu !

– Anh có nhớ gì không?

– Có gì mà nhớ.

Đúng là cụ Hoàng Sang về báo mộng. Chờ Công tỉnh táo hẳn mọi người tất tả chạy ra đường cái. Lúc này xe bắt đầu lăn bánh đưa Tố lên bệnh viện. Cái chân bị đứt được gói trong miếng khăn máu thấm đỏ sẫm đặt cạnh Tố. Chỉ ít người được lên xe còn một đoàn rồng rắn theo sau. Vì đường quá đông nên xe nhích từng tí một. Người ta liên tưởng đến đám tang đang trên đường ra nghĩa địa.

Phía cuối làng trong nhà Hãn mọi việc cũng rối tung. Vớ chạy như con thoi nghe Hãn sai bảo. Bụng Hãn tưởng sắp nở tung như hoa chuối. Từ sáng chị đã thấy khó chịu nên bảo Vớ không được đi đâu. Đường làng đầy người khiến Vớ đứng ngồi không yên. Vớ muốn tham gia việc xoay nhà thờ tổ. Người họ Hoàng giờ không lạnh nhạt hoặc tỏ ý khinh bỉ Vớ như trước. Họ biết Vớ không thèm bát cơm thừa khi đói lòng nữa. Chẳng gì nhà Hãn cũng đầy đủ tiện nghi nhất làng. Làm quen với sự sung sướng chả khó gì. Ai chả muốn khi nóng có quạt mát, khi rét có máy sưởi, chỉ cần một nút bấm là nhu cầu được đáp ứng. Hỏi có gì sướng hơn ?  Hơn nhau cái áo cái quần, giờ Vớ đã biết mặc quần áo có li, khi cần còn đi cả giày Tây. Vì thế Vớ muốn đàng hoàng là một người họ Hoàng, nghĩa là có đóng góp sức người sức của vào việc xây dựng nhà thờ họ.

Khi nhát mai bắt đầu bổ xuống, tiếng nhốn nháo ồn lên từ đầu làng dội xuống cũng là lúc nước ối từ bụng Hãn tuôn ra. Không hiểu nước ở đâu nhiều thế?

– Mình ơi! Đem cho tôi cái quần. Sao đi giải mãi không hết thế này?

Vớ tần ngần nhìn cái bụng cơi lên ngạc nhiên:

– Mình cẩn thận không vỡ đấy. Tôi thấy to lắm rồi.

– Làm sao bây giờ. Hay là sắp rồi?

– Không biết!

– Mình chạy đi gọi bà Hoa đi.

– Nhưng nhỡ mình ở nhà có chuyện thì sao?

– Mình ở nhà không giúp gì được tôi cả. Đi mau đi!

– Để tôi bế mình vào giường.

– Không! Mình đi hỏi bà trước đã.

Vớ chạy ra ngoài. Một mình Hãn loay hoay trong nhà vệ sinh. Bụng quặn lên từng đợt làm chị suýt ngã nhào vào chiếc bồn cầu. Chị cố bám vào cây gậy phơi lần ra ngoài. Nước vẫn nhỏ xuống dưới. Chị bò ra chỗ điện thoại tìm số gọi cho cậu mợ. Khi đầu kia cầm máy cũng là lúc cơn đau quật chị ngã nhào xuống đất. Tiếng ông cậu oang oang trong máy rơi vào thinh không.

Vớ chạy như tên bắn vào nhà. Lúc này Hãn đã bò được vào giường. Hết cơn đau chị nằm im nhắm mắt muốn ngủ một chút.

– Mình ơi! Nhà thờ tổ co…có… chuyện rồi. Tố bị…bị…. tai nạn.

– Mình gọi bà Hoa chưa?

– Tố…Tố bị phạt! Cụ tổ…tổ… phạt

– Kệ nó! Đi tìm bà Hoa mau.

– Tố bị…bị… cắt chân rồi. Máu….máu nhiều….nhiều… lắm

– Nhưng tôi bảo mình đi tìm bà Hoa cơ mà.

– Tôi chạy đến đầu làng thì gặp người ta đưa Tố ra xe. Máu…máu nhiều…nhiều lắm….lắm…

Cứ gặp chuyện đáng sợ là Vớ không làm chủ được bản thân. Nó cứ miên man theo sự việc đó.

– Vớ!

– Cái chân…to…to…lắm. Đầy…đầy…máu….

– Tôi bảo đi tìm bà Hoa cơ mà. Đau quá…Mẹ ơi….mẹ ơi….Cứu con….

– Tôi chạy thẳng vào nhà… nhà…anh Tải. Bàn thờ đầy ma. Con ma lè lưỡi cầm dao muốn đâm tôi. Tôi phải cho chúng nó biết. Tôi lao vào nó nhưng không trúng. Nó biến lên trên. Tôi cầm ghế giáng thẳng vào đầu. Mấy cái bát hương vỡ tan…

– Trời ơi! Mình làm sao thế?

– Anh Tải bảo giả đất tôi.

– Không cần! Tôi sắp chết rồi.

– Anh Tải bảo tại anh ấy cướp đất nên thằng con giai bị tai nạn chết tươi. Anh ấy không cần nhiều đất nữa. Đất của tôi không giống…giống cái váy…váy… đụp nữa.

– Cần đất làm gì. Đi gọi mọi người mau.

– Ông Hình bảo có đất…đất… không biết…biết… giữ là ngu. Giờ không cần đòi cũng có người trả. Hơ hơ….Ông Hình ngu…ngu… thì có.

– Đúng là đồ ngu!

– Đi cướp của người khác chết cũng không oan.

– Tôi không cướp cũng sắp chết rồi. Sao ngu thế!

– Nhưng hôm…hôm nào tôi cũng…cũng phải tính sổ với anh Vẹm. Phía ấy….Anh ấy…có…mỗi…mỗi thằng Tâm. Không giả đất…thằng…Tâm…cũng…chết.

Hãn vùng lên quật mạnh vào tay Vớ. Lúc ấy Vớ mới nhìn Hãn. Mắt Vớ sững lại phía dưới.

– Máu….sao nhiều máu..máu..thế…thế?

– Nhanh lên! Không tôi…tôi…chết bây giờ

– Máu…ở..ở…đâu…đâu…thế…

– Nhanh lên….Gọi ai cũng được…

Vớ bừng tỉnh. Lập tức thân hình đồ sộ lao thẳng ra đường. Vừa chạy Vớ vừa hét vang làng.

– Cứu! Cứu! Ới ông ơi…., ới bà ơi….

Đoàn người tụ tập trên đường nhìn Vớ. Đến gần, đám đông phải dạt ra nếu không Vớ sẽ đầm sầm vào. Vớ cầm tay từng người cầu cứu:

– Bà ơi! Ông ơi! Cứu…cứu…nhiều máu…máu….lắm….

–  Cứu ai?

Mọi người xúm vào hỏi. Lập tức đoàn người lại chuyển hướng về cuối làng. Nhà Hãn cổng mở toang. Thực ra cùng làng nhưng có người chưa từng bước chân vào. Hãn nằm thoi thóp dưới nền gạch hoa. Một vũng máu xung quanh. Lần thứ hai trong ngày mọi người nhìn thấy máu người nhiều thế.

Thật may Hãn không chịu số phận như mẹ chị mấy chục năm trước. Phương tiện thời nay thuận lợi nên chị được nhanh chóng đưa đến bệnh viện. Trước tai hoạ, người ta không phân biệt nhân thân của từng người. Khi ca mổ thành công, bé trai vừa ra khỏi bụng mẹ đã khóc váng cả một góc bệnh viện. Một cú điện thoại từ làng Đông Phong báo tin ông Hình đã về thế giới bên kia. Có thể thằng bé khóc to như để vĩnh biệt ông nó. Đó là sợi dây vô hình khó giải thích.

Làng Đông Phong như con thuyền nghiêng nằm chơi vơi giữa bốn bề là nước. Mỗi con dân đang nghĩ chuyện làm thế nào để làng tránh khỏi tai ương? Làm thế nào để các dòng họ đoàn kết muôn người như một? Làm thế nào để trai gái trong làng có thể kết thân với nhau…. và làm thế nào người ta sống bằng chính những điều tốt đẹp làm nên bản chất người thôn quê? Làm thế nào bây giờ? Đình chùa có cân bằng phong thuỷ được hay không? Một thủ lĩnh có thể đứng ra giải quyết các mối bất hoà hay không? Hay bão gió qua đi vạn vật sẽ yên bình mà không cần sự tác động của con người?

Nhà thờ họ Hoàng còn ngổn ngang những điều huyền bí, người họ Hoàng còn đầy mâu thuẫn, có lẽ phải chờ thời gian….

                                          D.T.N                                          
Hết

Bài viết khác

violin amazon amazon greens powder